PHẦN I: ĐỨC GIÊSU CÔNG BỐ NƯỚC TRỜI VÀ CHUẨN BỊ GIÁO HỘI

Chúa Giải Tin Mừng Matthêu

Lm Carôlô Hồ Bạc Xái

PHẦN I: ĐỨC GIÊSU CÔNG BỐ NƯỚC TRỜI VÀ CHUẨN BỊ GIÁO HỘI (Chương 3-16)

(Bài 5 -8)

PHẦN CHUYỂN TIẾP: Chương 3-4

Tổng quan

1/ Trong Tiền Ngôn (chương 1-2), Mt đã giới thiệu Đức Giêsu là ai: Ngài chính là Đấng Messia.

 Sang phần chuyển tiếp này (chương 3-4), Mt sẽ trình bày quan niệm Messia (messianisme) của Đức Giêsu như thế nào.

2/ Trong phần này, Mt sẽ cho chúng ta thấy 3 khuôn mặt đại diện cho 3 thứ quan niệm Messia:

– Gioan Tẩy Giả với quan niệm Đấng Messia là một Quan Tòa của thời cánh chung.

– Satan với quan niệm Messia thế tục: đem lại cơm bánh, giàu sang, danh vọng.

– Và Đức Giêsu: Ngài chống lại quan niệm Messia thế tục của Satan. Điều chỉnh lại quan niệm Messia quan tòa của Gioan Tẩy Giả, và xác định quan niệm Messia của Ngài: Ngài sẽ là Messia Tôi tớ đau khổ.

3/ Sau khi đã xác định xong quan niệm Messia cho mình, Đức Giêsu khởi sự một vài bước đầu của sứ mạng trở về Galilê, kêu gọi vài môn đệ đầu tiên, giảng dạy và chữa bệnh. Kết quả là dân chúng tuôn đến.

4/ Chúng ta sẽ nghiên cứu phần chuyển tiếp này trong 4 bài:

– Bài 5: Giới thiệu Gioan Tẩy Giả (3,1-12).

– Bài 6: Đức Giêsu xin lãnh phép rửa của Gioan (3,13-17). Đây là dịp để Đức Giêsu điều chỉnh quan niệm Messia của Gioan.

– Bài 7: Đức Giêsu chịu Satan cám dỗ (4,1-11). Đây là dịp Đức Giêsu bác bỏ quan niệm Messia của Satan.

– Bài 8: Những bước đầu sứ mạng của Đức Giêsu.

 

BÀI 5: GIOAN TẨY GIẢ (3,1-12)

1Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: 2"Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." 3Ông chính là người đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

4Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. 5Bấy giờ, người ta từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan, kéo đến với ông. 6Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. 7Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? 8Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. 9Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: "Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham." Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. 10Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. 11Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. 12Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi."

 ------------------

1. Giải thích từ ngữ

– c.1 “Miền hoang địa Giuđê”: Miền này nằm giữa một bên là rặng núi chạy dài từ Giêrusalem đến Hêbron và bên kia là Biển Chết. Nhưng chúng ta nên nhớ là Mt gán một ý nghĩa thần học cho các địa danh (xem lại bài 3: khoa địa lý của Mt). Cần lưu ý rằng hoạt động của Đức Giêsu hầu hết diễn ra ở Galilê; còn việc Đức Giêsu gặp gỡ với Gioan và Satan (để xác định quan niệm Messia của Ngài) thì diễn ra ở miền hoang địa Giuđê này. Nhiều câu Cựu Ước cho thấy hoang địa là nơi con người sống thân mật với Thiên Chúa, được Thiên Chúa tỏ lòng ưu ái (Đnl 2,7; 8,2-5; Gr 2,2t; Hs 2,16). Vậy đối với Gioan, ông hoạt động trong hoang địa vì ông thích “lý tưởng sa mạc” của các ngôn sứ; còn đối với Đức Giêsu, Ngài vào hoang địa cũng như để “tĩnh tâm” tìm xác định cho mình một quan niệm Messia, sau khi xác đinh xong thì “trở về Galilê” (4.12) để bắt đầu hoạt động.

– c.2 Tóm gọn nội dung lời Gioan rao giảng, giống từng tiếng với lời Đức Giêsu sẽ rao giảng (4,17) “Hãy ăn năn trở lại, vì triều đại Nước Trời đã đến”.

– Điều kiện để được vào Nước Trời là “ăn năn trở lại”. Nguyên ngữ của thuật này, metanoia, có ý nghĩa rất phong phú, nó chỉ một sự thay đổi hoàn toàn gồm hai mặt: mặt tiêu cực là từ bỏ con đường xấu xa tội lỗi cũ; mặt tích cực là hướng trọn về Thiên Chúa.

– c.3 Mt trích dẫn Is 40,3. Nên lưu ý rằng Mt đã sửa đổi đôi chút để nói lên ý tưởng của mình.

* Nguyên bản hy bá lai: “có tiếng hô trong sa mạc hãy bạt lối Giavê, trong chốn hoang giao hãy san bằng ngự lộ cho Thiên Chúa ta”. Is40,3 (Sách an ủi) tiên báo về ngày dân Israel thoát cảnh lưu đày: khi đó có một tiếng hô (của ai đó mà Is không xác định) hãy dọn thẳng con đường trong sa mạc để Thiên Chúa sẽ dắt Israel qua đó mà trở về quê hương như một cuộc xuất hành mới.

* Mt trích theo bản LXX đã có sửa đổi: Giavê và Thiên Chúa đã được sửa lại thành Chúa và Ngài. Ý của Mt: người hô là Gioan, người sẽ đi trên đường định sẵn là Đức Giêsu. Nghĩa là: Gioan là Vị Tiền Hô của Đức Giêsu.

– c.4 * Lối ăn mặc của Gioan là lối ăn mặc cổ điển của các ngôn sứ (Dcr 13,4) và nhất là ngôn sứ Êlia (2V 1,8)

* Theo 2V hai thì ngôn sứ Êlia đã được đưa lên trời, và sẽ trở lại để dọn đường cho Ngày cánh chung.

* Vậy với chi tiết ăn mặc này một lần nữa Mt cố ý giới thiệu Gioan như vị tiền hô của Đức Giêsu.

– c.7 *”Biệt phái và Xađốc”: Hai nhóm này nghịch nhau và không chịu đi chung với nhau. Nhưng đây Mt ghép chung họ lại, thì rõ là Mt không nhằm tường thuật chính xác, chỉ cần làm nổi rõ ý tưởng của mình là: Gioan nói với các thủ lãnh tôn giáo.

* “Cơn lôi đình sắp tới”: Gioan loan báo Đấng Messia sắp tới những dùng thuật ngữ “cơn lôi đình”. Điều này cho thấy quan niệm của Gioan về Đấng Messia, Ngài là Messia Thẩm phán. C.10 sau đó còn cho thấy rõ hơn nữa quan niệm về Messia thẩm phán của Gioan (Lưỡi rìu kê sẵn gốc cây để chặt cây nào không sinh trái tốt mà quăng vào lửa).

– c.9 *Đừng tự phụ chúng tôi có tổ phụ là Abraham”. Người do thái có câu ngạn ngữ: “Mọi người Israel đều có phần trong thời tương lai”. Câu ngạn ngữ này ảnh hưởng niềm tự phụ của họ cho rằng vì có lý lịch mang gốc lớn là Abraham nên đương nhiên họ sẽ được Thiên Chúa cứu rỗi.

* Gioan phản đối và cho thấy tính tự do của Thiên Chúa: Thiên Chúa có thể từ bỏ con cháu Abraham bằng huyết thống, để ban ơn cứu rỗi cho một hàng con cháu mới của Abraham gồm những người biết biểu lộ lòng thống hối ăn năn một cách cụ thể bằng những việc làm (hoa trái tốt).

– c.11-12 Gioan giới thiệu Đấng Messia theo quan niệm của ông. Đúng là một Messia Thẩm phán cánh chung: thanh tẩy bằng lửa (lửa là phương tiện để thử: Lửa thử vàng), và cầm quạt để tách lúa ra khỏi trấu, lúa thì cất vào kho, còn trấu thì cho vào lò lửa không bao giờ tắt!


2. Ý nghĩa đoạn văn

Qua đoạn văn này Mt giới thiệu Gioan Tẩy Giả:

* Gioan là Vị Tiền hô của Đức Giêsu (chi tiết “tiếng kêu trong sa mạc” và lối ăn mặc như Êlia)

* Gioan rao giảng một nội dung y như Đức Giêsu.

* Chỉ có điều là quan niệm của Gioan về Đấng Messia cần phải được Đức Giêsu sau này điều chỉnh lại. Theo Gioan, Đấng Messia sắp đến là một Messia Thẩm phán cánh chung (chi tiết “lửa” và “sàng sẩy”, “lưỡi rìu”…).

 


BÀI 6: ĐỨC GIÊSU VÀ GIOAN TẨY GIẢ (3,13-17)

13Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. 14Nhưng ông một mực can Người và nói: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi! " 15Nhưng Đức Giê-su trả lời: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính." Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người.

16Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. 17Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người."

 ------------------

1. Giải thích từ ngữ

c.13 Đức Giêsu xin Gioan thanh tẩy: Phép thanh tẩy của Gioan nhằm biểu lộ lòng sám hối tội lỗi. Đức Giêsu xin thanh tẩy nghĩa là Ngài tự liệt mình vào hàng tội lỗi. Đây là chi tiết đầu tiên của bản văn này cho ta thấy quan niệm Messia của Đức Giêsu: Người Tôi Tớ mang tội của loài người.

c.14 Gioan cản: Lý do thứ nhất Gioan không chịu thanh tẩy cho Đức Giêsu là vì ông cho rằng ông kém hơn Ngài (xem c.11 “Ngài mạnh thế hơn tôi”). Lý do thứ hai, Gioan đã quan niệm Messia là Thẩm phán xét xử tội lỗi người ta chứ không phải ở chung với hàng tội nhân như vậy.

c.15 Câu Đức Giêsu trả lời Gioan “Cần phải làm trọn lẽ công bình” có nhiều ý nghĩa:

* Công bình: hay “công chính” (justice) là triệt để theo ý Thiên Chúa (xem 5,6; 10,20; 6,1.33; 21,32).

* Cả Gioan lẫn Đức Giêsu đều phải tuân theo ý Thiên Chúa. Mà ý Thiên Chúa là Đức Giêsu phải trở thành tội nhân.

* Với việc chịu thanh tẩy này, Đức Giêsu cũng muốn chỉnh lại quan niệm công chính cũ của người do thái vốn mơ tới một Messia khải hoàn, bằng cách thay vào đó một sự công chính mới: Messia liên đới với tội nhân để cứu rỗi họ.

c.16 *Các tầng trời mở ra”: biểu tượng mặc khải của Thiên Chúa.

 * “Bồ câu” gợi lại hình ảnh trong St 1,2: Thánh Linh bay là là trên mặt nước mang trong cuộc tạo dựng. Với hình ảnh bồ câu này Mt cho thấy Đức Giêsu khai mở một cuộc tạo dựng mới.

c.17 Những tước hiệu mà tiếng từ trời gọi Đức Giêsu là lời xác nhận của Chúa Cha về quan niệm Messia của Đức Giêsu.

* “Con dấu ái”: Isaac cũng được gọi là “Con dấu ái” như thế (St 22,2.12.16). Nhưng Isaac bị Abraham đem đi làm lễ tế.

* “Kẻ Ta sủng ái”: Đây là tước hiệu mà Is 42,1 gọi Người Tôi Tớ đau khổ.


2. Ý nghĩa

Đoạn văn này có rất nhiều chi tiết chứng tỏ Đức Giêsu đã chọn quan niệm Messia Tôi Tớ đau khổ:

– Xin lãnh phép Thanh Tẩy của tội nhân.

– Coi việc này là Sự Công chính mới.

– Tước hiệu “Con dấu ái”.

– Tước hiệu “Kẻ Ta sủng ái”.

Quan niệm này đối với Gioan thật bất ngờ cho nên lúc đầu Gioan chống lại, nhưng sau cũng phải nhận.

Quan niệm này đã được Chúa Cha công nhận.

 

BÀI 7: ĐỨC GIÊSU THẮNG CÁM DỖ CỦA SATAN (4,1-11)

1Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. 2Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. 3Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi! " 4Nhưng Người đáp: "Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra."

5Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6rồi nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá."

7Đức Giê-su đáp: "Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi."

8Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9và bảo rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi." 10Đức Giê-su liền nói: "Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi."

11Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người.

 ------------------

1. Văn thể

Có nhiều chi tiết cho thấy đoạn văn này không thật: Đối thoại với Satan, đưa lên nóc Đền Thờ, đưa lên ngọn núi từ đó có thể thấy “tất cả các nước trên thế gian”, và đặc biệt là nhiều câu trích từ bài diễn từ thứ hai của Môsê nói với dân trong sách Đệ Nhị Luật.

Do đó các nhà chuyên môn cho rằng Mt đã dựa vào một sự kiện có thật là Đức Giêsu có bị cám dỗ, nhưng Mt trình bày những ý tưởng thần học của sự kiện ấy chứ không phải diễn tả đúng y sự kiện ấy. Để trình bày ý tưởng thần học, Mt đã cấu trúc bản văn của mình theo 3 cơn cám dỗ của Israel trong thời còn ở sa mạc.

– Sau khi được ăn manna một thời gian, Israel đã đòi ăn thịt (Ds 11,4-34)

– Môsê đập tảng đá hai lần (Ds 20,1-13)

– Câu chuyện con bê vàng (Xh 32,1-8).

Mt muốn chứng minh rằng Đức Giêsu là Israel mới, cũng chịu lại 3 cơn cám dỗ ấy, nhưng đã chiến thắng.

Ngoài chi tiết bị cám dỗ này, Mt còn cho thấy Đức Giêsu là Israel mới qua các chi tiết khác nữa, như: tạm trú bên Ai Cập (2,13-15), qua sông Giođan (3,13-17 so sánh với Jos 3)


2. Giải thích từ ngữ

c.1 Thánh Linh: Có sự liên hệ rõ rệt giữa việc Đức Giêsu chịu thanh tẩy và việc Ngài chịu cám dỗ, đó là cũng Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài ở sông Giođan nay lại dẫn Ngài vào sa mạc để chịu cám dỗ.

 Ma quỉ cám dỗ: Cựu Ước cho rằng cám dỗ là do từ Thiên Chúa. Câu chuyện này muốn sửa sai quan niệm đó: cám dỗ là từ ma quỷ.

c.2 40 đêm ngày: con số 40 có một ý nghĩa tượng trưng, chỉ một thời gian khá dài (x. St 7,4; Xh 24,18). Ở đây còn có ý nghĩa gợi lại thời gian 40 năm Israel ở sa mạc.

cc 3-10 nói về ba cơn cám dỗ. Ta sẽ giải thích trong phần nói riêng về từng cơn cám dỗ.

c.11 Các thiên sứ đến phục vụ Ngài: Phục vụ có nghĩa là hầu bàn, dọn cho ăn. Đức Giêsu nhận lãnh của ăn từ sứ giả của Thiên Chúa, chứ không tự lo cho mình ăn theo lời ma quỷ đã cám dỗ.


3. Ý nghĩa 3 cơn cám dỗ

* Nghĩa chung: Đức Giêsu từ chối mọi quan niệm Messia trái ngược với ý Thiên Chúa, Ngài xác định sẽ là Messia Tôi Tớ.

1/ CÁM DỖ THỨ NHẤT

a) Satan:

“Nếu ông là Con Thiên Chúa”: Tước hiệu ”Con Thiên Chúa” dồng nghĩa với tước hiệu Messia. Satan muốn cám dỗ Đức Giêsu theo một quan niệm Messia của hắn.

“Thì hãy truyền cho những viên đá này hóa bánh mà ăn”: Đây không giản dị là cám dỗ tham ăn. Vì câu trả lời của Đức Giêsu trích dẫn Dnl 8,3 nên ta phải tìm ý nghĩa của cơn cám dỗ này theo văn mạch của Dnl 8,3. Đây ta hãy xem Đnl 8,2-3.

 “Ngươi sẽ hồi tưởng lại tất cả con đường Giavê Thiên Chúa của ngươi đã dẫn ngươi đi trong sa mạc, nay đã 40 năm, với dụng ý là hạ ngươi xuống cùng thử cho biết ngươi có gì trong đáy lòng, xem ngươi có giữ các lệnh truyền của Ngài hay chăng, Ngài đã hạ ngươi xuống để cho ngươi phải chịu đói, rồi Ngài lại cho ngươi ăn manna ngươi chưa từng biết và cha ông ngươi cũng không hề biết, để dạy cho ngươi biết là người ta không sống nhờ bánh mà thôi nhưng người ta sống nhờ bằng mọi điều xuất ra từ miệng Giavê”.

