Chú Giải Tin Mừng Luca 

IV. SỨ VỤ CỦA ĐỨC GIÊSU TẠI GALILÊ

Lm Carôlô Hồ Bạc Xái

BÀI 14: TẠI HỘI ĐƯỜNG NAGIARÉT (4,14-21)

14Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. 15Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh.

16Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. 17Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: 18Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19công bố một năm hồng ân của Chúa.

20Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. 21Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe."

------------------

I- GIẢI THÍCH

c 14 – “Danh tiếng Ngài đồn thổi khắp nơi”: một kiểu nói quen thuộc của Lc (4,37 5,15 7,17;  Cv 2,41 6,7) ngụ ý rằng Tin Mừng càng ngày càng lan rộng.

c 15 – “Mọi người ca tụng tán dương”: cũng là một kiểu nói quen thuộc của Lc (4,22 8,25 9,43 11,27 13,17 19,48). Lc thường nói tới tâm trạng tốt của quần chúng đối với Chúa Giêsu.

c 16 – “Nagiarét, nơi nuôi sống Ngài”: Lc tránh không nói ‘quê hương Ngài’ vì Đức Giêsu không sinh ra tại đó (2,4-7) và nhất là theo Lc, quê hương của Đức Giêsu chính là toàn thể đất Israel (cc 24-47).

 – “Ngài vào Hội đường”: Các Hội đường rải rác khắp các địa phương trong xứ Palestine và ở các diaspora. Đây là nơi người Do thái tụ họp vào ngày Sabbat. Buổi họp gồm một bài đọc Sách Thánh (luật và các ngôn sứ), tiếp đến là một bài giảng. Theo nguyên tắc, mọi người Do thái trưởng thành đều có quyền lên tiếng, nhưng trên thực tế, các người quản lý Hội đường thường mời những kẻ am hiểu Sách Thánh (Cv 13,15), Đức Giêsu đã đi rao giảng một thời gian trước khi trở lại Nagiarét nên người ta tin Ngài am hiểu Sách Thánh và đã mời Ngài. Cũng theo thông lệ, người được mời phải đứng khi đọc Sách Thánh, sau đó ngồi xuống để giảng (c 20).

c 17– “Mở sách ra Ngài gặp nơi viết rằng”: không phải Đức Giêsu tình cờ mở đúng Is 61,1-2. Người quản lý Hội đường trao cho Ngài quyển Isaia (c 17a) và đề nghị Ngài chọn một đoạn và giảng theo đoạn đó. Một người rành Sách Thánh như Đức Giêsu đương nhien cũng rành bố cục của sách Isaia. Đức Giêsu đã tìm một lúc rồi gặp đoạn đúng chủ ý của Ngài để trình bày về sứ mạng của Ngài.

c 18 Đoạn sách mà Đức Giêsu chọn là nói về Người Tôi Tớ của Yavê được Thánh Thần xức dầu và sai đi loan Tin Mừng cho những người khốn khổ.

c 19 – “Năm hồng ân”: Lv 25,10-13, năm ân xá, xóa nợ, trả lại tài sản. Đức Giêsu tuyên bố rằng Ngài chính là kẻ được sai đến laon báo tin mừng về năm hồng ân này.

 Điểm đáng chú ý: Đoạn sách Isaia chẳng những nói về năm hồng ân mà còn nói về ngày báo oán. Nhưng Đức Giêsu dừng lại, không đọc khúc nói về ngày báo oán. Không phải vì Ngài không thích đề tài này, vì thực ra sau này Ngài cũng nói nhiều về nó (6,20-26 9,26 10,12-15 11,30-32 12,8 9,35-48.59 13,23-30 16,1-8 17,1-2 22,37 18,8 19,11-27), nhưng hôm nay Ngài chưa muốn nói tới bởi vì trong bài giảng hôm nay Ngài chỉ nói tới sứ mạng trần thế, tức thời ian cứu độ (khi khác Ngài sẽ nói tới thời gian xét xử).

c 21 – “Hôm nay đã ứng nghiệm”: Lc nhiều lần dùng chữ ‘hôm nay’ để diến tả một thời gian đặc biệt của ân sủng (2,11 3,22 5,26 13,32-33 19,5.9 23,43)


II-KẾT LUẬN

 Bài giảng – này là diễn văn – chương trình của Đức Giêsu trong Lc, vừa cho biết Ngài chính là Messia-Tôi-Tớ, vừa cho thấy chương trình của Ngài.

BÀI 15: THẤT BẠI TẠI NAGIARÉT (4,22-30)

22Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.

23Người nói với họ: "Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào! " 24Người nói tiếp: "Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.

25"Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en; 26thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn. 27Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi."

28Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. 29Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành -thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. 30Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

------------------

I- VẤN ĐỀ CHÚ GIẢI

1/ A. George đã nhận xét rằng đoạn Tin Mừng này có nhiều điểm không mạch lạc, nhưng điểm khôgn mạch lạc ‘rất lạ đối với một tác giả kỹ lưỡng như Lc’

 – Không mạch lạc trong thái độ của dân Nagiarét, vừa mới thán phục Đức Giêsu đó, nhưng ngay sau đó lại mỉa mai Ngài “Há ông này chẳng phải là con bác thợ mộc Giuse sao?” (c 22).

 – Không mạch lạc trong lời nói của Đức Giêsu, Ngài nói “Không một ngôn sứ nào được hoan nghênh nơi quê hương mình” (c 24), sau đó dẫn chứng trường hợp Êlia và Êlisê: hai vị này không phải bị ngược đãi nơi quê hương, nhưng trái lại ưu đãi người ngoài quê hương.

2/ Sở dĩ người ta nói đoạn Tin Mừng này không mạch lạc là vì cách chú giải một từ then chốt, dektos, ở câu 24b theo nghĩa thụ động: được hoan nghênh. Nếu chú giải từ đó theo một nghĩa chủ động: hoan nghênh thì câu chuyện sẽ hoàn toàn mạch lạc.

Đây là một cách chú giải độc đáo giúp cho câu chuyện được mạch lạc nên chung ta sẽ theo.


II- GIẢI THÍCH

c 22 “Ai cũng làm chứng cho Ngài”: động từ này nơi Lc chỉ thiện chí của những người sẵn sàng ủng hộ (Cv 6,3 10,22 16,2 22,12).

 – “Ngạc nhiên trước những lời ân phúc”: có khi là một sự ngạc nhiên vì khó chịu (Mc 6,6; Lc 11,38), nhưng có khi là một sự ngạc nhiên thán phục (1,63 2,18 2,33 7,9 8,25 9,43 11,14 20,26; Cv 3,12 4,13). Nếu muốn cho đoạn Tin Mừng này có mạch lạc, phải hiểu sự ngạc nhiên ở đây theo nghĩa thán phục.

 – “Ông này há không phải là con bác Giuse ư?” Câu này có thể là mỉa mai (khinh chê nguồn ốc nghèo nàn của Đức Giêsu), mà cũng có thể là hãnh diện (ông này là con của một người thuộc làng của chúng ta mà nay đã giỏi giang như thế). Muốn cho đoạn Tin Mừng này mạch lạc, phát biểu câu này là hãnh diện.

 * Tóm ý: Sau khi Đức Giêsu đọc và giảng đoạn sách Isaia, những người đồng hương Nagiarét của Ngài vui mừng, thán phục và hãnh diện vì có một người đồng hương giỏi giang như Ngài.

c 23 “Thầy lang ơi hãy cứu chính mình”: phải sử dụng khả năng mình để lo cho bản thân mình trước.

 – “Hết mọi sự chúng tôi nghe nói ở Capharnaum, xin thử làm ở đây, nơi quê hương của Thầy”: hãy làm những phép lạ (đã làm ở Capharnaum) tại chính Nagiarét này.

 * Tóm ý: Đức Giêsu đoán được tâm trạng của dân Nagiarét, họ đang nuôi hy vọng rằng Ngài vì là đồng hương với họ nên sẽ ưu tiên làm nhiều phép lạ cho họ hưởng.

c 24 “Rồi Ngài tiếp”: nguyên ngữ Hy lạp là chữ de. Chữ này có nghĩa là đối nghịch lại. Nên dịch ‘rồi’ không đúng, phải dịch là ‘nhưng’. Đức Giêsu sắp nói một điều ngược lại với mong ước của họ.

 – “Được hoan nghênh nơi xứ sở mình”: nguyên ngữ Hy lạp là dektos. Chữ này có thể mang nghĩa thụ động (‘được hoan nghênh’). Nhưng cũng có thể mang nghĩa chủ động (‘hoan nghênh’). Nếu muốn cho đoạn Tin Mừng này mạch lạc thì phải hiểu theo nghĩa chủ động.

 * Tóm ý: Đức Giêsu nõi ngược lại với mong ước của Nagiarét, họ mong ước Đức Giêsu ưu tiên làm phép lạ tại quê hương mình, nhưng Ngài trích một câu ngạn ngữ để từ chối điều đó. Ngôn sứ không được vì liên hệ quê hương mà dành ưu tiên cho quê hương mình.

c 25-27 Rồi Đức Giêsu kể chuyện hai ngôn sứ Êlia và Êlisê: hai vị này đã làm phép lạ để cứu giúp những người ngoại. Như thế, Đức Giêsu từ chối thỏa mãn ước muốn có tính cách thiên vị của dân Israel, đồng thời cho thấy tính cách phổ quát của sứ mạng Ngài.

c 28 Dân Nagiarét phừng phừng giận dữ: vì Đức Giêsu không làm theo ý họ.

c 29 – Họ định ném đá Ngài: Lv 24 dành hình phạt ném đá cho tội phạm thượng. Ở đây dân Nagiarét coi Đức Giêsu đã phạm thượng, vì Ngài đã không công nhận một “tín điều” của họ là ơn cứu độ chỉ dành riêng cho dân Israel. Thực ra chung quanh Nagiarét chẳng có nơi nào họ định xây thành, Lc nói hơi quá đi, vì ông nghĩ đến việc Israel sẽ từ chối và giết Đức Giêsu.

c 30 “Nhưng Ngài rẽ qua giữa họ mà đi”: không biết đây có phải là một phép lạ hay chăng. Nhưng điều quan trọng nên chú ý là “con đường đi” của Đức Giêsu. Lc hay nói về con đường ấy (9,51 13,22-23 17,11 19,28). Con đường Đức Giêsu sẽ hướng về Giêrusalem vè kết thúc ở đây. Như thế câu này có thêm hai nghĩa:

 – Một là: dù dân Nagiarét phản đối kế hoạch phổ quát của Đức Giêsu, nhưng Ngài không vì thế mà từ bỏ chương trình đã vạch ra.

 – Hai là: Ngài phải đi trọn con đường của mình đến Giêrusalem, chừng nào chưa hoàn thành nó thì không có gì có thể cản trở Ngài (Ga 7,30 7,44 8,59 10,39).