 Đoạn Đnl trên cho thấy Thiên Chúa đã muốn thử xem Israel có trông cậy vào Thiên Chúa hay không khi bị Thiên Chúa để cho đói, Đức Giêsu cũng ở vào một hoàn cảnh tương tự: Ngài đang đói, Ngài có thể tưởng là Thiên Chúa đã bỏ mình rồi. Vì thế ngay lúc đó ma quỷ gợi cho Ngài ý tưởng đừng trông cậy vào Thiên Chúa những hãy dùng ngay quyền năng làm phép lạ mà Ngài vừa nhận được lúc được tấn phong làm Messia để tự lo cho mình. Đây là cám dỗ tự dựa vào sức mình, đồng thời đây cũng là quan niệm Messia thích làm phép lạ (Messia-Magicien).

b) Đức Giêsu đã trích Đnl 8,3 để trả lời Satan: Ngài không muốn cậy dựa vào sức riêng mà chỉ trông cậy vào Thiên Chúa. Ngài phủ nhận quan niệm Messia thích làm phép lạ.


2/ CÁM DỖ THỨ HAI

a) Satan trích dẫn Tv 91,11 nói tới việc Thiên Chúa sẽ che chở những người đạo đức. Thực ra đây là một cái bẫy: trong cơn cám dỗ thứ nhất, Đức Giêsu từ chối không dựa vào sức mình mà chỉ cậy dựa vào Thiên Chúa. Vậy bây giờ Satan xúi Ngài lạm dụng sự bảo vệ ấy để phục vụ những mục tiêu vị kỷ của mình. Nếu Ngài từ nóc Đền Thờ gieo mình xuống, tức là đòi Thiên Chúa phải làm phép lạ để che chở Ngài. Dây là cám dỗ bắt Thiên Chúa phải làm theo ý riêng của mình. Thời đó, nhiều người do thái tưởng rằng khi Đấng Messia xuất hiện thì sẽ xuất hiện trên nóc Đền Thờ để châm ngòi cho một cuộc chiến đánh đuổi quân Rôma xâm lược. Cho nên ở đây ma quỷ còn đưa ra một hình ảnh Messia hiếu chiến (Messia-Guerrier).

b) Để trả lời, Đức Giêsu trích dẫn Đnl 6,16. Câu này gợi nhớ chuyện trong Xh 17,1-7: Israel đòi Thiên Chúa phải làm dấu lạ cho nước từ tảng đá vọt ra để cho họ tin là Thiên Chúa còn ở giữa họ. Đức Giêsu không muốn áp đặt ý riêng mình cho Thiên Chúa, không muốn làm một Messia hiếu chiến.


3/ CÁM DỖ THỨ BA

a) Satan đưa Đức Giêsu lên một ngọn núi từ đó xó thể “thấy tất cả các nước thế gian”. Chi tiết này không thật. Nhưng Mt muốn ám chỉ đến chuyện Môsê trong giai đoạn trước khi Israel được vào hứa địa. Ông đã được Thiên Chúa cho lên một ngọn núi (núi Nêbo) từ đó Thiên Chúa chỉ cho ông thấy Đất Hứa. Mt vẫn giữ so sánh Đức Giêsu là Môsê mới.

 “Tất cả những sự đó tôi sẽ cho ông nếu ông thờ lạy tôi”: Đây là cám dỗ “con bê vàng” tượng trưng những ngụy thần, là cám dỗ tự tạo cho mình một thứ Thiên Chúa mà mình có thể giật dây theo sở thích của mình.

b) Để trả lời, Đức Giêsu trích dẫn một đoạn Đệ Nhị Luật nói về tội thờ ngẫu thần:

  “Ngươi sẽ kính sợ Giavê Thiên Chúa của ngươi, ngươi sẽ phụng thờ Ngài, ngươi sẽ thề nhân danh Ngài. Các ngươi sẽ không đi theo các thần khác, thần của các dân ở chung quanh các ngươi… “ (Đnl 6,13-14).

Qua câu trích dẫn này, Đức Giêsu xác định rằng Thiên Chúa không phải là một ngẫu tượng do người ta dựng nên để mua bán ơn sủng. Không thể mặc cả trả giá với Thiên Chúa (lời cám dỗ của Satan có chữ nếu, cho thấy ý ngĩa mặc cả). Thiên Chúa cũng không phải là một tượng thần cho người ta mang đi trước đoàn quân để chinh phạt khắp nơi và thành lập một nước hùng mạnh nổi tiếng khắp nơi. Trái lại Thiên Chúa là Đấng người ta phải tôn thờ vô điều kiện.

 Tóm lại Satan cám dỗ Đức Giêsu đừng cậy dựa cào Thiên Chúa mà hãy tự cậy vào sức riêng mình, làm một Messia theo ý thích riêng, đó là một Messia phù phép, một Messia hiếu chiến, một Messia hiển hách.

 Nhưng Đức Giêsu xác định Ngài hoàn toàn vâng theo ý Thiên Chúa. Ngài muốn làm một Messia Tôi Tớ Thiên Chúa.


4. Những ý nghĩa khác

Ý nghĩa mà chúng ta vừa thấy ở trên là ý nghĩa dựa trên chính bản văn, ý nghĩa mà Mt muốn trình bày. Nhưng ngoài ra, người ta cũng có thể suy niệm nhiều ý nghĩa khác về những cuộc cám dỗ của Đức Giêsu.

– Ý nghĩa luân lý: Đức Giêsu làm gương chiến thắng mọi cám dỗ mà loài người thường phải chịu: cám dỗ xác thịt, cám dỗ phô trương, cám dỗ ham tiền bạc của cải.

– Ý nghĩa mô hình: Đức Giêsu là Ađam mới. Ngày xưa Ađam bị cám dỗ và sa ngã. Nay Đức Giêsu chịu cám dỗ và chiến thắng. Ngài đã vâng phục để chuộc lại tội bất phục của Ađam cũ (Tin Mừng Mc tường thuật những cám dỗ của Đức Giêsu theo ý nghĩa này).

– Ý nghĩa cánh chung: Trong cuộc chiến đấu này, Đức Giêsu cho thấy trước chiến thắng chung cục của Ngài trước quyền lực sự dữ (đây là ý nghĩa thần học của tường thuật Lc)

 


BÀI 8: KHỞI ĐẦU SỨ VỤ (4,12-23)

12Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói: 15Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! 16Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần."

18Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19Người bảo các ông: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." 20Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.

21Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người.

23Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

------------------

Sau khi xác định xong phương hướng thi hành chức năng Messia (Messia Tôi Tớ). Đức Giêsu khởi sự thi hành sứ vụ mình: 

1/ Về Galilê 

2/ Kêu gọi các môn đồ đầu tiên 

3/ Vừa giảng dạy vừa chữa bệnh.


1. trở về Galilê 12-17

– “Nghe tin Gioan bị bắt bỏ tù”: động từ “bị bắt”paredothê dùng cho Gioan ở đây cũng được dùng cho Đức Giêsu (so sánh với Mt 10,4; 17,22; 20,18-19; 26,2). Chi tiết này cho thấy Gioan và Đức Giêsu cùng một số phận. Động từ “bị bắt” này trong cả hai trường hợp đều ở thì thụ động (bị bắt). Chi tiết thứ hai này cũng có nghĩa là kẻ khiến Gioan và Đức Giêsu bị bắt đều là Thiên Chúa. Mọi việc đều xảy ra theo ý Thiên Chúa, cả Gioan lẫn Giêsu đều làm theo chương trình của Thiên Chúa.

“Lánh đi”: động từ anachoreô là một động từ Mt rất thường dùng (đến nỗi các nhà chuyên môn đã nói tới một thứ anachorisme của Mt). Nó có nghĩa là rời một nơi nguy hiểm để sang một nơi an toàn hơn (tường thuật lánh sang Ai Cập cũng dùng động từ này).

“Galilê”: Vùng Đức Giêsu đang ở là Giuđê với hai đặc điểm:

1/ Dân cư hầu như ròng là dân do thái.

2/ Là nơi “hoành hành” của những người không thiện cảm với Gioan và Đức Giêsu, trong đó đặc biệt là phái Pharisêu luôn nghi kỵ những người không thuộc nhóm của họ. Cũng chính vì hai lý do đó mà Đức Giêsu lánh sang vùng Galilê: một là để tránh nguy hiểm (Gioan đã bị tù rồi), và hai là để cho thấy tính đại đồng của công tác truyền giảng Tin mừng (sẽ nói rõ hơn ở điểm dưới đây).

“Giabulon và Néptali”: Nơi Đức Giêsu đến được Is nói tới trong câu Mt trích dẫn (Is 8,23—9,1). Đó là đất của hai chi tộc Giabulon và Néptali làm thành phân lớn lãnh thổ vùng Galilê. Khác với vùng Giuđê hầu như ròng dân do thái, vùng Galilê lẫn lộn nhiều dân ngoại. Nhưng Is đã tiên báo rằng Thời đại của Thiên Chúa sẽ bắt đầu từ chính vùng “Galilê của dân ngoại” này. Đức Giêsu về Galilê để ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia, và cũng là một cách trả lời cho luận điệu của phái Pharisêu cho rằng “Từ Galilê chẳng sinh ra một ngôn sứ nào cả” (Gio 7,52).

“Từ khi ấy Đức Giêsu khởi sự giảng rằng…”: Đay là một câu văn chìa khóa. Mt chỉ xử dụng chìa khóa này hai lần: một ở đây và một ở 16,21, hai lần dùng câu này có tác dụng phân tác phẩm Mt thành hai phần rõ rệt (xem lại dàn bài).

“Các ngươi hãy ăn năn trở lại vì triều đại Nước Trời đã đến”: Câu này tóm tắt nội dung sứ điệp của Đức Giêsu. Cần lưu ý rằng khi tóm tắt nội dung sứ điệp của Gioan Tẩy Giả (3,2) và nội dung sứ điệp mà Đức Giêsu muốn các môn đồ rao giảng (10,7) Mt cũng dùng câu này đúng y từng chữ. Chi tiết này có nghĩa là có sự liên tục giữa các sứ điệp của Gioan, Đức Giêsu và các môn đồ.

*Tóm tắt: Để khởi sự sứ điệp của mình Đức Giêsu đã chọn địa điểm là vùng Galilê, một phần để được an toàn hơn, và phần khác chính yếu hơn là để tỏ rõ ngay từ ban đầu là sứ vụ của Ngài có tính đại đồng.


2. Kêu gọi các môn đồ đầu tiên 18,22

Đoạn văn này không nhằm tường thuật chi tiết đầy đủ, nhưng dựa theo văn thể “ơn gọi ngôn sứ” (chẳng hạn so sánh với 1V 19,19: kêu gọi ngôn sứ Êlisê). Văn thể này không cần mô tả cảm xúc và phản ứng của người được kêu gọi, nhưng nhấn mạnh đến sự đáp trả nhanh chóng và vô điều kiện của người được gọi. Chính vì thế mà Mt xử dụng hai lần thuật ngữ “Lập tức hai ông bỏ…” (câu 20,22).

Với một nhóm nhỏ môn đồ bỏ mọi sự để đi theo Ngài, ta có thể coi đó là tượng trưng cho GH đã quy tụ quanh Đức Giêsu.


3. Giảng dạy và chữa bệnh 23,25

– “Khắp xứ Galilê”: Đức Giêsu không có ý định lập một GH khép kín và hạn chế, mà là một GH đại đồng.

“Giảng dạy… và chữa lành”: Có nhiều nhà chuyên môn cho rằng tác phẩm Mt theo cấu trúc tường thuật và diễn từ. Tuy nhiên nhiều nhà chuyên môn khác cho rằng cấu trúc của Mt là diễn từ và tường thuật (nói trước, làm sau). Ý kiến thứ hai hợp lý hơn. Cấu trúc này cũng là cấu trúc của toàn tác phẩm (xem lại phần nói về bố cục, phần Tiền Ngôn chương 1-2).

“Đủ thứ tật nguyền”: Mt có thói quen tổng quát hóa. Thực ra Ngài chỉ chữa lành một vài bệnh tật, dùng đó làm dấu chỉ cho thấy Nước Trời đã đến. Việc Ngài chữa bệnh cũng chứng minh Ngài là Messia Tôi Tớ Thiên Chúa, gánh lấy mọi nỗi khổ đau của loài người.


4. Kết luận

 Xét về phương diện hành văn, bản văn nhỏ này được xem như là một bảng tóm lược những hoạt động của Đức Giêsu trong suốt phần I lớn của tác phẩm (các chương 5-16) trong đó điểm chính là sứ vụ của Đức Giêsu ở vùng Galilê. Đến 16,21 thì hoạt động của Ngài sẽ chuyển hướng “Từ khi ấy Ngài bắt đầu tỏ cho môn đệ biết Ngài sẽ lên thành Giêrusalem”.


TỔNG THỂ I: NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN Mt 5-9

(Bài 9 -19)

BÀI 9: NHỮNG LỜI CHÚC PHÚC (5,1-12)

1Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.  2Người mở miệng dạy họ rằng:

 3"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.

 4Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

 5Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

 6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

 7Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

 8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

 9Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

 10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.

 11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.

 12Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.

 ------------------

1. Văn thể Macarisme

 Đây là một văn thể thông dụng trong Thánh Kinh tên là Macarisme. Danh xưng này do chữ Hy Lạp Macarios nghĩa là “người được chúc phúc”. Bộ Thánh Kinh hy bá lai có 45 macarismes, bộ Thánh Kinh hy lạp (LXX) thì có khoảng 60 macarismes. Đây là một số thí dụ: Tv 41,2; Đnl 33,29; Tv 33,29; Tv 1,1 84,13  112,1  119,1-2  128,1; Cn 3,13; Si 14,20 25,7-11.v.v…


2. Phân tích bản văn

c.1 – “Thấy dân đông”: Chi tiết “dân đông” được ghi nhận ngay ở đầu và cuối Bài giảng trên núi (ở đây và ở 7,28). Điểm này đánh tan giả thuyết cho rằng Bài giảng này chỉ nhắm đến nhóm các môn đệ chứ không phải cho quảng đại quần chúng.

“Lên núi”: ám chỉ đến núi Sinai (so sánh với Lc 6,20-48: cũng ghi lại bài giảng này nhưng lại đặt ở giữa cánh đồng). Ngày xưa Môsê lên núi lãnh Luật thì nay Đức Giêsu lên núi để công bố Luật mới của Nước Trời. Ở đây có hai hình ảnh: Môsê cũ và Môsê mới, Luật cũ và Luật mới.

“Ngồi xuống”: đây là tư thế của các Rabbi do thái khi giảng dạy (khác với tư thế đứng dạy của các triết gia hy lạp).

c.3 Mối phúc 1: những người nghèo trong tâm hồn

– Nên lưu ý rằng Mt không ghi “phúc cho những người nghèo”, mà ghi rõ thêm “trong tâm hồn” (pauvre en esprit).

– Chính những chữ “trong tâm hồn” này mới rắc rối. Hiện nay có hai lối giải thích có giá trị nhất:

a) Đó là những người mà lòng không gắn bó với của cải. Nếu hiểu theo nghĩa này, thì người nghèo trong tâm hồn vẫn có thể là người giàu về của cải vật chất, miễn là lòng họ không gắn bó thôi.

b) Cái nghèo mà Mt nói ở đây không chỉ là nghèo của cải, mà là nghèo mọi thứ: không địa vị, không danh vọng, không công nghiệp đạo đức. Đấy chính là hạng anawim trong Thánh Kinh. Họ biết mình chẳng có gì cả nên chẳng dựa vào khả năng mình mà chỉ hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa, do đó họ trở thành người được Thiên Chúa ưu tiên quan tâm.

– Trong hai nghĩa đó Mt theo nghĩa nào? Nghĩa nào cũng có lý hết. Nhưng rõ ràng là Mt không coi trọng cái thứ nghèo chỉ về mặt vật chất mà thôi, vì tự nó không thể là một nguồn ơn phúc được.

c.4 Mối phúc 2: “Phúc thay ai ăn ở hiền lành”:

– Hiền lành (doux) nghĩa là vừa nhân từ (mansu-étude) vừ khiêm nhượng (xem Mt 11,29-30: Đức Giêsu tự xưng là “hiền lành” và “khiêm nhượng” trong lòng)

 * “Vì được đất làm phần riêng”: được hưởng Nước Trời

c.5 Mối phúc 3:”Phúc thay ai khóc lóc”

– Kẻ khóc lóc (les affligés): nghĩa đen là “những người để tang”. Nghĩa rộng: những kẻ sầu buồn đến nỗi có thể bật ra thành tiếng khóc và không gì ngoài Chúa có thể an ủi họ được.