II- KẾT LUẬN

 Ơn cứu độ là một ơn hoàn toàn miễn phí mà Thiên Chúa ban chỉ vì thương chứ không phải do công lao của loài người. Hơn nữa, Thiên Chúa muốn ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người chứ không dành riêng cho một giới người ưu đãi nào.

 Đó là điều mà Đức Giêsu muốn cho dân Nagiarét biết, và qua dân Nagiarét, Ngài cũng muốn cho mọi người biết. Thế nhưng dân Nagiarét và sau này, cả dân Israel cũng không chấp nhận, họ đã từ chối Đức Giêsu.

BÀI 16: TẠI CAPHARNAUM (4,31-44)

31Người xuống Ca-phác-na-um, một thành miền Ga-li-lê, và ngày sa-bát, Người giảng dạy dân chúng. 32Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền.

33Trong hội đường, có một người bị quỷ thần ô uế nhập, la to lên rằng: 34"Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa! " 35Nhưng Đức Giê-su quát mắng nó: "Câm đi, hãy xuất khỏi người này! " Quỷ vật người ấy ngã xuống giữa hội đường, rồi xuất khỏi anh ta, nhưng không làm hại gì anh. 36Mọi người rất đỗi kinh ngạc và nói với nhau: "Lời ấy là thế nào? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải xuất! " 37Và tiếng đồn về Người lan ra khắp nơi trong vùng.

38Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Lúc ấy, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà. 39Đức Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất: tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.

40Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ. 41Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: "Ông là Con Thiên Chúa! " Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.

42Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. 43Nhưng Người nói với họ: "Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó." 44Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê.

------------------

Đến đây Lc mô tả quyền năng làm phép lạ của Đức Giêsu. Đơn vị văn chương này gồm một phần dẫn nhập, tiếp theo là 3 phép lạ và phần kết thúc.


I- DẪN NHẬP: 31-32

c 31 Capharnaum: đây là nơi Đức Giêsu giảng dạy và làm phép lạ nhiều nhất, do đó có thể nói Capharnaum là ‘thành của Đức Giêsu’.

 – “Ngày sabbat Ngài giảng dạy họ”: Lc ghi nhận việc giảng dạy trong ngày sabbat là thói quen của Đức Giêsu.

c 32 Trước khi mô tả các phép lạ mà Đức Giêsu dùng quyền năng để làm, Lc muốn khẳng định rằng ngay cả lời nói của Ngài cũng đầy quyền năng khiến thính giả phải sửng sốt. Như thế chính bản thân Đức Giêsu là kẻ đầy quyền năng, lời nói và việc làm của Ngài chỉ là những cách biểu lộ quyền năng ấy thôi.


II- CHỮA MỘT NGƯỜI BỊ QUỶ ÁM: 33-37

c 33 – Hành vi quyền năng đầu tiên được Đức Giêsu chọn làm là chữa một người bị “quỷ thần ô uế nhập”. Sự chọn lựa này rất ý nghĩa: người Do thái quen nghĩ bệnh tật là do ma quỷ gây nên. Do đó khi chọn chữa người bị quỷ ám để làm phép lạ đầu tiên. Đức Giêsu muốn chứng tỏ Ngài có khả năng trị tận gốc những sự dữ làm hại con người.

 – trong khi người Hy lạp nói thẳng là ‘ma quỷ’, người Do thái lại nói là ‘thần ô uế’. Kiểu nói này cho thấy sự đối lập giữa Satan (thần ô uế) với Thánh Thần của Thiên Chúa. Kẻ bị ‘thần ô uế’ nhập là kẻ bị trói buộc, tự mình không có khả năng thoát khỏi, nên phải nhờ Đấng có quyền năng Thiên Chúa giải thoát.

 Lc mô tả việc trừ quỷ theo cái khung thông dụng của văn chương thời đó, gồm 4 phần:

c 33a-34 Phần thứ nhất: ma quỷ nhận ra kẻ muốn trừ nó,. Và nó tấn công trước, thường tấn công bằng cách gọi tên đối thủ, bởi vì biết tên ai có nghĩa là có quyền lực trên người đó. Trong chuyện này, ma quỷ tấn công trước bằng cách gọi tên “Giêsu Nagiarét… tôi biết ông là ai rồi”. Tuy nhiên liền sau đó nó phải thú nhận thế yếu của nó “ông đến tiêu diệt chúng tôi, ông là Đấng thánh của Thiên Chúa”. Ma quỷ cũng khiếu nại “Chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi”: nó tự hỏi không lẽ giờ tận cùng của chúng đã điểm rồi sao (10,18).

c 35a Phần thứ hai: kẻ trừ quỷ lên tiếng đe dọa và đuổi quỷ. Đức Giêsu không cần nêu tên quỷ ra như các pháp sư cần phải làm. Ngài chỉ ra lệnh ngắn gọn: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này”. Các bài tường thuật trừ quỷ trong văn chương dân gian thường rất dài dòng với nhiều chi tiết ly kỳ. Ở đây Lc chỉ dùng nửa câu, điều này càng cho thấy quyền năng ưu việt của Đức Giêsu.

c 35b Phần thứ ba: hiệu quả. Ở đây cũng vậy, Lc không cần dài dòng, cũng chỉ cần nửa câu. Để chứng minh quỷ đã xuất, Lc ghi chi tiết nó “vật người ấy xuống giữa hội đường rồi xuất khỏi anh ta”, nhưng Lc cẩn thận ghi thêm “nhưng không làm hại gì được anh ta”: anh đã được quyền phép Đức Giêsu che chở bảo vệ hoàn toàn.

c 36-37 Phần thứ tư: phản ứng của khan giả “Mọi người kính sợ”. Đây là nỗi ‘sợ thánh’ khi biết quyền năng Thiên Chúa đang hoạt động.


III- CHỮA BỆNH NHẠC MẪU SIMON: 38-39

c 38a Sau một phép lạ trừ quỷ tại một cơ sở tôn giáo (hội đường), bây giờ là một phép lạ chữa cho một phụ nữ trong một ngôi nhà bình thường.

 – Ở đây Simon xuât hiện lần đầu tiên trong Tin Mừng Lc, Chi tiết này chuẩn bị cho đoạn 5,1-11 Simon sẽ đi theo làm môn đệ Đức Giêsu và từ đó gắn bó luôn với Ngài.

 – “Bà mẹ vợ ông Simon”: Simon là người đã có gia dình.

 – “Bị sốt nặng”: theo người Do thái, mọi bệnh tật cách chung và bệnh sốt cách riêng là do ma quỷ gây ra. Do đó khi trị bệnh cho bà, Đức Giêsu cũng ‘hăm đe’ cơn sốt y như trong trường hợp trừ quỷ trước đó.

c 39 Lc ghi nhận hiệu quả nhanh chóng”cơn sốt rời khỏi bà tức khắc, bà chỗi dậy phục vụ các ngài”.

 – Động từ ‘chỗi dậy’ cũng được dùng để nói về việc sống lại; động từ ‘phục vụ’ cũng được dùng để mô tả thái độ của người môn đệ đối với thầy, của người tín hữu đối với Thiên Chúa. Như thế qua cách dùng chữ, Lc cũng muốn nói Đức Giêsu là Đấng có quyền năng làm cho người ta sống lại để làm môn đệ Ngài và để phụng thờ Thiên Chúa.


IV- TOÁT YẾU 40-41

 Sau đó Lc tóm lược những việc chữa bênh của Đức Giêsu:

 – Ngài chữa “tất cả những người đau yếu”.

 – “mắc đủ thứ bệnh hoạn”.

 – Ngài cũng trừ quỷ: Quỷ cũng nhận ra căn tính của Ngài “Ông là Con Thiên Chúa”.

 – Nhưng, cũng như Mc, Lc bảo vệ ‘bí mật Messia’ vì chưa tới lúc thuận tiện để cho người ta biết Ngài là Messia (Kitô).


V- PHẦN KẾT 42-44

 Sau những thành công ở Capharnaum, Đức Giêsu rời đó đi nơi khác, Có mấy chi tiết đáng lưu ý:

 – Khác với dân làng Nagiarét xua đuổi Ngài, dân thành Capharnaum “tìm Ngài, đến tận nơi Ngài đang ở và muốn giữ Ngài lại”.

 – Lý do khiến Đức Giêsu ra đi là vì muốn ‘loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa’, và Ngài còn nói đó là việc Ngài “phải” làm: Tin Mừng Lc là một quyển Tin Mừng về truyền giáo.

BÀI 17: MẺ CÁ LẠ-GỌI NHỮNG MÔN ĐỆ ĐẦU TIÊN (5,1-11)

1Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. 2Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 3Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.

4Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá." 5Ông Si-môn đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới." 6Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. 7Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

8Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi! " 9Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. 10Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta." 11Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.

------------------

I- GIẢI THÍCH CHI TIẾT

c 2 – “Bờ hồ Ghenêzarét”: Lc thuộc về thế giới Địa Trung Hải nên gọi Ghenêzarét một cách đúng đắn là “hồ” chứ không gọi là “biển” như Mt và Mc (Mt 4,18; Mc 1,16).

 “Có hai chiếc thuyền”: một chiếc là của Simon (và Anrê em ông), chiếc kia là của Giacôbê và Gioan (c 10)

c 3 Có một chuyện tương tự ở Mt 13,2-3 và Mc 4,1-2. Lc đã sử dụng chất liệu này chen vào câu chuyện ở đây, nhằm nói lên một ý tưởng thần học khác.

c 5 “Lạy Thầy”: Lc dùng danh từ Épistatès (chứ không phải danh từ Didaskalos mà các tác giả Tin Mừng khác quen dùng). Danh từ này là đặc biệt của Lc (xem thêm 8,24.45 9,33.49) và diến tả một niềm tin sâu sa vào uy quyền của Đức Giêsu hơn.

 * Sự kiện Simon gọi Đức Giêsu là Épistatès cùng với sự kiện ông vâng lời Ngài mà thả lưới, mặc dù kinh nghiệm nghề nghiệp cho ông biết sẽ không có kết quả, chứng tỏ ông có một chút niềm tin ban đầu vào Đức Giêsu.

c 8 – “Simon Phêrô”: Thực ra sau này ở 6,14, Đức Giêsu mới đổi tên Simon thành Phêrô. Ở đây Lc dùng trước tên gọi mới ấy (lý do chút nữa ta sẽ rõ).

 – “Lạy Chúa”: Sau khi gọi Đức Giêsu là Épistatès. Bây giờ Simon lại gọi Ngài là “Chúa”, tức là nhìn nhận phần nào thiên tính của Ngài. Lý do là mẻ cá lạ chứng tỏ Ngài không phải là người phàm.