– Phần phúc: sẽ được Chúa an ủi

Động từ dùng ở đây là penthed chỉ được Mt dùng hai lần: một lần ở đây và lần kia là 9,15 nói về việc các môn đệ sẽ khóc khi phải xa cách “Tân lang” (Đức Giêsu). Sự so sánh với 9,15 cho ta thấy một nghĩa khác: đây là nỗi buồn sầu của những linh hồn biết mình tội lỗi và do đó phải xa cách Chúa. Như vậy phần phúc Chúa hứa cho họ là họ sẽ được Thiên Chúa “an ủi” bằng cách tha tội cho họ.

c.6 Mối phúc 4: “Phúc thay ai đói khát điều công chính”

– “Công chính” đây không phải là ngược lại với sự bất công, không công bình, áp bức.v.v… Nên nhớ cộng đoàn Mt là một cộng đoàn do thái cho nên ta phải hiểu “công chính” trong Mt theo nghĩa của Cựu Ước: Công chính là biết làm theo ý của Thiên Chúa. Trong bối cảnh của Tin mừng Mt, công chính là làm theo ý Thiên Chúa thể hiện qua Đức Giêsu.

c.7 Mối phúc 5: “Phúc thay ai thương xót”

– Hôsê đã viết “Ta muốn long thương xót chứ không muốn lễ vật” (Hs 6,6)

– Mt đã trích dẫn câu này hai lần, và cả hai lần Mt đều hiểu thương xót nghĩa là thứ tha (9,13  12,7). Trong bảng Kinh Lạy Cha, sau lời xin Cha tha thứ, chỉ có Mt là chú thích thêm “Vì các con có tha lỗi cho người ta thì Cha các con trên trời mới tha tội các con. Bằng các con không chịu tha cho người khác thì Cha các con cũng không tha tội các con” (6,14-15)

– Có lẽ Mt nhấn mạnh khía cạnh thương xót tha thứ này là vì thấy chướng tai gai mắt trước những người biệt phái buộc người ta giữ rất nhiều khoản luật rất tỉ mỉ và hễ sai một tí là bị trừng phạt, đe dọa.

c.8 Mối phúc 6: “Phúc thay ai có lòng trong trắng”

– Người do thái, dưới ảnh hưởng biệt phái, chú trọng nhiều đến chuyện sạch-dơ, nhưng cái sạch dơ này quá thiên về mặt vật chất và lễ nghi (do ăn uống, tắm rửa, tiếp xúc…). Mt nhấn mạnh khía cạnh tâm hồn “trong sạch ở tâm hồn” (Pureté de Coeur), nghĩa là: có lương tâm ngay thẳng, không gian dối, không mập mờ nửa trắng nửa đen, không một dạ hai lòng.

c.9 Mối phúc 7: “Phúc thay ai gieo rắc bình an”.

Dịch sát chữ phải là “phúc cho những người kiến tạo bình an”. Bình an ở đây là hòa thuận (không xung khắc, không thù hận). Lưu ý rằng các mối phúc khác đều nhắm đến một thái độ nội tâm, còn mối phúc này nhắm đến hoạt động bên ngoài mà đối tượng là những mối liên hệ giữa người với người, và mục đích là làm cho người ta hòa thuận với nhau.

c.10 Mối phúc 8 “Phúc thay ai chịu bắt bớ vì điều công chính”

 * Ta cũng phải hiểu chữ “công chính” ở đây theo nghĩa của c.6, nghĩa là “sống theo ý Chúa thể hiện qua Đức Kitô”.

* Như vậy người bị bắt bớ được Chúa chúc phúc không phải là vì người đó phạm tội gì, mà chỉ vì người đó trung thành với Đức Kitô, bị bắt bớ với tư cách Kitô hữu.

c.11 Mối phúc 9: “Bị bắt bớ vì Ta”

Thực chất đây cũng là mối phúc thứ 8 nhưng được áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của cộng đoàn Mt đang bị những người do thái thù ghét và bắt bớ bởi lẽ họ trung thành với Đức Kitô.


3. Kết luận

1/ Những mối phúc này làm thành Bộ Luật mới của Nước Trời. Để hoàn chỉnh bộ Luật cũ của Môsê đã hướng về bề ngoài, Bộ Luật Mới này nhấn mạnh vào khía cạnh nội tâm, vì thế phải thêm chữ tinh thần vào chữ nghèo, thêm chữ đói khát vào chữ công chính.v.v…

2/ Bộ Luật Mới này chính là một Tin Mừng, một tin vui mừng sốt dẻo được công bố cho những người cứ tưởng mình đã bị quên lãng, ra rìa. Họ là những người nghèo, những người sầu khổ, những người bị bách hại.v.v… Đức Giêsu mặc khải cho họ biết rằng chính những cái khổ sở thiệt thòi ấy là nguồn hạnh phúc cho họ.

3/ Tất cả các phúc lành được ban đều quy vào việc được hưởng Nước Trời mà Đức Giêsu đã thành lập.

 

BÀI 10: MUỐI VÀ ÁNH SÁNG (5,13-16)

13"Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.
------------------

1. Giải thích từ ngữ

Muối và ánh sáng là hai nhu yếu phẩm rất cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày.

Muối: để giữ đồ ăn khỏi hư, làm cho đồ ăn thêm ngon. Muối ướp cái khác chứ không phải cái khác ướp muối.

Ánh sáng: Tân Ước đã gọi Đức Giêsu là ánh sáng thế gian. Ở đây Mt áp dụng cho môn đệ điều được áp dụng cho Đức Giêsu.

Đất: không phải là vật chất (cục đất, miếng đất). Nên lưu ý đến thể văn song đối

Các con là muối đất.

Các con là ánh sáng thế gian.

Hình ảnh muối đối với hình ảnh ánh sáng; hình ảnh đất đối với hình ảnh thế gian. Nghĩa là chữ “đất” đây đồng nghĩa với “thế gian”


2. Ý nghĩa

1/ Liên hệ giữa đoạn này với đoạn các mối phúc: Dụ ngôn muối và ánh sáng nối tiếp bài loan báo các mối phúc: chúng con đã được biết Bộ Luật Mới của Nước Trời rồi. Bây giờ chúng con hãy mang nó ra mà thi hành cũng như mang muối rắc vào thế gian, mang ánh sáng tới cho gian trần.

2/ Việc thi hành này rất cần thiết, nó là bản chất của người môn đệ: môn đệ mà không quảng bá tinh thần của Thầy mình thì không phải là môn đệ nữa. Họ như thứ muối đã mất chất mặn, thứ đèn không còn cháy sáng.

3/ Dụ ngôn này cũng là một lời khuyến khích thực thi những mối phúc: Nếu chúng con thực thi, cụ thể là nếu các con có tinh thần nghèo, nếu các con hiền lành, nếu các con đói khát tìm công chính… thì chúng con sẽ thành muối và ánh sáng quảng bá tinh thần Bộ Luật Mới của Nước Trời.

 

BÀI 11: CÔNG CHÍNH MỚI HOÀN THÀNH LUẬT CŨ (5,17-48)

17"Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. 18Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. 19Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

20"Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21"Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.

27"Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. 28Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. 29Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. 30Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

31"Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. 32Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

33"Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. 35Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. 36Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. 37Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

38"Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. 39Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. 40Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. 41Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. 42Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi.

43"Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? 47Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? 48Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

------------------

1. Liên ý

Sau khi ban hành Bộ Luật Mới, trong đó có nhiều điểm ngụ ý không giống Luật cũ do Môsê ban hành (xem lại bài 2), bây giờ Đức Giêsu xác định tương quan giữa Luật Mới của Ngài với Luật Cũ như thế nào.


2. Giải thích từ ngữ và bản văn

1/ Về những tương quan với Luật Mới và Luật Cũ, khởi đầu qua các câu 17-20. Đức Giêsu đưa ra lập trường chung: Luật mới không tiêu hủy nhưng hoàn chỉnh Luật cũ, và Đức Công chính mới phải trổi vượt Đức Công chính cũ.

2/ Sau khi tuyên bố lập trường, Đức Giêsu đưa ra nhiều thí dụ. Về mặt hành văn, ta nên chú ý tới kiểu nói phản đề: “Các con từng nghe bảo người xưa rằng… Còn Ta, Ta bảo các con…”.

a) Thí dụ 1: Về việc giết người (cc 21-26)

– Luật cũ chỉ cấm giết người.

– Luật mới đòi đi tới thực thi bác ái.

 Xh 20,13 và Đnl 5,17 có ghi ra khoản luật “Ngươi không được giết người”. Đức Giêsu đưa đi xa hơn nữa: không được giận, không được chửi (đồ ngu, đồ điên). Dĩ nhiên ta phải nhớ đây là cách nói cường điệu của người phương đông, không nên hiểu sát nghĩa đen, mà phải hiểu tinh thần của nó. Tinh thần mà Đức Giêsu muốn người môn đệ phải theo là tinh thần “Anh em”: hãy đếm xem trong đoạn cc22-24 Mt dùng mấy lần chữ “anh em” (5 lần). Ở đây Mt cho hiểu ngầm hai điều quan trọng:

(1) Nếu xem mọi người là anh em của nhau thì hiểu ngầm rằng mọi người đều có cùng một Cha.

(2) Nếu đã xem nhau là anh em thì phải cư xử với nhau không theo Luật mà theo Tình.

* cc.23-24 đã bị nhiều người hiểu lầm: nhiều người không đến Nhà thờ nữa vì họ cho rằng tại họ còn có chuyện buồn với người khác do đó mà không xứng đáng. Thực ra ta phải phân biệt: khi ta là tác nhân gây chuyện buồn phiền cho người khác thì ta mới không xứng đáng đến Bàn Thờ; còn ngược lại khi ta là nạn nhân bị người khác làm buồn thì ta có gì không xứng đáng đâu.

b) Thí dụ 2: ngoại tình và lòng dục (cc 27-30)

– Luật cũ chỉ cấm hành động ngoại tình (Xh 20,14; Đnl 5,18)

– Luật mới ngăn chặn từ gốc cái là nguyên nhân gây ngoại tình, đó là lòng dục.

 Chi tiết “móc mắt” chỉ là một kiểu nói cường điệu theo kiểu phương đông, Ngụ ý phải tránh cả đến những dịp tội, những nguyên nhân có thể gây tội.

c) Thí dụ 3: Ly hôn (cc 31-32)

Luật cũ cho phép ly hôn một cách dễ dàng (Đnl 24,1-2). Lý do để ly hôn có thể rất đơn giản, thí dụ chỉ vì “nó không được vừa mắt chồng nó nữa, vì chồng gặp thấy nơi nó có điều gì thô bỉ”, miễn là chồng phải viết cho người vợ bị ly dị một tờ giấy ly hôn.

Luật mới không cho phép ly hôn, chỉ chờ nó Porneia. Chính chữ Porneia này mới là điểm gay go, bởi vì tùy lối giải thích chữ này mà đưa đến những lập trường khác nhau:

* Giải thích Pornenia ngoại tình dẫn đến lập trường cho phép vợ chồng ly hôn nếu một trong hai người không còn chung tình nữa. các giáo phái Tin Lành và Chính thống theo lập trường này.

 * Giải thích Porneiakết hợp phi pháp (union illégitime). Lv 18,6-18 kể ra những trường hợp gọi là kết hợp phi pháp (chú ý kiểu nói “lột trần chỗ kín” có nghĩa là giao hợp). Những cuộc kết hợp này tự bản chất đã là bất hợp pháp rồi cho nên đương nhiên hai người đó phải chấm dứt, phải chia ly nhau. GH Công giáo theo giải thích này. Do đó Công giáo tuyệt đổi không cho phép ly hôn. Còn những kiểu kết hôn phi pháp (sách Lêvi kể ra những kiểu kết hợp giữa những người trong gia đình, bà con gần, bà con xuôi gia) thì GH Công giáo không nhìn nhận là hôn phối cho nên đương nhiên buộc đương sự phải chia ly.

 * Giải thích công giáo hợp lý hơn nếu ta xét chung tới cả văn mạch của Mt 5,17-37. Trong đoạn này Đức Giêsu đưa ra Luật mới để hoàn chỉnh Luật cũ. Vậy nếu Luật cũ cho phép ly hôn mà Luật mới cũng cho phép ly hôn thì đâu có gì là mới, đâu có gì là hoàn chỉnh.

d) Thí dụ 4: Thề (bb33-37)

– Luật cũ chấp nhận thề và khi lấy danh Giavê mà thề thì buộc phải giữ (Ds 30,3). Tuy nhiên không được lấy danh Giavê để thề dối (Lv 19,12) hoặc thề vặt (Xh 20,7).

– Luật mới “Đừng thề chi cả”. Câu này cũng gây khó khăn. Một số giáo phụ dựa vào câu này để cấm mọi hình thức thề; vài nhóm Tin Lành cũng không bao giờ chịu thề. Thế nhưng trong GH Công giáo thì vẫn còn thề trong một vài trường hợp quan trọng như hôn phối, trước tòa án.v.v… Chính thánh Phaolô, một người hiểu rõ ý Đức Giêsu, cũng thề (xem Rm 1,9; 2Cor 1,23 11,31; Ga 1,20; Pl 1,8). Thánh Phaolô và GH Công giáo làm như vậy là hiểu được văn mạch của Mt. Trong văn mạch này, điều Đức Giêsu chú trọng không phải là hình thức mà tinh thần. Tinh thần này gồm hai ý:

(1) Trước hết phải hết sức thành thật, có thì nói có, không thì nói không. Chính sự thành thật của mình là đảm bảo cho lời nói chứ không phải lấy lời thề làm đảm bảo, cho nên nếu đã thành thật rồi thì chẳng cần phải thề nữa.

(2) Tuy nhiên trong một vài trường hợp rất quan trọng, muốn cho lời nói của mình có được tính long trọng thì có thể dựa vào Danh Chúa để nói, để thề.

e) Thí dụ 5: Bảo thủ (cc 38,42)

– Luật cũ: cho phép báo thù. Luật Talion (Xh 21,24; Lv 24,20; Đnl 19,21).

– Luật mới: “Đừng chống cự với người gian ác”.

 * Câu này cũng gây khó khăn, bởi vì nếu không chống cự thì người ác sẽ càng làm ác thêm. Thái độ chịu đựng của mình chẳng những không giảm sự gian ác mà còn khuyến khích sự ác gia tăng. Có lẽ phải hiểu “chống cự” đây nghĩa là “trả đũa”: đừng trả đũa theo kiểu “mắt đền mắt, răng thế răng”.

* Những câu tiếp theo càng gây khó khăn hơn: ai vả má phải hãy đưa luôn má trái; ai muốn lấy áo trong hãy đưa luôn áo ngoài, ai ép đi một dặm hãy đi hai dặm! Để giải quyết khó khăn này, ta nên để ý hai điểm:

(1) Đây là kiểu nói cường điệu của người phương đông.

(2) Phải chú ý phân biệt trong những tiểu đoạn này gồm hai phần: phần nguyên tắc của luật mới, Mt dùng chữ “các con” đây là luật chung áp dụng cho mọi người, luật chung này luôn luôn là đúng (không được trả đũa, báo thù); tiếp đó là phần đưa thí dụ, phần này Mt dùng chữ Con. Những thí dụ này không nhằm cho mọi người mà chỉ cho cá nhân nào đó trong hoàn cảnh nào đó, thí dụ thì Đức Giêsu đưa ra nhiều (trong tiểu đoạn này có 3 thí dụ), người nào ở trong hoàn cảnh A thì làm theo thí dụ A, người nào hoàn cảnh B thì thí dụ B… chứ không bó buộc anh A phải làm hết các thí dụ ABC… Và đã là thí dụ cá biệt thì không nhất thiết chính xác. Điều quan trọng là giữ đúng nguyên tắc, đúng tinh thần Luật mới. Do đó ta thấy chính Đức Giêsu trong vụ bị xử án, khi có người vả Ngài một cái, Ngài không đưa thêm má bên kia. Ta cũng có thể áp dụng nguyên tắc giải thích này cho các câu 29,30 (móc mắt, chặt tay, Mt đều dùng chữ Con).

f) Thí dụ 6: Yêu thương kẻ thù (cc 43-47)

– Luật cũ: Thực ra Luật cũ chẳng có khoản nào dạy phải ghét kẻ thù. Nhưng cũng chẳng có khoản nào dạy yêu thương kẻ thù. Chỉ có luật dạy yêu thương đồng loại (Lv 19,18). Sớ dĩ Đức Giêsu nói về Luật cũ rằng “Nhưng kẻ thù khôn buộc phải thương” là vì Ngài nhìn vào thực tế Israel không biết yêu thương kẻ thù, và thực tế là không có khoản luật nào dạy yêu thương kẻ thù.

– Luật mới bổ khuyết chỗ thiếu sót ấy: Hãy yêu thương kẻ thù, hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình. Lý do được Ngài đưa ra là gương của Cha trên trời, và Đức công chính mới.

3/ Sau khi nêu tinh thần Luật mới (cc 17-20) và đưa ra 6 thí dụ (cc 21-47), bây giờ Đức Giêsu kết luận bài giảng của mình bằng cách nêu lên một lý tưởng (c 48) “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”. Đây là một lý tưởng thật cao, trên thực tế khó ai có thể đạt được, nếu không muốn nói là không thể nào đạt tới được. Nhưng lý tưởng thì dĩ nhiên phải cao, nó nhắc cho ta luôn nhớ rằng trên con đường hướng tới sự “trọn lành”, không bao giờ được tự mãn cho là đã đủ, trái lại phải luôn vươn lên mãi mãi, để càng ngày càng xứng đáng là Con của Cha trên trời hơn nữa.

 


BÀI 12: TINH THẦN CỦA NHỮNG VIỆC ĐẠO ĐỨC (6,1-8.16-18.(19-23))

1"Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. 2Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. 3Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, 4để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

5"Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. 6Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

7"Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. 8Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

16"Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. 17Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, 18để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

19"Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. 20Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. 21Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

22"Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. 23Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!

------------------

Chúng ta vẫn đang nghe Đức Giêsu công bố Hiến Chương Nước Trời (cả 3 chương 5,6,7). Bản Hiến Chương dài này gồm nhiều đoạn:

– Đức Giêsu khởi đầu bằng những lời chúc phúc (5,1-12).

– Khuyến khích thực thi những mối phúc đó (5,13-16).