 – “Xin lánh xa con vì con là người tội lỗi”: đây là phản ứng tự phát của một người phàm khi biết mình ở trước mặt Thiên Chúa (Is 6,5).

c 9 “Sửng sốt kinh hoàng”: đây cũng là phản ứng của người phàm trước quyền năng Thiên Chúa.

c 10 “”Đừng sợ”: đây là công thức thường gặp trong Cựu Ước khi mô tả những cuộc thần hiện. Lc cũng thường dùng công thức này (1,13-30 2,10 8,50 12,7.32; Cv 18,9 27,24).

 – “Từ nay con sẽ bắt người ta như là bắt cá”: bản dịch tiếng Pháp là ‘Désormais, ce sont des homes que tu prendras’. So sánh với câu nói đó trong Mc 1,17 ‘Je ferais de vous des pecheurs d’hommes’, nghĩa là Mc nhấn mạnh đến thân phận của người môn đệ. Trong Lc, sự đối chọi là giữa “bắt cá” và “bắt người”, nghĩa là Lc nhấn mạnh tới đối tượng hoạt động của người môn đệ: từ nay họ không còn lo làm ăn nữa mà lo làm việc tông đồ.

 Ngoài ra còn một lý do nữa đã khiến Lc sửa đổi câu nói trong Mc: trong Cựu Ước, chữ pêcheur gán cho Thiên Chúa hàm ý đe dọa, trừng phạt (Kb 1,15.17; Gr 16,16…). Lc tránh chữ đó và dùng động từ”bắt” (prendre, Hy lạp là zôgrêô) mà bản LXX thường dùng với sự nhấn mạnh đến khía cạnh ‘tha mạng’ (zôgrêô xuất phát từ danh zôê nghĩa là sự sống, x. Ds 31,15.18; Đnl 20,16; Gs 2,13 6,25 9,20; 2Sam 8,2; 2Sb 25,12).

c 11 “Bỏ mọi sự”: trong ba đoạn văn song song với Mc và Mt, Lc luôn thêm chữ ‘mọi sự’ để cho thấy người môn đệ phải từ bỏ tất cả mà theo Đức Giêsu (Lc 18,22 ss Mc 10,21 và Mt 19,21; Lc 5,28 ss Mc 2,14 và Mt 9,9; Lc 5,11 ss Mc 1,20 và Mt 4,22).

 – “Theo Ngài”: động từ này dành riêng đối với Đức Giêsu: dân chúng ‘theo Ngài’ với nghĩa rộng, các môn đệ ‘theo Ngài’ với nghĩa hẹp. “Theo” đòi hỏi cắt bỏ mọi dính bén để trọn vẹn hiến thân cho Ngài.


II- VAI CHÍNH TRONG TRUYỆN NÀY

 Rất nhiều chi tiết chi thấy Lc đã cố ý làm nổi bật vai trò của Simon trong truyện này:

1/ Quy chiếu mọi chú ý vào Simon (và Đức Giêsu)

 – Đức Giêsu gọi ông là Simon-Phêrô (c 8) nghĩa là gọi trước bằng tên mà sau này Ngài mới đặt cho ông (6,14).

 – Theo Mt 4,18-22 và Mc 1,16-20 thì cả hai anh em Simon và Anrê đều có mặt trong mẻ cá đó. Còn trong đoạn văn này của Lc, tuy cũng hiểu ngầm là có Anrê (đại từ số nhiều ở các câu 4,5,6,7), nhưng trong Lc không nêu rõ tên Anrê ra.

 – Trong Mt và Mc, lời Đức Giêsu nói về việc đánh lưới người ta áp dụng cho cả Simon và Anrê, nhưng ở đây nó chỉ áp dụng cho một mình Simon.

2/ Các chi tiết khác trong truyện cũng tập chú vào Simon

 – Chiếc thuyền là ‘của Simon’ (c 3).

 – Lời Đức Giêsu bảo “hãy ra khơi thả lưới” là nói với Simon (c 4)

 – Chính Simon lên tiếng đáp lại (c 5).

 – Cũng chính ông kêu lên “xin hãy xa lánh con” (c 8).

 – Tất cả những gì được làm cho Đức Giêsu (do lòng hiếu khách) thì được làm bởi Simon.

 – Tất cả những gì Đức Giêsu làm (mẻ cá lạ) là làm cho Simon.

 – Tất cả những lời nói trong truyện này ngoài những lời của Đức Giêsu đều là những lời của Simon.

3/ Trong truyện cũng có hau người con của Giêbêđê, nhưng họ bị lấn át bởi hình ảnh của Simon

 – c 2 chỉ nói sơ về họ mà không kể rõ tên.

 – c7 chỉ nói họ là ‘những bạn chài’.

 – c 10 nói tên họ ra, những là để chứng tỏ họ cũng kinh ngạc như Simon. Và sở dĩ cuối cùng Lc phải nêu tên họ ra có lẽ cũng vì họ cùng với Simon là ba người được Đức Giêsu đem riêng theo trong những trường hợp đặc biệt (cứu song con gái ông Giairô 8,51; biến hình 9,28).


III- CHỦ Ý CỦA TÁC GIẢ

1/ Tác giả ghi lại câu chuyện này để giải thích lý do tại sao các môn đệ đầu tiên đã nhanh chóng đáp lời kêu gọi của Đức Giêsu, bởi vì họ đã được chứng kiến quyền phép phi thường của Ngài. Nhưng đây chỉ là ý phụ của Lc mà thôi.

2/ Ý chính của tác giả là đưa ra một hình ảnh GH: lệnh truyền ra khơi thả lưới và mẻ cá rất nhiều sau đó là tiên báo cho lệnh truyền cho các thừa sai đi khắp thế giới và kết quả phong phú mà họ sẽ gặp được. Nhiều lý luận củng cố giải thích này.