– Xác định tương quan giữa Luật mới với Luật cũ (5,17-48).

Bây giờ Đức Giêsu bàn tới những việc đạo đức thông thường xưa nay ai cũng làm, nhưng Ngài chỉ cho một tinh thần mới.


1. Nhìn chung

1/ Người môn đệ Đức Giêsu cũng làm cùng những việc đạo đức như người do thái, tức là bố thí, cầu nguyện và ăn chay. Nhưng Đức Giêsu dạy họ phải làm với tinh thần mới, nghĩa là không phải để được người ta khen ngợi mà chỉ vì muốn làm vui lòng Cha.

 Đếm thử xem trong đoạn ngắn này có bao nhiêu chữ CHA (7 chữ, đó là chưa kể rất nhiều chữ trong kinh Lạy Cha). Ở đây khi dạy một tinh thần mới (tinh thần hiếu tử) Đức Giêsu mặc khải một chân lý mới, đó là Thiên Chúa là CHA.

2/ Về mặt văn chương của đoạn này, chúng ta cũng đừng quên hai chi tiết quan trọng đã được nhắc ở các bài trước:

– Lối nói cường điệu.

– Cách dùng chữ “Chúng con” và “Con” pha lẫn nhau. Khi nào gặp chữ “chúng con” thì là nguyên tắc chung; còn khi nào gặp chữ “Con” thì là áp dụng cho từng hoàn cảnh cụ thể.


2. Giải nghĩa bản văn

1/ VIỆC BỐ THÍ (cc 6,1-4)

– Thời Đức Giêsu, bố thí được coi là việc đạo đức tuyệt hảo (xem Si 3,14 3,30  7,10  12,3). Vì ai cũng coi trọng việc bố thí cho nên có người thích được người khác biết mình hay bố thí, vì như thế chứng tỏ mình là người đạo đức.

– “Quân giả hình”: có thể có hai nghĩa

 Nghĩa nhẹ: thái độ bề ngoài không đúng với tâm tình bên trong (xem Mt 15,7 23,25-27).

 Nghĩa nặng: Lòng thì gian ác mà bề ngoài thì đạo đức (xem Mt 7,5  23,13-14.15.23.29 24,51).

– Trong đoạn này chữ giả hình có nghĩa là những người làm việc đạo đức, với thái độ bề ngoài là kính Chúa, nhưng thực sự bề trong là để được người đời khen ngợi.

– “Thưởng công”: người giả hình làm việc đạo đức nhằm được thưởng công, và phần thưởng của họ là được người đời khen ngợi. Đức Giêsu cũng nói tới “Cha thưởng công”, phải chăng Đức Giêsu cũng chung một đường với bọn giả hình là theo nguyên tắc Do ut dex (tôi cho anh để anh cho tôi lại)? Không phải, Đức Giêsu không kể ra phần thưởng là gì, Đức Giêsu lại nhắc đến Cha. Vậy lý do để người môn đệ làm việc đạo đức chỉ là để làm vui lòng Cha. Nếu có mong phần thưởng thì đó là phần thưởng duy nhất của họ.

2/ VIỆC CẦU NGUYỆN (cc5-8)

 Cầu nguyện chung trong Đến Thờ và Hội đường là bình thường rồi. Ngoài ra vì có qui định phải cầu nguyện vào những giờ nhất định nào đó trong ngày. Cho nên có người tới đúng giờ thì dù đang ở giữa đường cũng đứng lại cầu nguyện. Điều này cũng làm nảy sinh cám dỗ muốn lôi kéo sự chú ý và sự khen ngợi của người khác khi thấy mình cầu nguyện.

3/ VIỆC ĂN CHAY (cc 16-18)

 Ăn chay gồm không ăn uống, không tắm rửa và mặc thứ quần áo đặc biệt. Thời Đức Giêsu, chỉ buộc ăn chay mỗi năm một lần thường niên là Lễ Đền Tội. Ngoài ra thì tùy giới lãnh đạo tôn giáo thấy cần thì kêu gọi ăn chay. Nhưng có nhiều người đã tự ý tăng thêm số ngày ăn chay.


3. Kết luận

Trước Đức Giêsu, các ngôn sứ cũng đã nhấn mạnh về tính bất vụ lợi trong việc phụng sự Thiên Chúa. Đức Giêsu cũng nhấn mạnh như thế, nhưng đưa thêm lý do mới, tinh thần mới: vì Thiên Chúa là “CHA chúng con”, là “CHA của con”, còn chúng ta là con của Ngài. Chính vì Ngài là CHA cho nên chúng ta chỉ được nghĩ tới Ngài và không quan tâm đến phần thưởng cho những việc đạo đức chúng ta đã làm. Như vậy là Đức Giêsu đã giữ đúng truyền thống Israel, đồng thời đưa nó đi tới mức hoàn thiện.

 


BÀI 13: KINH LẠY CHA (6,9-15)

6Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

7"Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. 8Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

 9"Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này:
"Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

 10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

 11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;

 12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con;

 13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

14"Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.

------------------

1. Văn mạch

 Trong Tân Ước có hai bản kinh Lạy Cha: một là Mt 6,9-13 và hai là Lc 11,2-. Hao tác giả đặt Kinh này trong hai văn mạch khác nhau:

– Lc đặt nó sau lời các môn đệ “Xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện như Gioan đã dạy môn đệ mình” (Lc 11,1). Như thế, kinh Lạy Cha trong Lc là bài kinh Đức Giêsu dạy nhằm đa[s ứng yêu cầu của môn đệ có một bài kinh đặc biệt của nhóm theo Đức Giêsu. Sau kinh Lạy Cha, Lc triển khai chủ đề “Hãy xin thì sẽ được” (cc 3,13).

– Còn Mt thì đặt kinh này trong một đơn vị văn chương từ câu 1 đến câu 18 của chương 6, nhấn mạnh đến tính kín đáo của những việc đạo đức thường làm (cầu nguyện kín đáo, ăn chay kín đáo, bố thí kín đáo).


SO SÁNH KINH LẠY CHA TRONG Lc VÀ TRONG Mt:

1- Trong Mt gồm 7 lời xin: trong Lc chỉ có 4 lời.

2- Những lời xin giống nhau:

a/ Danh Cha vinh hiển.

b/ Nước Cha mau đến.

c/ Lương thực hằng ngày.

d/ Tha tội chúng con và đừng để chúng con sa cám dỗ.

3- Riêng lời xin tha tội:

Mt: “Xin Cha tha tội của chúng con, như chúng con cũng đã tha cho những kẻ mắc nợ chúng con”.

Lc: “Xin Cha tha tội của chúng con, như chính chúng con cũng tha cho những kẻ mắc nợ  phạm tội đối với chúng con”.

Những điểm khác nhau ấy chứng tỏ hai bản kinh này xuất xứ từ 2 loại cộng đoàn khác nhau.

Tuy nhiên cả hai đều phát sinh trong môi trường phụng vụ: a) Vì lời kinh có vận điệu nhịp nhàng dễ đọc chung; b) Đại từ “chúng con” ở số nhiều, nghĩa là lời kinh chung của tập thể.


2. Giải thích kinh Lạy Cha trong Mt

* LỜI CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU “LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI”

Lạy Cha: Mt dùng chữ Abba, tức là tiếng thân mật đứa con gọi cha mình. Nên biết rằng vì tiếng gọi này thân thiết gần gũi quá nên người do thái không dám dùng để gọi Thiên Chúa, chỉ có Đức Giêsu dám dùng mà thôi, vì Ngài quả thực rất thân mật với Thiên Chúa. Như thế, khi Ngài dạy chúng ta gọi Thiên Chúa là Abba tức là Ngài chia sẻ cho chúng ta đặc ân làm con Thiên Chúa của Ngài.

Cha chúng con: Thiên Chúa là Cha không phải của riêng tôi mà còn của những người cùng đọc kinh này chung với tôi. Cho nên khi cầu nguyện chung với những người khác, tôi phải coi những người đó là anh chị em của tôi.

Ở trên trời: Chữ “trên trời” không xác định chỗ ở của Thiên Chúa mà muốn nói lên phẩm tính cao cả siêu việt của Ngài. Bởi đó bản dịch TOB không dịch “qui êtes aux cieux”như những bản dịch cũ nữa, mà dịch “céleste”. Một bản mới bằng việt ngữ đã dịch lời cầu nguyện mở đầu này là “Lạy Cha trên trời là Cha chúng con”


1/ LỜI XIN THỨ NHẤT: “CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG”.

Danh: Tên không phải chỉ là một nhãn hiệu, một tiếng để gọi mà còn biểu thị chính người mang tên đó. “Nguyện danh Cha cả sáng” tức là “xin cho Cha được cả sáng”.

Cả sáng: “Sáng” là vinh dự, là được người ta thấy rõ. “Cả sáng” là “rất sáng”, “được biết đến rất rõ”.

* TOB dịch là “faire reconnaitre”.

* Bản dịch việt ngữ mới: “Xin làm cho mọi người biết Cha là Thiên Chúa”.

* Nhiều người chưa hề nghe nói tới Thiên Chúa, hoặc có nghe nói tới những chưa mến mộ Ngài, chưa coi Ngài ra gì cả. Ta cầu xin cho mọi người đều công nhận Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và điều hành vũ trụ như điều hành cuộc sống mỗi người.


2/ LỜI XIN THỨ HAI: “NƯỚC CHA TRỊ ĐẾN”:

Nước: không phải là lãnh thổ đất đai, vì đất đai không “trị đến” được, mà là triều đại, là vương quyền. Ai công nhận Thiên Chúa là Vua của mình thì thuộc về vương quyền và triều đại của Thiên Chúa.

Trị đến: Với việc nhập thể của Đức Giêsu thì Nước Thiên Chúa đã đến thế gian này rồi, nhưng chưa đến tâm hồn mọi người vì chưa phải hết mọi người đều công nhận Thiên Chúa là vua của lòng họ.

* Lời xin thứ hai này là xin cho tất cả mọi người đều công nhận Thiên Chúa là vua của lòng

  họ.

* Bản dịch TOB: Faire venir ton règne

* Bản dịch việt ngữ mới: …biết nhìn nhận quyền Cha thống trị… 


3/ LỜI XIN THỨ BA: “Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI”

Ý Cha: Đức Giêsu luôn làm theo ý Thiên Chúa là Cha Ngài. Đặc biệt trong vườn Cây Dầu, Ngài đã cầu nguyện “Xin đừng theo ý riêng con, mà hãy theo ý Cha”.

Thể hiện: nghĩa là được thực hiện, được thi hành.

Dưới đất cũng như trên trời: trên thiên quốc, các thiên sứ và các thánh luôn làm theo ý Thiên Chúa như thế nào, thì xin cho mọi người ở dưới đất cũng làm theo ý Thiên Chúa như thế.

* Bản dịch TOB: Fais se réaliser ta volonté sur terre à l’image du ciel.

* Bản dịch việt ngữ mới: …biết thi hành ý muốn của Cha ở dưới đất cũng như trên trời…


4/ LỜI XIN THỨ TƯ: “XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HÀNG NGÀY”.

Hôm nay… hằng ngày: Chúng ta sợ thiếu thốn lương thực, nhưng chúng ta cũng không tham lam muốn dư thừa và cũng không đầu cơ tích trữ. Chỉ cần có đủ lương thực cho hôm nay.

* Bản dịch TOB: Donne-nous aujourd’hui le pain don’t nous avons besoin.

* Bản dịch mới: Xin Cha cho mọi người ngày hôm nay đầy đủ lương thực cần dùng.


5/ LỜI XIN THỨ NĂM: “VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ  NỢ CHÚNG CON”.

Nợ và tội: Bản văn Mt nói “nợ”, bản văn Lc nói “tội”. Hai bản bổ túc cho nhau: Tội là một món nợ nhưng còn nặng hơn nợ nữa, bởi vì “nợ” thì người ta có thể cố gắng trả, còn tội thì con người không bao giờ trả nổi, chỉ có thể nài nỉ xin tha mà thôi. Chính vì thế, Mt phân biệt rõ: cái mà ta mắc với Thiên Chúa thì gọi là “tội”, còn cái người ta mắc với ta thì gọi là “nợ”.

như: Bản dịch của nhóm CGKPV dịch là “Vì”. Việc chúng ta tha thứ cho người khác là điều kiện để chúng ta được Thiên Chúa tha cho chúng ta.

Cũng tha: Động từ trong nguyên bản ở thì quá khứ, nên dịch là “đã tha” mới đúng. Ta phải tha cho người khác trước rồi mới đáng được Thiên Chúa tha cho ta.

* Bản dịch TOB: Pardonne-nous nos torts envers Toi, comme nous-mêmes nous avons

pardonné à ceux qui avaient des torts envers nous.

* Bản dịch mới: Xin thứ tha tội lỗi chúng con, cũng như chúng con đã tha thứ cho những

 người có lỗi với chúng con.


6/ LỜI XIN THỨ SÁU: “XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ”.

Chớ để: Thiên Chúa không hề cám dỗ ai, mà ma quỷ cám dỗ với sự cho phép của Thiên Chúa.

* Ý nghĩa: Xin Cha đừng cho chúng gặp phải những cám dỗ quá sức chịu đựng của chúng

 con; và khi gặp cám dỗ, xin cho chúng con đừng chiều theo.

*TOB: Et ne nous expose pas à la tentation.

* Bản dịch mới: Xin đừng để chúng con phải sa chước cám dỗ.


7/ LỜI XIN THỨ BẢY: “NHƯNG CỨU CHÚNG CON CHO KHỎI SỰ DỮ”.

– Sự dữ: TOB dịch sát nguyên bản là: “Tentateur”, tên cám dỗ, tức là Satan.

* Ý nghĩa: Xin cho chúng con đừng rơi vào tròng ách của Satan.

* TOB: mais deliver-nous du Tentateur.

* Bản dịch mới: Nhưng cứu chúng con thoát khỏi ác thần.


TƯ LIỆU

MỘT BẢN DỊCH MỚI

*Lạy Cha trên trời là Cha chúng con

1/ Xin làm cho mọi người biết Cha là Thiên Chúa.

2/ Biết nhìn nhận quyền Cha thống trị.

3/ Biết thi hành ý muốn của Cha

 Ở dưới đất cũng như trên trời.

4/ Xin Cha cho mọi người ngày hôm nay đây, đủ lương thực cần dùng.

5/ Xin thứ tha tội lỗi chúng con, cũng như chúng con đã tha thứ cho những người có lỗi với chúng con.

6/ Xin đừng để chúng con phải sa chước cám dỗ.

 Nhưng cứu chúng con thoát khỏi ác thần.

 


BÀI 13(tiếp theo): TIN TƯỞNG VÀO CHÚA CHA (6,19-7,11)

 Theo Claude Tassin, phần cuối của bài giảng trên núi gom góp 5 giáo huấn rải rác của Đức Giêsu. Tuy nhiên Mt gom góp một cách có suy nghĩ: a/ về nội dung, tất cả 5 giáo huấn đều quảng diễn sự tin tưởng vào Chúa Cha; b/ về hình thức, 5 giáo huấn đều khởi sự bằng một động từ ở thể sai khiến:

1.       Đừng tích lũy kho tàng… (6,19-24)

2.       Đừng quá lo lắng… (6,25-34)

3.       Đừng xét đoán… (7,1-5)

4.       Đừng quăng cho chó… (7,6)

5.       Hãy xin… (7,7-11)


1. Đừng tích lũy kho tàng (6,19-24)

19"Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. 20Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. 21Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

22"Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. 23Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!

------------------

 Giáo huấn này được diễn tả qua hai hình ảnh: kho tàng và chiếc đèn.

9,21 Theo kinh nghiệm thường tình, không có kho tàng nào dưới đất mà an toàn bảo đảm tuyệt đối. Nếu không bị trộm cắp thì cũng bị mối mọt tấn công: áo quần làm mồi cho mối mọt. tiền của làm mồi cho quân trộm cắp. Bởi thế người môn đệ đừng lo tích trữ những thứ tài sản ấy ở kho tàng dưới đất. Tốt hơn, hãy lo tích trữ những thứ của cải khác và ở một nơi khác. Những của cải khác là gì? Chính là phần thưởng hứa ban cho những việc bố thí, cầu nguyện và ăn chay đã được nói ở phía trước. Nơi khác là đâu? Là trên trời, nơi không có mối mọt và trộm cắp. Ngoài ra, quan điểm coi của bố thí như là “gởi gắm” cho Thiên Chúa cũng là quan niệm phổ biến nơi dân do thái (Hs 29,11-12). Người môn đệ phải chọn một trong hai kho tàng ấy. Chính sự chọn lựa sẽ cho thấy “lòng” (chốn sâu thẳm nhất) của mình. Nói cách khác “kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó”.

22-23 Muốn chọn thì phải thấy thật rõ. Bởi thế người môn đệ phải để ý sao cho mắt mình thật sáng, vì “mắt là đền của thân thể”. Dĩ nhiên, chữ “mắt” đây không chỉ một phần của cơ thể mà chỉ cái nhìn, cái đánh giá để chọn lựa. Chính cách đánh giá và lựa chọn sẽ ảnh hưởng tới toàn thể cách sống. Đó là ý nghĩa của câu nói: “Nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu thì toàn thân sẽ tối”.

24 Giáo huấn về sự lựa chọn có thể khiến thính giả đặt vấn đề ngược lại: chọn làm chi, bởi vì đã chọn cái này thì phải bỏ cái kia. Sao không lấy cả hai? Đức Giêsu nói không thể làm như thế được vì sẽ rơi vào thế làm tôi hai chủ, rồi sẽ trọng chủ này và khinh chủ kia. Hai chủ rõ nhất là Thiên Chúa và Mammon. Mammon chính là tiền của được tôn thờ đến mức thần thánh hóa. Tương đương với chữ “Thần Tài” trong tiếng việt.


2. Đừng quá lo lắng (6,25-34)

25"Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? 26Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? 27Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? 28Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; 29thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. 30Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! 31Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? 32Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. 33Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. 34Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy. 

------------------

Nếu người môn đệ nghe theo lời dạy của Đức Giêsu chỉ lo phụng thờ Thiên Chúa chứ không lo đến tiền của thì tương lai sẽ ra sao? Trong đoạn này Đức Giêsu sẽ giải tỏa thắc mắc ấy.

I/ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

– Đừng lo: trong 10 câu này, thuật ngữ “đừng lo” được lập đi lập lại tới 6 lần. Luật mới muốn người môn đệ sống như một người con sống trước mặt Cha mình, là một người Cha “biết rõ chúng con cần gì” (câu 6,8 được lập lại nơi 6,32), do đó đứa con chẳng có gì phải lo.

Chim trời và hoa huệ: Nhưng phải chăng Luật mới dạy chúng ta một lối sống thụ động và lười biếng? Đức Giêsu không dạy điều đó. Mặc dù không lo, nhưng là không lo theo kiểu chim trời và hoa huệ. Chúng đâu có thụ động và lười biếng: chim trời cũng bay tới bay lui tìm kiếm thức ăn; hoa huệ cũng cố châm rễ sâu xuống đất để hút lấy nhựa sống. Có điều là Cha trên trời không để mặc chúng vất vả kiếm sống. Ngài hằng lưu tâm chăm sóc để chúng sống và tươi đẹp. Người môn đệ Thiên Chúa cũng phải vậy: vẫn làm lụng, vẫn kiếm sống, những vẫn phải biết mình còn có một người Cha quan tâm chăm sóc mình, do đó đừng quá lo lắng như “kẻ ngoại” là những kẻ không biết mình có Cha, là những kẻ tưởng mình mồ côi.

-c 33 “Trước tiên các con hãy lo tìm Nước Chúa và sự công chính của Ngài”: Cái mà đứa con phải lo trước tiên là lo Nước Trời và sự công chính (nghĩa công chính của Mt: Thực hiện ý muốn của Cha. Đứa con chỉ cần lo bấy nhiêu thôi. Mọi thứ khác để cho Cha lo).

c 34 “Sự khó ngày nào, ngày ấy đủ lo”: Câu này giúp hiểu rõ hơn ý Đức Giêsu: không phải Ngài dạy ta thụ động, lười biếng. Ngài cũng hiểu rằng đời sống cũng có những nỗi lo. Nhưng vì ta còn có Cha quan phòng, nên không quá lo lắng.


II/ KẾT LUẬN

1- Luật mới mới muốn chúng ta quy hướng trọn vẹn cuộc sống của mình về Nước Trời và Sự Công Chính.

2- Nhưng không phải quy hướng với tinh thần nô lệ, mà là tinh thần Cha Con: đứa con lo tìm Nước Trời và sự công chính (nghĩa của Mt), và người Cha lo chăm sóc mọi phương diện của cuộc sống đứa con.

3- Nếu ai giữ Luật mới theo tinh thần như thế thì cuộc sống thật là thoải mái, bình an.

 

3. Đừng xét đoán (7,1-5)

1"Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, 2vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em. 3Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? 4Sao anh lại nói với người anh em: "Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn", trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh? 5Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em. 

------------------

 “Nền đạo đức mới có thể làm cho người môn đệ tự mãn và có thái độ “dạy đời” đối với kẻ khác. Đức Giêsu đề cao cảnh giác về chuyện này” (chú thích của bản dịch Nhóm CGKPV)

 Bài học “đừng xét đoán” được triển khai bằng nhiều chi tiết cụ thể:

cc 1-2 – “Anh em đừng xét đoán ai, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy”. Lý do của những lời này là Thiên Chúa là Đấng thẩm phán duy nhất. Chỉ có Ngài, do biết rõ từng người, nên mới có quyền xét đoán người ta mà thôi. Người nào xét đoán kẻ khác tức là lấn quyền của Thiên Chúa và do đó sẽ bị Thiên Chúa xét đoán.

“Anh em đong đấu nào thì Thiên Chúa cũng sẽ đong lại bằng đấu ấy”: Tùy cách ta xét đoán người khác khắt khe hay rộng lượng mà Thiên Chúa sẽ rộng lượng hay khắt khe với ta. Hình ảnh “đấu” và “đong” khuyến cáo ta phải đo lường hậu quả của việc xét đoán.

cc 3-5 Phải cố gắng thấy khuyết điểm của chính mình hơn là khuyết điểm của người khác. Hơn nữa, khuyết điểm mà ta thấy nơi người khác không nên làm dịp cho ta xét đoán người ta, trái lại ta phải coi đó là dịp để ta kiểm điểm chính mình.


4. Đừng quăng cho chó (7,6)

“ Của thánh đừng quăng cho chó; ngọc trai chớ liệng cho heo”. Câu này được viết theo lối văn sóng đôi bổ nghĩa. “Của thánh” và “ngọc trai” bổ túc nghĩa cho nhau, chỉ những thứ quý giá; “chó” và “heo” bổ túc nghĩa cho nhau chỉ những kẻ bất xứng. Vậy ý của câu này là đừng lấy thứ quý giá đem cho kẻ không xứng đáng nhận.

Những vấn đề là Đức Giêsu ám chỉ điều gì khi nói thế. Có nhiều cách hiểu:

a/ Thứ quý giá đó là Luật mới của Nước Trời; những kẻ không xứng đáng là dân ngoại. Đức Giêsu cấm không được loan Tin Mừng Nước Trời cho dân ngoại. Đây là lập trường của một số Kitô hữu gốc do thái hẹp hòi không muốn cho người ngoại gia nhập GH.

b/ Thứ quý giá đó là Thánh Thể. Không được cho người lương rước lễ. Lập trường này là của sách Didachè.

c/ Đức Giêsu chỉ nhắc lại hai câu ngạn ngữ bình dân. Ngài nhắc lại chúng để kích thích các môn đệ suy nghĩ: những gì họ đã nghe trong Bài giảng trên núi có phải là quý giá không? Vậy họ phải có thái độ nào cho xứng với thứ quý giá đó?

d/ Ta phải lưu ý tới văn mạch: Ngay phía trước Đức Giêsu đã cảnh cáo đừng xét đoán. Như thế lời khuyên này của Ngài là đừng coi người ngoại là đồ chó, đồ heo nữa để rồi không loan Tin Mừng cho họ.


5. Hãy xin (7,7-11)

7"Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 8Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 9Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? 10Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? 11Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao? 

------------------

 Giáo huấn thứ năm của Đức Giêsu là khuyến khích các môn đệ hãy cầu xin. Cầu xin là một hình thức của cầu nguyện. Ngài dạy ta hãy cầu xin:

– Nền tảng của sự cầu xin là tâm tình Cha Con: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin….”

– Trong tâm tình đơn sơ, đứa con sẽ đơn sơ thành thật xin Cha bất cứ điều gì nó muốn.

– Trong tâm tình tin tưởng, đứa con có thể tin chắc rằng Cha nó sẽ ban cho nó điều nó xin: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho”.

– Nhất là khi nó xin “những sự tốt lành”, đặc biệt là xin Nước Trời (7,13-14)

 


BÀI 14: KHUÔN VÀNG THƯỚC NGỌC (7,12)

12"Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó. 

------------------

Sau khi trình bày các điều khoản chính của Luật mới, Đức Giêsu dùng một câu ngắn gọn để làm khuôn vàng thước ngọc cho các môn đệ mình. Ngài coi đây là bản tóm tắt tất cả những giáo huấn về cách đối xử với tha nhân

“Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta. Vì Luật Mosê và lời các ngôn sứ là thế đó”

Thực ra, trước Đức Giêsu, cũng có những giáo huấn tương tự:

 – Sách Tôbia: “Điều gì con ghét, con chớ làm cho ai” (Tb 4,15)

 – Rabbi Hillel: “Đừng làm cho người khác điều chính mình không thích”

 – Khổng Tử: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”

Nhưng những giáo huấn ấy đều tiêu cực (“đừng làm”; “điều con ghét”; “điều chính mình không thích”; “sở bất dục”)

Điểm độc đáo của giáo huấn Đức Giêsu là tích cực: “hãy làm”, “những gì anh em muốn”



BÀI 15 : PHẦN KẾT CỦA BÀI GIẢNG (7,13-27)

13"Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. 14Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.

15"Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. 16Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? 17Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. 18Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. 19Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. 20Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

21"Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. 22Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: "Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? " 23Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!

24"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành".

------------------

Kết thúc bài giảng Đức Giêsu kêu gọi một thái độ dứt khoát theo hay không theo những giáo huấn của Ngài. Ngài diễn tả ý này qua 4 hình ảnh:

1. Hai con đường, hai cửa (7,13-14)

 Cựu Ước thường dùng những hình ảnh này để khuyến khích sự chọn lựa:

– Đnl 30,15-20: “Ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, Chúa phán, Ngươi hãy chọn lấy sự sống ngõ hầu ngươi được sống”.

– Tv 1: “Vì đường kẻ lành. Giavê quen mọi ngã (ý Thiên Chúa che chở bảo vệ), còn đường kẻ dữ sẽ diệt vong”. 

Con đường rộng và cánh cửa rộng là hình ảnh của cách sống dễ dãi và hưởng thụ; con đường hẹp và cửa hẹp là hình ảnh cách sống khổ chế. Muốn làm môn đệ Đức Giêsu thì phải chọn con đường hẹp và cửa hẹp (chính là con đường mà bài giảng trên núi đã chỉ), tuy nó khổ cực nhưng đã dẫn đến sự sống thật.

2. Hai cây (7,15-20)

Trong GH đã từng có những người tự xưng là “ngôn sứ” với bề ngoài tốt lành như chiên nhưng thực chất họ là sói. Vậy các môn đệ hãy sáng suốt nhận định: đừng căn cứ vào bề ngoài mà hãy xét đến việc làm của họ xem có phù hợp với Luật mới Đức Giêsu dạy không, bởi vì xem quả thì biết cây: “Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu”.

3. Nói và làm (7,21-23)

Đức Giêsu nhấn mạnh việc phải đem Luật mới ra thi hành: Ai nghe và đem ra thi hành thì mới là người môn đệ thật của Đức Giêsu.

– Không phải cứ luôn miệng thưa “Lạy Chúa” mà là môn đệ thật và do đó được vào Nước Trời, nhưng quan trọng nhất là làm theo ý Cha.

– “Ngày ấy”: Đó là ngày chung thẩm (Mt 24-36), tức là ngày xác định rõ ràng ai là môn đệ thật để xứng đáng cho vào Nước Trời.

– “Nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ”: Một số việc kể ra đây là để nói đến một nếp sống hoạt động, hiếu động. Tự bản chất những hoạt động này cũng tốt, nhưng chưa đủ. Cái nguy hiểm của hoạt động là khiến người ta tự mãn, nó còn có thể khiến người ta bỏ quên điều chính yếu là ý Chúa và cách đối xử công bình bác ái với anh em. Ý tưởng này cũng đượ nhấn mạnh trong những bản văn khác của Tân Ước (chẳng hạn xem 1Cor 13).

“Ta chưa biết các ngươi bao giờ”: xem ra đây là một câu nói dối: làm sao mà Đức Giêsu không biết những người đã từng nhân danh Ngài đẻ làm điều này điều nọ. Thực ra đây là một kiểu nói của người do thái, ngụ ý muốn từ chối không nhìn nhận người nói. Ở đây ý của Đức Giêsu là “dù các ngươi có nhân danh Ta mà nói tiên tri, trừ quỷ và làm phép lạ, Ta cũng chẳng đếm xỉa gì tới những hoạt động đó, điều mà Ta muốn thấy là các ngươi thi hành ý Cha.

4. Hai ngôi nhà (7,24-27)

Dụ ngôn xây nhà: nhiều người tưởng trọng tâm của dụ ngôn này là Cái nhà: cái nhà vững vàng tượng trưng cho người khôn, cái nhà dễ xụp tượng trưng cho người ngu. Thực ra trọng tâm là người xây nhà: Kẻ khôn là người xây nhà trên nền tảng chắc chắn, tức là trên việc thi hành ý Cha; còn người ngu là người xây nhà trên nền tảng mong manh, tức là chỉ bằng miệng lưỡi hay chỉ bằng hoạt động sôi nổi bên ngoài.

“Mưa tuôn, song tràn, gió thổi, xô lần vào nhà”: lúc bình thường trời yên gió lặng thì chẳng thể phân biệt ai là khôn, ai là dại; ai là môn đệ thật, ai là môn đệ giả của Chúa. Chỉ trong lúc gian truân thử thách thì mới thấy rõ.

CÁC CÂU 28-29

“Khi Đức Giêsu dạy hết bấy nhiêu lời ấy”: đây là công thức có tác dụng như một cột mốc đánh dấu kết thúc một diễn từ. Trong tác phẩm Mt, có 5 lần công thức này được xử dụng (ở đây và 11,1; 13,53;19,1; 26,1).

“Người giảng dạy như kẻ có uy quyền”: các Tabbi do thái không dám đem uy tín của bản thân để củng cố lời dạy, vì thế họ luôn luôn viện dẫn uy tín của một Rabbi nổi danh khác. Còn Đức Giêsu thì chẳng cần viện dẫn uy tín của ai khác cả.

Kết luận

Diễn từ của Đức Giêsu có nội dung rất hay, nó hoàn thiện hơn Luật cũ. Tuy nhiên dù nó hay mấy đi nữa, nếu chỉ nghe suông rồi bỏ qua thì cũng vô ích. Do đó người môn đệ thật là người chẳng những nghe mà còn biết đem ra thi hành nữa.



BÀI 16: PHẦN TƯỜNG THUẬT CỦA TỔNG THỂ I: 10 PHÉP LẠ (chương 8-9)

1. Tổng quan

1/ Hai chương 8-9 hợp thành phần tường thuật, cân đối với phần diễn từ (hai chương 5-7) theo cái khung quen thuộc của Mt là mỗi tổng thể đều gồm một phần diễn từ và tiếp theo là một phần tường thuật. Cái khung này chứng minh Đức Giêsu không nói suông, mà nói và làm. Chính Ngài nêu gương về điều Ngài dạy các môn đệ ở 7,21: không chỉ nói mà phải làm nữa.

2/ Xét chung tổng thể 1 (5-9), nếu như Mt muốn trình bày Đức Giêsu là một ông Thầy đầy uy quyền công bố Luật Mới của Nước Trời, thì cả hai phần của tổng thể này đều chứng minh điều đó: Phần diễn từ cho thấy Đức Giêsu nói như một người có uy quyền, phần tường thuật cho thấy những việc làm của Ngài cũng đầy uy quyền.


2. Phép lạ, từ ngữ và ý nghĩa

1/ Chúng ta ngày nay thường nghĩ rằng “phép lạ” là một sự can thiệp bất thường làm xáo trộn quy luật tự nhiên, khiến xảy ra một hiện tượng lạ lùng. Vì nghĩ như vậy cho nên người thời nay ít chấp nhận và ít công nhận phép lạ.

Nhưng người do thái quan niệm khác. Theo họ, phép lạ không phải là một sự can thiệp bất thường của Thiên Chúa mà là một sự can thiệp thường xuyên, bởi vì Ngài chẳng những là Đấng Sáng tạo mà còn là Đấng Điều khiển trật tự vũ trụ (người do thái không biết đến những nguyên nhân đệ nhị, họ chỉ biết có nguyên nhân đệ nhất. Mà nguyên nhân đệ nhất là Thiên Chúa)

Những sự can thiệp thường xuyên như thế cũng chẳng làm xáo trộn trật tự thiên nhiên, ngược lại còn dẫn dắt cho thiên nhiên đi đúng đường Ngài đã vạch ra. Thỉnh thoảng Thiên Chúa cho người ta thấy một vài việc có vẻ bất thường, đó là nhằm cho người ta nhận rõ ra sự hiện diện và quyền năng của Ngài đang hoạt động. Bởi quan niệm như vậy, cho nên khi nói về những hiện tượng có vẻ bất thường, Thánh kinh không thích dùng từ “phép lạ” mà thường dùng từ “hành vi quyền năng” (tiếng hy lạp là dunameis). Mt cũng dùng từ dunameis này.

2/ Khi Thiên Chúa thực hiện một “hành vi quyền năng” là qua đó Ngài muốn nói lên một ý nghĩa gì đó. Do đó khi chúng ta đọc một bài tường thuật “phép lạ”, điều ta phải chú ý không phải là khía cạnh lạ thường, mà là ý nghĩa mà hành vi quyền năng muốn mặc khải ra.


3. Các phép lạ được thuật trong Mt 8-9

1- Ý NGHĨA CHUNG:

 Như đã nói phía trước, ý nghĩa chung của những phép lạ này là chứng minh rằng Đức Giêsu là một Đấng uy quyền, chẳng những trong lời nói mà còn trong hành động.