 – Lc đã nối kết chuyện mẻ cá với chuyện kêu gọi các môn đệ.

 – Lc thường quan tâm tới truyền giáo và tính phổ quát của ơn cứu độ.

 – Sau này Gioan (Ga 21) cũng mượn lại chuyện mẻ cá lạ để trình bày việc Đức Giêsu đặt Phêrô lên vai trò lãnh đạo GH.

 – Chính Đức Giêsu cũng liên kết việc ‘chài cá’ với việc ‘chài người’.


BÀI 18: CHỮA MỘT NGƯỜI PHONG CÙI (5,12-16)

12Khi ấy, Đức Giê-su đang ở trong một thành kia; có một người đầy phong hủi vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống, xin Người rằng: "Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch." 13Người giơ tay đụng vào anh ta và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi." Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh. 14Rồi Người truyền anh ta không được nói với ai, và Người bảo: "Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết."

15Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng; đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. 16Nhưng Người lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện.

------------------

Đấng ‘Con Thiên Chúa’ và cũng là Messia tiếp tục rao giảng Tin Mừng và làm những dấu chỉ cho người ta nhận biết Ngài. Dấu chỉ Ngài làm lần này đặc biệt là cứu chữa một chứng bệnh vốn được coi là khó chữa: bệnh phong hủi.


I- GIẢI THÍCH

c 12 “Một người đầy phong hủi”: thời nay người ta đã xác định phong hủi là thứ bệnh do vi trùng Hansen gây ra, nhưng thời đó người do thái gọi là phong hủi tất cả những bệnh ngoài da (da liễu). Do đó mọi người mắc bệnh ngoài da đều bị người khác ghê tởm. Lv 13,45-46 còn khai trừ họ ra khỏi cuộc sống cộng đoàn, người phong hủi chỉ là một cái xác còn biết đi. Bởi hế, người phong hủi đúng là tiêu biểu cho một sự nghèo khốn tột cùng.

 – Trong bài ‘diễn văn chương trình’ ở hội đường Nagiarét (4,16-30), Đức Giêsu có nhắc tới chuyện ông Naaman được ngôn sứ Êlisê chữa khỏi phong hủi, ngầm cho thấy việc chữa bệnh này cũng nằm trong chương trình hoạt động của Ngài. Chuyện Naaman cũng cho thấy việc chữa bệnh là dấu chỉ quyền phép Thiên Chúa: khi vua xứ Aram gởi tướng Naaman tới xin vủa Israel chữa phong hủi, ông này đã la lên: “Bộ tôi là thần thánh có quyền làm cho sống hay chết tùy ý hay sao mà ông ta lại gửi người phong hủi này đến với tôi?” (2V 5,7).

 – Người phong hủi trong đoạn Tin Mừng này có lẽ bấy lâu nay đã thất vọng về chứng bệnh bất trị của mình, nhưng nay nghe danh Đức Giêsu, anh tin vào quyền năng của Ngài nên đến xin Ngài cứu. Cử chỉ ‘sấp mình’ và lời anh ta nói ‘Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch’ chứng tỏ đức tin ấy của anh.

c 13 “Ngài giơ tay đụng vào anh”: không ai dám có cử chỉ này, vì sợ bị lây ô uế. Nhưng Đức Giêsu đã dám làm như thế, một mặt Ngài tỏ ra mạnh hơn sức lây nhiễm của ô uế, mặt khác Ngài cũng muốn biểu lộ lòng ưu ái với người bệnh.

c 14 – “Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh”: hiệu quả tức khắc.

 – Lệnh truyền anh phải đến trình diện với tư tế chẳng những được công nhận là đã sạch và do đó có thể tái hội nhập cộng đoàn, còn có mục đích ‘để làm chứng cho người ta biết’. Biết gì? Biết quyền năng của Ngài, đống thời cũng biết Ngài là kẻ tuân giữ lề luật (luật trong Lv 14).

c 15Trường hợp phép lạ đặc biệt này làm cho danh tiếng Đức Giêsu càng lan rộng.

 – Nhưng như thường lệ, Đức Giêsu ‘lui vào nơi hoang vắng’ ‘cầu nguyện’. Thái độ này cho thấy nguồn lực của những lời giảng và việc làm quyền năng của Ngài xuất phát từ sự thân thiết với Thiên Chúa, trong lúc cầu nguyện.


II- Ý NGHĨA

 Bằng cách chữa sạch một người bị phong hủi, Đức Giêsu chiến thắng một chứng ô uế lây truyền, bị coi là hình phạt điển hình nhất Thiên Chúa gửi đến (Đnl 28,27-35), dấu chứng tội lỗi làm cho người bệnh bị loại ra khỏi cộng đoàn (Lv 13,14). Bằng cách phá hàng rào ngăn cách thanh sạch và ô uế, Đức Giêsu cho thấy một dấu chứng về sứ mệnh của Ngài (Mt 11,5, x. 10,8).

BÀI 19: CHỮA MỘT NGƯỜI BẠI LIỆT (5,17-26)

17Một hôm, khi Đức Giê-su giảng dạy, có mấy người Pha-ri-sêu và luật sĩ ngồi đó; họ từ khắp các làng mạc miền Ga-li-lê, Giu-đê và từ Giê-ru-sa-lem mà đến. Quyền năng Chúa ở với Người, khiến Người chữa lành các bệnh tật. 18Bỗng có mấy người khiêng đến một bệnh nhân bị bại liệt nằm trên giường, họ tìm cách đem vào đặt trước mặt Người. 19Nhưng vì có đám đông, họ không tìm được lối đem người ấy vào, nên họ mới lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả người ấy cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Đức Giê-su. 20Thấy họ có lòng tin như vậy, Người bảo: "Này anh, anh đã được tha tội rồi."

21Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu bắt đầu suy nghĩ: "Ông này là ai mà nói phạm thượng như thế? Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa? " 22Nhưng Đức Giê-su thấu biết họ đang suy nghĩ như thế, nên Người lên tiếng bảo họ rằng: "Các ông đang nghĩ gì trong bụng vậy? 23Trong hai điều: một là bảo: "Anh đã được tha tội rồi", hai là bảo: "Đứng dậy mà đi", điều nào dễ hơn? 24Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội -Đức Giê-su bảo người bại liệt-: tôi truyền cho anh: Hãy đứng dậy, vác lấy giường của anh mà đi về nhà! " 25Ngay lúc ấy, người bại liệt trỗi dậy trước mặt họ, vác cái anh đã dùng để nằm, vừa đi về nhà vừa tôn vinh Thiên Chúa.

26Mọi người đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ kinh hãi bảo nhau: "Hôm nay, chúng ta đã thấy những chuyện lạ kỳ! "

------------------

I- VĂN THỂ

Văn thể của đoạn này là ‘câu nói trong khung’, nghĩa là tác giả tuy kể một câu chuyện nhưng chuyện đó chỉ là một cái khung để làm nổi bật một câu nói của Đức Giêsu. Câu nói quan trọng đó là c 20 “Này anh, anh đã được tha tội rồi”. Chính câu nói này và cuộc tranh luận về nó mới là trọng tâm. Chuyện chữa người bất toại chỉ là một cơ hội, một cái khung.


II- GIẢI THÍCH

c 17 So sánh với Mt (9,1-8) và Mc (2,1-12) thính giả ở đây đông hơn. Lc muốn cho tháy những lời chút nữa đây Đức Giêsu tuyên bố có một tầm quan trọng đặc biệt.

c 18 Khi ấy xuất hiện một người bất toại. Vì đông người quá nên thân nhân không thể khiêng anh vào được. Như thế là người bất toại này bị ‘khai trừ’ vè cả hai mặt: về thể xác, anh không hể đi đến với Đức Giêsu được; về xã hội, người ta ngăn cản anh khiến anh không đến được.

 – Lúc ấy thân nhân anh nghĩ ra một diệu kế là dỡ mái nhà. Nhà Do thái có nóc bằng, được làm bằng cây và đất sét nên rất dễ dỡ ra.

c 20 Đức Giêsu thấy cố gắng của họ là biểu lộ một niềm tin. Ngài lên tiếng. Câu Ngài nói ở đây chính là ‘câu nói trong khung’ của truyện này. Đáng ngạcnhiên là Ngài không bảo anh đứng dậy mà lại bảo “Này anh, anh đã được tha tội rồi”. Hai chi tiết văn phạm đáng chú ý:

 1/ động từ ở thể thụ động (được tha), hiểu ngầm kẻ tha tội là Thiên Chúa, Đức Giêsu chính là Thiên Chúa.

 2/ động từ còn ở thì quá khứ (đã) nghĩa là Thiên Chúa đã tha tội rồi, trước khi anh này phải dâng lễ theo luật buộc (Lv 6,17-23).

c 21 Quyền tha tội là độc quyền của Thiên Chúa. Bởi vậy các thông giáo phản ứng ngay “Ông này phạm thượng”. Chú ý họ dùng động từ ‘phạm thượng’ y như lời cáo trạng trước Thượng Hội Đồng Do thái (14,63-64).

c 22-24 Đức Giêsu đoán được ý nghĩ của họ và trả lời ngay. Thực ra nói một lời tha tội mà kết quả không ai kiểm nghiệm được thì dễ hơn làm một việc cụ thể cho người bất toại đi được. Ngài sẽ làm cho anh này cũng đi được nữa để chứng tỏ Ngài cũng có quyền tha tội. Chú ý ở đây Đức Giêsu tự xưng là Con Người. Trong ngôn ngữ Do thái ‘con người’ chỉ có nghĩa là ‘người ta’. Nhưng từ khi kiểu nói “Con Người” xuất hiện trong sách Danien thì danh hiệu này được hiểu về Đấng Messia, kẻ được Thiên Chúa trao cho toàn quyền (Đn 7,13-14).

c 25 Phép lạ diễn ra tức thì sau lời Đức Giêsu nói ‘hãy đứng dậy’. Cũng hãy chú ý: động từ này cũng là động từ diễn tả sự sống lại. Đây là bằng chứng Lc đã nhìn lại chuyện này dưới ánh sáng phục sinh. Việc làm cho người bất toại đứng dậy chứng tỏ nhiều điều: chứng tỏ Đức Giêsu là người có quyền phục sinh người chết, chứng tỏ Ngài có quyền tha tội. Mà những quyền đó đều là của Thiên Chúa, nên nó cũng chứng tỏ Đức Giêsu là Messia của Thiên Chúa.

c 26 Phép lạ lại khiến khán giả sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ nhận ra rằng họ đang được sống trong ngày ‘hôm nay’ của thời cứu độ.


III- KẾT LUẬN

 Chuyện này có nhiều chi tiết lạ thường: Đức Giêsu thi hành quyền của Thiên Chúa, Ngài dùng động từ “đứng dậy”, Ngài tự xưng là “Con Người”. Đó là những dấu chỉ mới nữa giúp người ta khám phá Đức Giêsu là ai.