2- 10 PHÉP LẠ, 3 LOẠI VỚI 3 Ý NGHĨA

 Ngoài ý nghĩa chung vừa nói, các phép lạ trong hai chương này còn có thêm một số ý nghĩa nữa mà Mt đã khéo trình bày qua cách xếp chúng thành 3 loại.

Trước tiên chúng ta nhận thấy rằng trong phần tường thuật của tổng thể I này, Mt đã gom góp nhiều phép lạ (mà có thể Đức Giêsu đã làm ở nhiều hoàn cảnh và thời điểm khác nhau). Trong hai chương này có nhiều phép lạ nhất, ngoài ra trong các chương khác thì phép lạ chỉ còn rải rác thôi. Có tất cả 10 phép lạ trong hai chương này:

1/ Chữa người phong cùi 8,1-4

2/ Chữa người đầy tớ của viên đại đội trưởng 8,5-13.

3/ Chữa nhạc mẫu của Phêrô 8,14-15 (và 16-17).

4/ Làm cho bão táp yên lặng 8,23-27.

5/ Chữa hai người bị quỷ ám tại Gadara 8,28-34.

6/ Chữa người bất toại 9,1-8.

7/ Chữa bà băng huyết.

8/ Và cho con gái ông Giairô sống lại 9,18-26.

9/ Chữa hai người mù 9,27-31.

10/ Chữa người quỷ ám bị câm 9,32-34.

10 phép lạ này có thể được xếp vào 3 nhóm, mỗi nhóm mang một ý nghĩa:

 (a) Ba phép lạ đầu (8,1-17) Đức Giêsu là Người Tôi Tớ Đau Khổ

– Đối tượng của 3 phép lạ chữa bệnh đầu là những người bị dân do thái chê bỏ: một người cùi (do đó Đức Giêsu bảo anh phải đi trình với tư tế), một người ngoại (do đó người ngoại này nói “Tôi chẳng đáng Ngài đến nhà tôi”) và một người đàn bà.

– Sau trình thuật về 3 phép lạ này, Mt đã trích dẫn một câu của Isaia (Is 53,4. Câu này năm trong Bài ca về Người Tôi Tớ Đau Khổ)

* Nguyên văn trong Isaia:

Chính các tội lỗi chúng tôi Ngài đã mang.

Chính các đau khổ chúng tôi Ngài đã vác.

* Khi trích dẫn Mt có thay đổi chút ít về từ ngữ:

Những tàn tật chúng ta Ngài gánh nhận

Ngài mang lấy bệnh hoạn chúng ta.

 Ta thấy Mt đã đổi tội lỗi thành tàn tật, đau khổ thành bệnh hoạn. Ngụ ý của Mt: Đức Giêsu chính là Người Tôi Tớ Đau Khổ mà Isaia đã tiên báo, Ngài chữa lành bệnh hoạn phần xác là hậu quả do tội lỗi gây ra.

(b) Ba phép lạ tiếp theo (8,18—9,13): Đức Giêsu mời gọi theo Ngài.

– Trước khi tường thuật các phép lạ, Mt chen vào một bài tường thuật về hai người muốn đi theo Đức Giêsu (8,18-22).

– Sau khi thuật 3 phép lạ, Mt lại chen vào tường thuật việc Đức Giêsu gọi Matthêu đi theo Ngài (9,9-13).

Kết thúc tường thuật 3 phép lạ này là câu tuyên bố “Ta không đến kêu gọi các người công chính, nhưng kêu mời những kẻ bất lương” (9,13)

Đối tượng của 3 phép lạ này quả là những đối thủ đáng gờm”: bão táp, quỷ ám, tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu đã vượt thắng tất cả; Bão táp yên lặng, quỷ bị trục xuất và Đức Giêsu tha tội. Như thế, 3 phép lạ này cho thấy Đức Giêsu là người có uy quyền thượng đẳng. Mà cũng chính dựa vào uy quyền thượng đẳng này mà Ngài mới cất lời kêu gọi người ta hãy bỏ hết mọi sự để theo Ngài.

(c) Bốn phép lạ cuối (9,14-34): Đức Giêsu đòi người ta phải chọn lựa.

– Khởi đầu cho loạt trình thuật này là trình thuật về vấn đề cũ và mới (9,14-17): là luật cũ của do thái giáo, mới là luật mới của Đức Giêsu. Và bởi vì “chẳng ai dùng vải mới để vá áo cũ… cũng như chẳng ai đổ rượu mới vào bầu cũ” (16-17), nghĩa là cũ và mới không thể dung hợp với nhau được, cho nên phải dứt khoát chọn lựa hoặc theo cũ, hoặc theo mới.

– Các tường thuật phép lạ này đều cho thấy hai thái độ, hai lập trường: một số người tin Đức Giêsu, và một số khác không tin:

* Sau khi Đức Giêsu chữa bà loạn huyết và cứu sống con gái ông Giairô, thì “dân chúng chế giễu Ngài”

* Khi chữa hai người bị quỷ ám, Đức Giêsu hỏi: “Các anh có tin không?”

* Sau khi Đức Giêsu chữa người bị quỷ ám câm, biệt phái nói Ngài nhờ sức quỷ vương.

 


BÀI 17: 3 PHÉP LẠ CHỮA BỆNH-ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI TÔI TỚ (8,1-17)


1Khi Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. 2Bỗng có một người phong hủi tiến lại, bái lạy Người và nói: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch." 3Người giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi. 4Rồi Đức Giê-su bảo anh: "Coi chừng, đừng nói với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế và dâng của lễ, như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết." 

------------------

c 2 –“Người phong hủi: Ngày xưa người ta chưa hiểu bệnh phong theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay (một bệnh do vi trùng Hansen). Họ coi tất cả những chứng da liễu cách chung đều là bệnh phong. Người mắc bệnh này sẽ bị coi là ô uế và phải bị khai trừ khỏi xã hội loài người (Lv 13-14).

 – Thái độ của người phong hủi có hai nét đặc biệt: Anh bái lạy Đức Giêsu và gọi Ngài là Chúa (Kyrios).

 – “Nếu Ngài muốn”: đức tin của anh này rất mạnh. Anh tin rằng chỉ cần Đức Giêsu muốn là anh sẽ khỏi.

 – “Ngài có thể làm cho tôi được sạch”: động từ “làm cho sạch” xuất hiện 3 lần trong tường thuật này. Người do thái cho rằng bệnh cùi là hình phạt Thiên Chúa gửi đến kẻ nhơ uế. Kẻ bị cùi bị liệt vào hạng nhơ uế cho nên không được tham gia những sinh hoạt xã hội với các người khác, đặc biệt là tham gia các nghi lễ phụng tự. Khi khỏi bệnh, người đó phải qua một nghi lễ tẩy uế để chứng thực mình đã sạch (Lv 14,1-32)

– c 3 – Thái độ của Đức Giêsu rất ưu ái: Ngài không ngại sự ô uế của anh. Ngài không sợ bị lây ô uế. Ngài”giơ tay đụng vào anh”.

 – “Tôi muốn, anh sạch đi”: Đức Giêsu cố tình dùng lại những chữ mà người cùi đã dùng. Anh nói “Nếu Ngài muốn”, Ngài đáp “Tôi muốn”. Nghĩa là Ngài đáp ứng người ta theo mức độ tin của người ta.

c 4 – Một mặt, Đức Giêsu cấm “đừng nói với ai cả”, mặt khác Ngài truyền “Hãy đi trình diện tư tế”. Đức Giêsu không muốn phô trương lớn chuyện về việc này cho quần chúng, nhưng muốn các tư tế biết chuyện này, để họ hiểu Ngài chính là Messia Tôi Tớ mà Thiên Chúa gửi đến đúng như lời hứa xưa. Một lý do nữa là Ngài muốn cho anh cùi này được hội nhập lại vào xã hội.

Phép lạ này chứng minh Đức Giêsu là Người Tôi Tớ mà Isaia đã tiên báo. Kẻ đầu tiên mà Người Tôi Tớ cứu thoát là một kẻ bị loại ra ngoài xã hội do một chứng bệnh nan y.


5Khi Đức Giê-su vào thành Ca-phác-na-um, có một viên đại đội trưởng đến gặp Người và nài xin: 6"Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm." 7Người nói: "Chính tôi sẽ đến chữa nó." Viên đại đội trưởng đáp: 8"Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh. 9Vì tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: "Đi! ", là nó đi, bảo người kia: "Đến! ", là nó đến, và bảo người nô lệ của tôi: "Làm cái này! ", là nó làm." 10Nghe vậy, Đức Giê-su ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng: "Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế. 11Tôi nói cho các ông hay: Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. 12Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng." 13Rồi Đức Giê-su nói với viên đại đội trưởng rằng: "Ông cứ về đi! Ông tin thế nào thì được như vậy! " Và ngay giờ đó, người đầy tớ được khỏi bệnh. 

------------------

 Claude Tassin đề nghị đọc tường thuật này như xem một đoạn phim gồm 5 cảnh

cc 5-7 Giới thiệu hai nhân vật chính là Đức Giêsu và viên đại đội trưởng. Hai nhân vật trao đổi ngắn gọn với nhau nhưng đủ để giải quyết xong xuôi sự việc. Đại đội trưởng thưa: “Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm”; Đức Giêsu đáp: “Chính tôi sẽ đến chữa nó”

cc 8-9 Cận cảnh viên đại đội trưởng: ông lên tiếng và bộc bạch niềm tin sâu xa. Ông không muốn làm phiền Đức Giêsu và xin Ngài hành động từ xa. Ông lập luận rằng: Tuy ông có quyền nên có thể ra lệnh cho binh sĩ động tay (làm) động chân (đi), nhưng quyền của ông có giới hạn. Lập luận này khiến hiểu ngầm rằng quyền năng của Đức Giêsu vô hạn.

c 10 Cận cảnh Đức Giêsu: Ngài nói với những kẻ đang theo Ngài rằng: Ngài kinh ngạc vì lòng tin của viên đại đội trưởng. Ông là một người ngoại thế mà rất tin tưởng nơi Ngài trong khi chưa có người do thái nào tỏ ra tin tưởng Ngài như thế.

c 11-12 Ống kính chiếu sát cái nhìn của Đức Giêsu. Ngài hướng về một chân trời xa thẳm: vào thời cuối cùng, Thiên Chúa sẽ kêu mời nhân loại. Từ mọi nơi, dân ngoại sẽ tuôn về, bước vào Nước Trời đang khi những kẻ thừa tự đương nhiên của Nước Trời là dân do thái lại bị loại khỏi đó, bởi vì họ đã không tin vào vị sứ giả của Thiên Chúa. Người ta sẽ được xét xử dựa vào niềm tin chứ không phải vào gốc gác từ đâu đến.

c 13 Ống kính quay lại cảnh chung hai nhân vật> Viên đại đội trưởng tuyên xưng quyền năng của Đức Giêsu, quyền năng mà Ngài đã công bố ở Bài giảng trên núi. Niềm tin ấy khiến ông nhận được phép lạ ông xin “vào chính lúc ấy” và lại là một phép lạ đặc biệt được thực hiện từ xa.

Như thế, sau một người cùi, kẻ mạt hạng trong Do thái giáo, bây giờ đến lượt một người ngoại đạo được nhận vào Nước Chúa.


14Đức Giê-su đến nhà ông Phê-rô, thấy bà mẹ vợ ông đang nằm liệt và lên cơn sốt. 15Người đụng vào tay bà, cơn sốt dứt ngay và bà chỗi dậy phục vụ Người. 

------------------

1/ So sánh với Mc 1,29-31 và Lc 4,38-39: bài tường thuật này của Mt gồm ít nhân vật hơn:

 – Mt không nói đến các môn đệ cùng đi với Đức Giêsu, mà chỉ kể một mình Ngài.

 – Mt không nói nhà của Phêrô và Anrê mà chỉ kể tên một mình Phêrô.

 Như thế Mt tập trung chú ý vào hai nhân vật chính:

(a) Đức Giêsu, mà văn mạch đã cho thấy là Người Tôi Tớ

(b) Phêrô, đại diện cho GH.

Từ đó ý nghĩa của phép lạ này là: Người Tôi Tớ đã đến trong GH để chữa lành khổ đau của

loài người.

2/ Về nhạc mẫu của Phêrô, có hai chi tiết rất ý nghĩa:

– Bà “chỗi dậy”: đây cũng là động từ được dùng để nói về việc phục sinh.

– và “phục vụ Ngài”: phục vụ Chúa là công việc chính của GH.

Ta thấy được ý nghĩa thứ hai của Mt: nhờ hoạt động của Người Tôi Tớ. loài người đã được

phục sinh và lo phục vụ Chúa trong GH.

3/ Qua tường thuật này, Mt cũng quảng diễn tiếp ý nghĩa đã được nói qua hai phép lạ trước: Đức Giêsu đã lần lượt đón nhận vào Nước Trời một người bị xã hội ruồng bỏ (người cùi), một người ngoại viên đại đội trưởng), và một phụ nữ, thuộc hạng bị xã hội do thái coi là hạng thứ yếu


ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI TÔI TỚ( 8,16-17)

16Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, 17để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta. 

------------------

Hai câu này đúc kết ý nghĩa của loạt 3 phép lạ đầu (đều là phép lạ chữa bệnh): Đức Giêsu chính là Người Tôi Tớ mà Isaia đã tiên báo.

Nhưng đáng chú ý là Mt đã sửa đổi vài chữ trong lời tiên tri của Isaia: Isaia nói với Người Tôi Tớ “mang vào” thân Ngài những đau khổ của loài người (nghĩa là Ngài chịu khổ thay cho loài người), còn chữ mà Mt dùng lại có nghĩa là “cất đi”; Đức Giêsu còn hơn Người Tôi Tớ mà Isaia tiên báo.



BÀI 18: 3 PHÉP LẠ BIỂU LỘ QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC GIÊSU MỜI GỌI THEO NGÀI (8,18-9,13)

Loạt phép lạ này được Mt dàn dựng rât khéo để làm nổi bật ý nghĩa Đức Giêsu mời gọi người ta đi theo Ngài. Ý nghĩa này được gián tiếp trình bày qua tường thuật mở đầu về hai người xin đi theo Ngài, và tường thuật kết thúc về việc Mt đi theo Ngài.

HAI NGƯỜI XIN ĐI THEO ĐỨC GIÊSU (8,18-22)

18Thấy xung quanh có đám đông, Đức Giê-su ra lệnh sang bờ bên kia. 19Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo." 20Đức Giê-su trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

21Một môn đệ khác thưa với Người: "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã." 22Đức Giê-su bảo: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ."

------------------

c 18 Khung cảnh: những phép lạ trước đã khiến đông người bám quanh Đức Giêsu. Nhưng Ngài không muốn ở lại vui hưởng bầu khí biết ơn đó. Ngài ra lệnh “sang bờ bên kia”. Đó là miền Thập Tỉnh, vùng của dân ngoại. Rời một nơi chẳng những quen thuộc mà còn thân thương đẻ đến một nơi khác, xa lạ và có lẽ còn thù nghịch nữa, đây quả là một sự từ bỏ to lớn.

 Trong khung cảnh như thế, có hai người xin đi theo Đức Giêsu.

c 19-20 Người thứ nhất là một kinh sư. Có lẽ qua việc nghiên cứu Thánh Kinh và quan sát Đức Giêsu, anh đã xác nhận Đức Giêsu chính là một Rabbi, một bậc “Thầy” đáng cho anh đi theo. Do đó anh rất nhiệt tình “THưa Thầy, Thầy đi đâu tôi cũng xin đi theo”. Nhưng Đức Giêsu đoán rằng có lẽ anh chưa hiểu rõ con đường đi theo Ngài. Theo Ngài không phải để sẽ trở thành một Rabbi với địa vị thoải mái là chủ sự các buổi họp ở hội đường, trái lại nếu muốn theo Ngài thì phải chấp nhận một lối sống từ bỏ, từ bỏ tất cả mọi tiện nghi, kể cả tiện nghi tối thiểu là có một mái ấm và một chỗ tựa đầu. Hình ảnh Ngài dùng là một lối sống còn thiếu thốn hơn cả lối sống của loài chim, loài chồn.

c 21-22 Người thứ hai chỉ ngỏ ý sẽ đi theo nhưng chưa theo ngay bây giờ. Anh muốn chu toàn đạo hiếu trước (chôn cất cha mình). Khi đã xong xuôi rồi mới theo. Qua câu trả lời, Đức Giêsu nói việc đi theo Ngài quan trọng hơn mọi việc khác, bởi vì người theo Ngài thì đã là người của Nước Trời, phải ưu tiên lo việc Nước Trời, còn việc thế gian (chôn cất) thì cứ để cho người thế gian (kẻ chết) lo

 – Về cái chết của cha người thứ hai này, một số nhà Thánh Kinh giải thích rằng thực ra cha anh vẫn còn mạnh khỏe. Anh xin được ở nhà lo cho cha cho tới khi cha anh chết, anh chôn cất xong xuôi rồi mới đi theo Đức Giêsu. Như thế sự trì hoãn của anh có thể rất lâu. Nhưng cũng có thể cha anh vừa chết, mà theo tục lệ thì phải chôn cất người chết trong vòng 24 giờ. Nếu vậy thì anh không xin trì hoãn lâu, và hơn nữa sự trì hoãn này cũng có lý do chính đáng. Nếu hiểu theo trường hợp thứ hai này thì đòi hỏi của Đức Giêsu về sự từ bỏ càng có tính triệt để hơn.

 * Ta thấy người thứ nhất rất là hồ hởi thì Đức Giêsu ghìm nhiệt tình của anh xuống, còn người thứ hai ngập ngừng thì Ngài lại khích lệ dấn bước. Hai thái độ này không mâu thuẫn những nhất quán: nhắc kẻ bốc đồng suy nghĩ kỹ về khía cạnh từ bỏ, và thúc giục kẻ chần chờ hãy nhanh chóng từ bỏ.

 * Mt không viết tiếp hai người này rốt cuộc có đi theo Đức Giêsu không, vì chi tiết này không quan trọng. Quan trọng là câu chuyện của họ khơi lên trong độc giả câu hỏi mà chính độc giả phải tự trả lời: họ có sẵn sàng từ bỏ mọi sự để đi theo Đức Giêsu không?

 Và để độc giả có thêm cơ sở để chọn lựa. Mt trình bày 3 phép lạ của Đức Giêsu chứng tỏ Ngài là một Đấng rất quyền phép, do đó rất đáng được người ta đi theo, dù với cái giá là phải từ bỏ mọi sự.


PHÉP LẠ IV: DẸP YÊN BIỂN ĐỘNG (8,23-27)

23Đức Giê-su xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. 24Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. 25Các ông lại gần đánh thức Người và nói: "Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất! " 26Đức Giê-su nói: "Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin! " Rồi Người chỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ.

27Người ta ngạc nhiên và nói: "Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? "

------------------

 Phép lạ này chứng minh Đức Giêsu có uy quyền trên sức mạnh của sự dữ.

– Trong tường thuật này, Mt không đơn giản nhìn cơn biển động như một sự xáo trộn trật tự thiên nhiên, mà còn nhìn đó là sự hoành hành của sức mạnh sự dữ:

(a) người do thái vẫn coi biển cả là sào huyệt của ma quỷ, do đó biển động là dấu hiệu ma quỷ hoành hành.

(b) Mt cũng nghĩ như thế cho nên từ ngữ ông dùng để chỉ biển động là “cơn seismos”, một từ rất đặc biệt của Mt.

(c) Mt còn dùng hai động từ “ngủ” và “thức” là những động từ có liên hệ đến việc Ngài chết và sống lại: quyền lức sự dữ đã hoành hành đến nỗi khiến Đức Giêsu phải chết, nhưng sau đó Ngài đã sống lại và từ đó hoàn toàn bá chủ sức mạnh gian tà.

– Tưởng cũng nên để ý tời lời Đức Giêsu nói với các môn đệ “Hỡi những kẻ hèn tin”: Trong Tân Ước chữ “tin” có nghĩa là tin tưởng kèm theo phó thác vào Chúa Quan Phòng. Như thế Đức Giêsu muốn kẻ theo Ngài chẳng những phải tin mà còn phải phó thác, cho dù đang ở trong hoàn cảnh rất khó khăn nguy hiểm.

– Các môn đệ đã ý thức quyền năng đặc biệt ấy của Ngài nên đã nói “Người này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh”

 

PHÉP LẠ V: CHỮA HAI NGƯỜI BỊ QUỶ ÁM (8,28-34)

28Khi Đức Giê-su sang bờ bên kia, và đến miền Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29Chúng la lên rằng: "Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao? " 30Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31Bọn quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia." 32Người bảo: "Đi đi! " Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33Các người chăn heo chạy trốn vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ. 

------------------

 Phép lạ này chứng minh sức mạnh của Đức Giêsu trên ma quỷ.

c 28 – “Miền Gadara”: rất khó xác định được địa danh này trên bản đồ (bản dịch của Nhóm CGKPV nói đây là một thị trấn trong vùng đông nam hồ Galilê, cách bờ hồ mấy cây số, thuộc miền Thập Tỉnh). Nhưng ta có thể biết chắc một điều là nó thuộc miền dân ngoại.

  “Có hai người bị quỷ ám”: Mc và Lc nói chỉ có một người. Mt nói hai người có lẽ để đáp ứng đòi hỏi của Luật về giá trị của sự làm chứng: phải có từ hai người trở lên thì lời chứng mới có giá trị.

 – “Từ trong đám mồ mả”: chi tiết này muốn nói họ rất ô uế.

 – “Ra đón Ngài”: Ma quỷ đã chờ sẵn Đức Giêsu

c 29 – “Hỡi Con Thiên Chúa”: người ta không biết Đức Giêsu là Đấng Messia, nhưng ma quỷ

biết.

  “Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?”: người ta tin rằng Thiên Chúa cho ma quỷ được tạm thời tự do hành động trong một thời gian. Nhưng khi tới lúc đã định thì chúng sẽ bị xét xử và không vòn được hoạt động nữa (Hênóc 15-16). Ở đây ma quỷ “khiếu nại” vì chưa tới lúc đó.

c 30-31 – Nhưng chúng biết lời khiếu nại ấy sẽ không được chấp thuận, nên chúng nài xin được có một chỗ khác để náu thân. Theo quan niệm thời đó, ma quỷ phải có nơi náu thân (Mt 12,43). Nơi náu thân mà chúng xin là đàn heo, vốn là vật ô uế rất thích hợp với chúng.

c 32 – Đức Giêsu chấp thuận lời xin này. Quỷ liền nhập vào đàn heo, và cả đàn heo lao xuống biển chết hết. Chi tiết này khiến nhiều người thắc mắc. Nhưng ta có thể hiểu như sau:

(a) ơn giải thoát 2 con người khỏi nô lệ tội lỗi quý hơn mạng sống của đàn heo rất nhiều.

(b) chính Đức Giêsu muốn như thế để những người chứng kiến phải thắc mắc tự hỏi Ngài  là ai?

c 33-34 Dân thành đã thắc mắc. Tuy nhiên thắc mắc ấy không dẫn họ tới niềm tin vào Đức Giêsu được, vì họ tiếc của. Họ thà xin Ngài rời khỏi vùng của họ.


PHÉP LẠ VI: CHỮA NGƯỜI BẠI LIỆT (9,1-9)

1Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình. 2Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi! " 3Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: "Ông này nói phạm thượng." 4Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói: "Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy? 5Trong hai điều: một là bảo: "Con đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy mà đi", điều nào dễ hơn? 6Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội - bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt: "Đứng dậy, vác giường đi về nhà! " 7Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà. 8Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.

9Bỏ nơi ấy, Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi! " Ông đứng dậy đi theo Người.

------------------

c 1 – Đức Giêsu “trở về thành của mình”, tức thành Capharnaum. Ngài đã chọn thành này để làm nơi Ngài “thắp lên ánh sáng chiếu soi những kẻ còn trong bóng tối tăm” (Mt 4,12.16)

c 2 So với Mc 2,1-12 và Lc 5,17-26 thì Mt đã giản lược hết mọi chi tiết thứ yếu, chỉ giữ lại 2 chi tiết quan trọng nhất mà thôi, đó là đức tin của các thân nhân người bệnh và quyền tha tội của Đức Giêsu.

Đức tin của các thân nhân thể hiện trong việc họ “mang” người bệnh đến với Ngài. Động từ này được Mt dùng tất cả 15 lần.

“Con đã được tha tội rròi”: tha tội có nghĩa là đánh đổ quyền lực của tội lỗi và sự thống trị của ma quỷ. Đây là một trong những dấu chỉ rằng Nước Thiên Chúa đã đến (Mt 4,1-11)

c 3 – “Các kinh sư nghĩ bụng rằng ông này nói phạm thượng”: con người có quyền (và bổn phận) phải tha thứ cho nhau về những lỗi xúc phạm tới nhau (trong kinh Lạy Cha ở Mt 6,9-13. Mt phân biệt “tội” là việc xúc phạm tới Thiên Chúa, còn “lỗi” là việc xúc phạm tới người khác). Nhưng tha tội là độc quyền của Thiên Chúa.

c 45 – Câu hỏi của Đức Giêsu không phải là lời mời người ta chiêm ngưỡng quyền năng của Ngài hoặc đưa ra bằng chứng về thiên tính của Ngài, mà là nhằm thách đố họ chấp nhận hay gạt bỏ lời tuyên bố của Ngài rằng Nước Thiên Chúa đã thực sự đến rồi. Thực vậy, chữa bệnh và tha tội là 2 dấu chỉ về việc phục hồi trật tự thế giới đã bị ma quỷ làm xáo trộn.

c 6“Ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội”: Theo sách Đanien, Con Người là một nhân vật thiên giới, được Thiên Chúa ban cho quyền xét xử vũ trụ. Còn Đức Giêsu thì cho biết thêm rằng ngay ở cõi trần này, Con Người đã được Thiên Chúa ban cho quyền tha tội rồi.

c 7-8 Phản ứng của mọi người là “sợ hãi” (nỗi sợ thánh) và tôn vinh Thiên Chúa vì “đã ban cho loài người quyền năng như thế”. Ta hãy chú ý chữ “loài người” ở số nhiều (dịch sát: những người). Chi tiết này ngụ ý quyền đó Thiên Chúa không chỉ ban cho một mình Đức Giêsu mà còn ban cho GH của Ngài nữa.

Kết luận: Ở 7, 29 tác giả đã nói Đức Giêsu là Đấng uy quyền trong cả lời nói lẫn hành động. Ở đây, tác giả đưa ra một bằng chứng rõ ràng về quyền năng ấy thể hiện trong hành động chữa bệnh và tha tội cho một người bất toại.

 

KÊU GỌI MATTHÊU: 9,9-13

9Bỏ nơi ấy, Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi! " Ông đứng dậy đi theo Người.

10Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ. 11Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng: "Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy? " 12Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. 13Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi."

------------------

 Tường thuật này nằm cuối phân đoạn 3 phép lạ chứng tỏ quyền năng của Đức Giêsu và kêu gọi người ta đi theo Ngài. Việc Mt đi theo Đức Giêsu là kết quả của lời kêu gọi đó.

c 9: Kêu gọi Mt

“Trạm thu thuế”: Capharnaum là một thành phố biên giới và trên bờ hồ Galilê. Vì thế trạm này nhằm thu thuế các tàu bè từ Syria đến và các hải sản.

“Tên là Matthêu”: Lc và Mc gọi ông là Lêvi. Về cái tên Matthêu này, có hai giả thuyết: (a) ông có hai tên, như thói quen của nhiều người do thái. (b) Tên Matthêu là do Đức Giêsu đặt cho sau khi gọi ông, có nghĩa là “hồng ân Thiên Chúa”

“Anh hãy theo tôi”: Đức Giêsu đã gọi một số người đi theo làm môn đệ Ngài (Mt 4,18-22). Điều đặc biệt hôm nay là Ngài gọi một người thu thuế. Người do thái coi hạng người này là tội lỗi công khai vì 3 lý do: (a) Họ làm tay sai cho đế quốc Rôma xâm lược; (b) Họ thường gian lận; (c) do nghề nghiệp, họ thường đụng tới những đồng tiền rôma trên có khắc những hình ảnh và câu viết ngoại đạo.

“Ông đứng dậy đi theo Ngài”: “Đứng dậy đi theo” là kiểu nói thông dụng trong Cựu Ước, chỉ một thái độ đáp ứng nhanh chóng và dứt khoát.

c 10: Bữa tiệc mừng

 Theo Mc thì bữa ăn này thực ra là một bữa tiệc lớn, và do Mt khoản đãi để bày tỏ niềm vui được Đức Giêsu gọi làm môn đệ. Những người thu thuế và tội lỗi khác cũng chia sẻ niềm vui ấy vì thấy Đức Giêsu đã quan tâm tới hạng người như họ.

11-13: Cuộc tranh luận

– Những người pharisêu đã phản đối việc Đức Giêsu đã cùng ăn với những kẻ thu thuế và tội lỗi, vì theo họ việc ăn cùng bàn biểu lộ sự hiệp thông.

– Để trả lời họ. Đức Giêsu mở đầu bằng trích một câu châm ngôn “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần”. Câu này ngụ ý gài là vị lương y tinh thần của nhân loại, là vị Messia phải đến để chữa tật nguyền của chúng ta, là vị mục tử săn sóc những con chiên đau ốm và bị thương (Is 61,1 tt Êd 34,16t)

– Tiếp đó Ngài dùng một công thức quen thuộc của giới Rabbi “Hãy về học cho biết”, nghĩa là Ngài sắp cho họ một bài học.

– rồi Ngài trích một đoạn của Hôsê (Hs 6,6) “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế”, ngụ ý trách kiểu đạo đức của biệt phái chỉ là hình thức bề ngoài mà không có lòng nhân từ bên trong.

– Và Đức Giêsu kết luận “Tôi không đến để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi”. Câu kết này vừa lấy lại ý chính của những câu trước vừa ngụ ý mỉa mai: nhiều khi kẻ cho rằng mình chẳng cần thầy thuốc lại là kẻ cần thầy thuốc nhất.

* Câu trả lời của Đức Giêsu là chìa khóa của cả Tân Ước (sau này thánh Phaolô sẽ triển khai thành một đề tài thần học): Điều được đòi hỏi trước hết nơi một người muốn vào Nước Trời là Đức tin chứ không phải là sự hoán cải cách sống (tuy cũng cần nhưng không đòi phải có trước); việc vào Nước Trời là một ơn ban chứ không phải là phần thưởng cho một cuộc sống đạo đức trước đó.

 

TRANH LUẬN VỀ VIỆC ĂN CHAY (9, 14-17)

14Bấy giờ, các môn đệ ông Gio-an tiến lại hỏi Đức Giê-su rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? " 15Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay. 16Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. 17Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai." 

------------------

 Sau tường thuật Đức Giêsu gọi Mt và bữa tiệc mừng do Mt khoản đãi, tác giả chen vào một cuộc tranh luận về vấn đề ăn chay.

c 14 “Bấy giờ” Trong bữa tiệc đó, hoặc ngay sau bữa tiệc: ”Tại sao chúng tôi và các người pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?”. Có lẽ bữa tiệc được tổ chức đúng vào thời gian người do thái ăn chay hằng năm (Mc 2,18) cho nên mới gây thắc mắc. Luật Lêvi 16,19-31 buộc ăn chay mỗi năm một lần vào ngày lễ Đền Tội. Ngoài ra thỉnh thoảng người ta ăn chay thêm trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, chẳng hạn để cầu mưa. Những người đạo đức, chẳng hạn nhòm Gioan Tẩy Giả còn tự ý ăn chay thêm nhiều ngày nữa. Nhóm pharisêu ăn chay mỗi tuần 2 ngày. Như thế, việc Đức Giêsu và các môn đệ Ngài không ăn chay không phải là lỗi luật.

– Khi trả lời Đức Giêsu không chỉ muốn nói về việc ăn chay, mà còn muốn đưa người ta đến vấn đề rộng lớn hơn, đó là tâm tình và thái độ phải có khi sống trong thời gian Ngài đang tại thế. Đây là thời gian tiệc cưới, thời gian vui mừng, thời kỳ trăng mật. cho nên điều quan trọng trong thời gian này không phải là thắc mắc nhau về vấn đề này nọ, mà là mở rộng cõi lòng để hòa mình vào hoàn cảnh mới. Đón nhận Tin Mừng quan trọng hơn mọi xét nét chi li về luật lệ.

– Ngài cũng nhắc lại một lý do ban ý nghĩa cho việc ăn chay: trong thời Cựu Ước, ăn chay là để chờ đón Đấng Messia. Bây giờ Đấng Messia đang đến thì lý do đó không còn tồn tại nữa.

– Ngài cũng tiên báo sẽ tới lúc Ngài chịu nạn chịu chết và ra đi (“chàng rể bị đem đi”), khi đó các môn đệ sẽ ăn chay để chờ ngày Ngài trở lại.

c 16-17 Vấn đề ăn chay có liên quan tới vấn đề khác quan trọng hơn là cũ và mới. “Cũ” là Cựu Ước và “mới” là Tân Ước. Đã sống trong thời Tân Ước thì phải có tinh thần của Tân Ước. Nói cách khác, phải thay đổi não trạng để đi vào thời đại Messia. Đó là ý nghĩa câu ngạn ngữ mà Ngài trích dẫn: “Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ… Rượu mới phải đổ vào bầu mới”. Thế nhưng tuy Đức Giêsu đến khai mở thời kỳ mới, nhưng Ngài không muốn hủy bỏ những gì thuộc Cựu Ước, trái lại Ngài muốn “giữ được cả hai”. Bằng cách nào? Bằng Cách dùng ánh sáng Tin Mừng để giải thích Cựu Ước.

 

NHẬN ĐỊNH VỀ 3 PHÉP LẠ GIỮA

Đối tượng của 3 phép lạ này quả là những “đói thủ đáng gờm”: bão táp, quỷ ám và tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu đã vượt thắng tất cả: bão táp yên lặng, quỷ bị trục xuất và Đức Giêsu tha tội. Như thế, 3 phép lạ này cho thấy Đức Giêsu là người có uy quyền thượng đẳng. Mà cũng chính dựa vào uy quyền thượng đẳng này mà Ngài mới cất lời kêu gọi người ta hãy bỏ hết mọi sự mà theo Ngài.



BÀI 19: 4 PHÉP LẠ CUỐI ĐỨC GIÊSU ĐÒI NGƯỜI TA CHỌN 9,18-38

 

PHÉP LẠ VI VÀ VII: Chữa người phụ nữ loạn huyết và cứu sống con gái một viên kỳ mục (9,18-26)

18Người còn đang nói với họ như thế, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói: "Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống." 19Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.

20Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người, 21vì bà nghĩ bụng: "Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu! " 22Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói: "Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con." Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.

23Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh; thấy phường kèn và đám đông xôn xao, Người nói: 24"Lui ra! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " Nhưng họ chế nhạo Người. 25Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. 26Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.

------------------

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều ghi chuyện này, nhưng Mt ghi ngắn gọn nhất: chỉ trong 9 câu (Mc 22 câu; Lc 16 câu)

c 18I –“Một kỳ mục”: Lc 8,40-56 và Mc 5,21-43 cho biết rõ ông này tên là Giaia.

 – “Con gái tôi vừa chết”: Trong khi Lc và Mc nói cô này chỉ hấp hối, thì Mt nói cô đã chết. Như thế càng cho thấy rõ quyền năng của Đức Giêsu: Ngài chiến thắng cả cái chết.

 – “Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu là nó sẽ sống lại”: Dù con gái mình chết rồi nhưng vị kỳ mục tin rằng Đức Giêsu có thể làm cho nó sống lại. Thật là một đức tin mạnh mẽ. Chính đức tin mạnh mẽ này khiến cho ông đáng được hưởng phép lạ.

c 20 – “Một người đàn bà bị băng huyết”: bệnh này khiến người mang nó bị coi là ô uế, và người nào bị người này đụng tới thì cũng lây ô uế. Hơn nữa, người do thái coi máu là biểu hiện của sự sống. Bà này bị mất máu nghĩa là đang mất dần sự sống. Như thế phép lạ này có liên hệ với phép lạ cứu sống con gái vị kỳ mục.

 “đã 12 năm”: thời đó người ta coi bệnh băng huyết là bất trị. Bà này lại mang chứng bệnh này rất lâu. Như vậy càng tôn uy quyền của Đức Giêsu hơn.

 – “sờ vào tua áo Ngài”: áo biểu thị người mặc áo. Sờ tua áo cũng là sờ vào người mặc áo. Luật cấm người ô uế sờ vào người khác, mà bà này dám sờ vào tua áo Đức Giêsu, chứng tỏ bà rất tin tưởng. Một đức tin thúc đẩy bà dám làm một điều mà luật cấm.

c 22 “Lòng tin của con đã cứu chữa con”: Mt không dùng động từ “chữa lành” (chữa bệnh) mà dùng động từ “cứu chữa” (liên hệ đến ơn cứu độ)/ Trong đoạn này động từ “cứu chữa” được dùng tới 3 lần, bởi vì đối với người do thái bệnh này thuộc loại bất trị, chỉ có ơn trên mới cứu được thôi. Câu này của Đức Giêsu xác nhận nguyên do của việc khỏi bệnh: đó là nhờ đức tin.

c 23-24 –“phường kèn, đám đông xôn xao”: những dấu hiệu rõ ràng rằng bệnh nhân đã chết.

Vậy mà Đức Giêsu bảo “Con bé có chết đâu. Nó ngủ thôi”. Bởi thế người ta mới cười nhạo Ngài. Nhưng Đức Giêsu có lý: đối với Ngài và những kẻ có lòng tin, chết chỉ là một giấc ngủ.

C 25 – “Ngài cầm lấy tay con bé. Nó liền chỗi dậy”: phép lạ xảy ra sau một cử chỉ rất đơn giản (cũng như phép lạ chữa người phụ nữ lọan hyết xảy ra chỉ do việc bà sờ vào tua áo Đức Giêsu).

 Qua tường thuật này, Mt muốn trình bày Đức Giêsu đến khai mở triều đại Nước Thiên Chúa, trong đó mọi bệnh tật và chết chóc đều bị khắc phục để người ta sống an vui theo lời các ngôn sứ đã nói trước (Is 39,18-24 25,5-10). Thế nhưng sức khỏe chỉ được phục hồi cho ai có lòng tin: long tin của con đã cứu chữa con (c 22) (chú thích của nhóm CGKPV)

 

PHÉP LẠ VIII: CHỮA HAI NGƯỜI MÙ (9,27-31)

27Đang khi Đức Giê-su ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: "Lạy Con Vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi! " 28Khi Đức Giê-su về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: "Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không? " Họ đáp: "Thưa Ngài, chúng tôi tin." 29Bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: "Các anh tin thế nào thì được như vậy." 30Mắt họ liền mở ra. Người nghiêm giọng bảo họ: "Coi chừng, đừng cho ai biết! " 31Nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Người trong khắp cả vùng. 

------------------

c 27 – “Đang khi Đức Giêsu rời khỏi nơi đó”: chuyện này tiếp liền chuyện trước, khi Đức Giêsu rời khỏi nhà kỳ mục

 – “Lạy con vua Đavít”: theo lời sấm của các ngôn sứ, Đấng Messia là người thuộc miêu duệ Đavít (Gr 23,5  33,14; Ed 34,23; Hs 3,5; Is 11,1). Thời Đức Giêsu dân chúng tin rằng Đấng Messia ấy sắp đến. Hai người mù kêu Đức Giêsu bằng tước hiệu này chứng tỏ họ tin Ngào là Messia.

 “xin tỏ lòng thương xót”: lòng thương xót chính là đối tượng của sứ mạng Đức Giêsu (9,13). Như thế, hai người mù đã kêu gọi đúng chỗ.

c 28 – “Khi Đức Giêsu về tới nhà”: mặc dù hai người mù kêu xin, nhưng Đức Giêsu không dừng lại. Ngài tiếp tục đi về nhà Ngài đang trọ (một căn nhà Ngài thường trọ ở Capharnaum), để cho họ phải đi theo. Lý do thứ nhất là Ngài không muốn làm phép lạ ở nơi công cộng, kẻo dân chúng hiểu lầm Ngài là một Messia chuyên làm phép lạ. Cũng vì lý do này nên sau khi làm phép lạ, Ngài nghiêm cấm không cho hai người này nói ra (c 30). Lý do thứ hai để thử lòng tin của họ. Cũng vì lý do thứ hai này, trước khi làm phép lạ Ngài hỏi: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” (c 28), và khi sờ vào mắt họ Ngài còn nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy”. (c 29)

  “Mắt họ liền mở ra”: Is 35,5 đã nói trước là Đấng Messia sẽ làm cho mắt kẻ mù được mở ra

 

PHÉP LẠ IX: CHỮA NGƯỜI BỊ QUỶ CÂM ÁM (9,32-34)

32Họ vừa đi ra thì người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám. 33Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: "Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ! " 34Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo: "Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ." 

------------------

c 32 “Một người bị quỷ câm ám”: thời ấy người ta vẫn cho kẻ câm là bị quỷ ám.

c 33a “Người câm nói được”: Lời tiên tri của Isaia “mắt kẻ mù sẽ được mở ra” được tiếp nối bởi “miệng kẻ câm sẽ reo hò mừng rỡ” (Is 35,5-6)

 Chuyện này có lẽ muốn làm nổi bật sự đối lập giữa thái độ của dân chúng và thái độ của nhóm pharisêu trước phép lạ Đức Giêsu làm. Người dân bình thường chất phác cũng còn công nhận trong quá trình lịch sử dân tộc chưa hề có vị ngôn sứ nào thực hiện một phép lạ như Đức Giêsu vừa làm, nghĩa là dân chúng nhìn nhận Ngài là Messia; trong khi đó thì những người gọi là mẫu mực, là lãnh đạo tinh thần của dân lại phủ nhận sự việc, hay đúng hơn: sự việc quá hiển nhiên không thể chối cãi được, thì họ giải thích sai lệch đi. Ác tâm của họ còn cho thấy họ là những đối thủ công khai của Chúa. (CGKPV)

 

ĐỨC GIÊSU THƯƠNG DÂN CHÚNG LẦM THAN (9,35-38)

35Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

36Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. 37Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về."

------------------

Với 4 câu này, Mt muốn kết thúc phần kể về các phép lạ của các chương 8-9, đồng thời dẫn vào diễn từ thừa sai của chương 10

 Đoạn này có hai hình ảnh:

– Hình ảnh “bầy chiên không người chăn dắt” (c.36) khiến ta liên tưởng tới Êdêkien 34, theo đó Thiên Chúa trách các mục tử Israel vô trách nhiệm và đã bỏ bê đàn chiên Ngài giao cho họ, đồng thời hứa sẽ cho xuất hiện một Vị Mục Tử lý tưởng để chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Khi gợi lại Êd 34, Mt muốn nói Đức Giêsu chính là Vị Mục Tử lý tưởng đó.

– Hình ảnh đồng lúa chín ngụ ý thời sau đã đến: qua cuộc chung thẩm, Thiên Chúa sẽ làm cho Nước Thiên Chúa xuất hiện (Am 9,13-15; Tv 125,5-6; Gc 4,13; Gr 5,17; Mt 13,28-29; Kh 14,15-16).

Ý thức về tình trạng dân chúng và về sự nghiệp thiết lập Triều đại Thiên Chúa, Đức Giêsu lo chuẩn bị một nhóm môn đệ thay thế các mục tử bất lực để cộng tác vào công cuộc Ngài đang thực hiện, Ngài đặc biệt lưu ý tới chuyện cần phải có thêm “thợ gặt” trong đồng lúa của Thiên Chúa. Qua sự việc này, Đức Giêsu còn cho thấy trách nhiệm của mọi người môn đệ là phải cầu nguyện cho nhu cầu đó. Lời Chúa còn hàm ý rằng người ta được sai đi trực tiếp cộng tác vào công việc rao giảng Tin Mừng là một hồng ân của Thiên Chúa (CGKPV) 

TỔNG THỂ II: ĐỨC GIÊSU SAI CÁC TÔNG ĐỒ ĐI RAO GIẢNG VÀ CHÍNH NGÀI RA ĐI CÔNG BỐ NƯỚC TRỜI Mt 10-12

(Bài 20 -21)

TỔNG THỂ II: ĐỨC GIÊSU SAI CÁC TÔNG ĐỒ ĐI RAO GIẢNG VÀ CHÍNH NGÀI RA ĐI CÔNG BỐ NƯỚC TRỜI

 

Tổng thể I (5-9) cho biết Nước Trời đã đến. Sang tổng thể II (10-12) Đức Giêsu sai các tông đồ đi rao giảng Nước Trời. Nhưng chỉ sai vậy thôi vì thực ra họ chưa đi mà chính Đức Giêsu đi (11,1). Phần họ còn cần phải đồng hành lâu dài với Ngài trên con đường khổ giá, qua các nẻo đường phục vụ, để rồi sau khi Đức Giêsu phục sinh, họ mới có thể chính thức ra đi rao giảng.

Tổng thể này có thể chia làm hai phần chính:

– Phần diễn từ (10): Bài sai truyền giáo

– Phần tường thuật (11-12): Đức Giêsu đi truyền giáo.

 


BÀI 20: BÀI SAI TRUYỀN GIÁO – Chương 10


1. Cấu trúc

Mt đã gom nhiều lời chỉ dạy của Đức Giêsu vào trong một chương 10 này, trong đó có những lời chỉ dạy trong nhiều hoàn cảnh và nhiều thời điểm khác nhau (cũng như Mt đã gom tất cả các phép lạ vào chung một bản liệt kê 10 phép lạ, mà ta đã có dịp nghiên cứu ở bài về Mt 8-9).

Bài sai truyền giáo này gồm những ý chính như sau:

– Ủy quyền (cc 1-4)

– Một số chỉ thị về cách cư xử (cc 5-16).

– Tiên báo về sự bắt bớ (cc 17-25).

– Khuyên can đảm tuyên xưng (cc 26-33).

– Khuyên từ bỏ (34-39).


2. Giải nghĩa

1/ ĐỨC GIÊSU ỦY QUYỀN CHO CÁC TÔNG ĐỒ (cc 1-4)

1Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; 3ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; 4ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người.

------------------

– Tông đồ: Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất Mt dùng danh hiệu này. Cách chung trong các Tin Mừng, danh hiệu “tông đồ” và “môn đệ” được dùng lẫn lộn nhau, chưa phân biệt ý nghĩa đặc biệt của mỗi danh hiệu. Sau này tới thời GH thì mới phân biệt rõ: môn đệ chỉ cách chung những người theo Đức Giêsu, còn tông đồ là những “cán bộ” nòng cốt của Ngài.

– Chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền: So sánh với Mt 9,35 ta thấy cùng những từ ngữ được dùng lại ở đây. Mà Mt 9,35 là nói về sứ mạng của Đức Giêsu và uy quyền của Ngài; còn ở đây là nói về sứ mạng và uy quyền của các tông đồ. Điều này có nghĩa là Đức Giêsu thông ban cho các tông đồ Ngài cùng những quyền năng như chính Ngài.

– Bảng danh sách 12 tông đồ: Phân tích một chút sẽ thấy ngay tính đa dạng trong thành phần tông đồ: có những tên hy lạp và những tên do thái; xuất thân từ nhiều miền khác nhau; những ngư phủ thường được kể bên cạnh một đảng viên hiếu chiến (Simon nhiệt thành); có cả những cựu đệ tử của Gioan Tẩy Giả (Giacôbê và Gioan)… Đức Giêsu không chủ ý chọn một nhóm cán bộ đồng nhất và dễ dạy. Sau này ta sẽ thấy Ngài gặp nhiều khó khăn với nhóm tông đồ đa dạng như vậy. Nhưng Ngài cứ kiên nhẫn huấn luyện họ, để rồi sau cùng, khi họ đã thực sự “hoán cải” thì họ trở nên những nhân chứng trung thành sẵn sàng đổ máu vì Ngài và đáng được Ngài tín nhiệm giao GH cho họ.

2/ NHƯNG CHỈ THỊ VỀ CÁCH CƯ XỬ (cc 5-16)

5Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng:

6Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. 8Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. 9Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng. 10Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

11"Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 12Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. 13Nếu nhà ấy xứng đáng, thì -bình an của anh em sẽ đến với họ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em. 14Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại. 15Thầy bảo thật anh em, trong Ngày phán xét, đất Xơ-đôm và Gô-mô-ra còn được xử khoan hồng hơn thành đó. 16Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.

------------------

– cc 6-7: rõ ràng chỉ thị này có tính “kỳ thị”, và mâu thuẫn hẳn với chỉ thị truyền giáo Đức Giêsu ban ở cuối Tin Mừng Mt có tính đại đồng (28,19) “khắp muôn dân”. Vì tính “kỳ thị” này mà Mc và Lc đã loại bỏ chi tiết này. Nhưng ta có thể hiểu được nếu lưu ý hai điểm:

(1) Mt viết cho người do thái (trong khi Lc và Mc viết cho lương dân) nên cần cho độc giả mình thấy ưu tiên mà Đức Giêsu dành cho họ.

(2) Sứ mạng thu hẹp này chỉ có tính cách tạm thời trong giai đoạn đầu, tới giai đoạn từ Đức Giêsu phục sinh trở đi thì sứ mạng sẽ thực sự mở rộng ra “khắp muôn dân”.

c 8: Hãy chịu cực chịu khổ mà không so đo tính toán, vì “các con đã nhận miễn phí thì hãy cho miễn phí”.

c 9-10: đừng quá lo lắng về tiện nghi vật chất, tới đâu thì xử dụng những tiện nghi ở đó.

c 11: “tìm người xứng đáng và lưu lại đó”: ý này bổ túc ý trên (cc 9-10). Tông đồ không nên so đo chọn nơi ở sao cho vừa ý nhất, do so đo như vậy mà cứ đổi từ chỗ này sang chỗ khác cho dễ chịu hơn. Đức Giêsu dặn phải chọn người xứng đáng ở trọ nhà họ rồi trọ luôn một chỗ đó.

c 12: “hãy chào”: Đây là câu chào Shalom (chúc bình an). Người do thái nghĩ rằng lời chào lúc này không chỉ là một câu xã giao, nhưng có hiệu quả nếu người được chào mà xứng đáng thì người đó được bình an thật, còn nếu không thì sự bình an sẽ trở về với người chào chúc (c 13)

c 14 “giũ sạch bụi chân”: Theo tục lệ do thái, cử chỉ này có nghĩa là đoạn tuyệt. Xứ nào không đón nhận Lời Chúa thì bị kể không phải là Đất Thánh, bụi của xứ đó đều là bụi dơ, phải phủi lại kẻo mang bụi dơ ấy sang những xứ biết đón nhận Lời Chúa.

c 16 Truyền giáo không phải là một việc đơn giản và dễ dàng, nên phải vừa tinh khôn như rắn vừa đơn sơ như bồ câu.


3/ TIÊN BÁO VỀ SỰ BẮT BỚ (cc 17-25)

17"Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. 18Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết. 19Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: 20thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.

21"Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. 22Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

23"Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật anh em: anh em chưa đi hết các thành của Ít-ra-en, thì Con Người đã đến.

24"Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.