BÀI 20: ÔNG LÊVI (5,27-39)

27Sau đó, Đức Giê-su đi ra và trông thấy một người thu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: "Anh hãy theo tôi! " 28Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người.

29Ông Lê-vi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông. Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài. 30Những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giê-su rằng: "Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi? " 31Đức Giê-su đáp lại họ rằng: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. 32Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn."

33Họ nói với Người: "Môn đệ ông Gio-an năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-sêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống! " 34Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? 35Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi; ngày đó, họ mới ăn chay."

36Đức Giê-su còn kể cho họ nghe dụ ngôn này: "Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải áo mới cũng không ăn với áo cũ.

37"Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư. 38Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới. 39Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói: "Rượu cũ ngon hơn."

------------------

Đoạn Tin Mừng này gồm 3 phần:

 a/ Đức Giêsu kêu gọi Lêvi đi theo Ngài

 b/ Tiếp đó Lêvi dọn tiệc đãi Ngài.

 c/ Bữa tiệc gây ra một cuộc tranh luận về vấn đề ‘cũ và mới’.


I- KÊU GỌI LÊVI: 27-28

 Phần này được viết theo văn thể kêu gọi: viết rất ngắn gọn và không chú ý tới những chi tiết phụ thuộc, chỉ tập trung vào những ý chính yếu nhất.

c 27 “Đức Giêsu đi ra và trông thấy”: sang kiến kêu gọi luôn xuất phát từ Thiên Chúa.

 – “Một người thu thuế”: Cựu Ước coi hạng người này là ‘trộm cướp’; còn Tân Ước coi họ là ‘tội lỗi’, vì họ thường gian lận. Xã hội Do thái coi họ là những người tội lỗi công khai và cấm giao tiếp với họ.

 – “tên là Lêvi”: Trong Mt 9,9 ông mang tên là Matthêu.

 – “đang ngồi”: chú ý chút nữa đây (câu sau) ông sẽ ‘đứng dậy’.

 – “Hãy theo tôi”: Trong ngôn ngữ Thánh Kinh. ‘đi theo’ nghĩa là làm môn đệ. Như vậy Đức Giêsu gọi Lêvi làm môn đệ Ngài. Ơn gọi này rất đặc biệt vì Đức Giêsu đã gọi một người tội lỗi, công khai làm môn đệ mình.

c 28 “Ông bỏ tất cả”: bỏ ‘tất cả’ là điều Lc thường nhấn mạnh coi như điều kiện để làm môn đệ Đức Giêsu.

 – “Đứng dậy”: một thái độ dứt khoát, một thái độ vươn lên.

 – “Đi theo”: động từ ở thì imparfait. Không phải Lc mô tả một phản ứng ban đầu, mà là một cung cách lâu bền: từ nay người thu thuế tội lỗi này sẽ luôn luôn đi theo Đức Giêsu.


II- DỰ TIỆC TẠI NHÀ LÊVI: 29-32

c 29 “Ông Lêvi làm tiệc lớn đãi Ngài”: Lêvi rất vui mừng vì Đức Giêsu đã gọi ông làm môn đệ mặc dù ông là hạng tội lỗi.

 – “Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với Ngài”: Lc viết ‘những người khác’ vì tế nhị, không dám viết ‘những người tội lỗi’ như Mt và Mc. Sự kiện những người này có mặt đông đảo chứng tỏ họ cũng vui mừng vì một nhân vật đạo đức như Đức Giêsu đã không chê mà còn gọi một người trong bọn họ làm môn đệ Ngài.

c 30 Chắc chắn những người pharisêu không có mặt trong bàn tiệc với những người thu thuế hôm đó vì họ coi vào nhà người tội lỗivà nhất là ăn cùng bàn với họ thì sẽ bị lây ô uế và đồng thời tỏ ra thông đồng với những kẻ tội lỗi. Dù vậy họ đứng ngoài để nhìn và phê phán. Họ không dámphê phán trực tiếp Đức Giêsu, nhưng phê phán Ngài cách gián tiếp bằng cách noi với các môn đệ Ngài.

c 31-32 Đức Giêsu dùng một ngạn ngữ quen thuộc “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần”. Ngài coi kẻ tội lỗi như một người đau ốm, và coi mình là Thầy thuốc cứu chữa những người đau ốm vì tội lỗi.


III- TRANH LUẬN: 33-39

c 33 Nhóm pharisêu đuối lý trước câu trả lời của Đức Giêsu về việc Ngài dự tiệc với kẻ tội lỗi. Họ chuyển sang một khía cạnh khác để công kích: Đức Giêsu và môn đệ Ngài không lo ăn chay và cầu nguyện mà chỉ lo ăn uống! Cũng nên biết những người biệt phái rất siêng ăn chay: ngoài lần ăn chay theo luật buộc mỗi năm một lần vào ngày lễ Đền tội, họ còn ăn chay thêm nhiều ngày khác nữa (Lc 18,12: ăn chay mỗi tuần 2 lần); những nhóm tẩy giả ngoài việc cầu nguyện theo luật quy định, cũng thêm những kinh và những lúc cầu nguyện riêng (Lc 11,1).

c 34 Đức Giêsu phân biệt 2 thời kỳ:

 a/ Thời kỳ chàng rể đang mở tiệc cưới là thời kỳ vui, không ăn chay. Nói như vậy là Đức Giêsu nói đúng theo giáo huấn của giới Rabbi không cho phép ăn chay trong những ngày lễ vui. Nói như vậy, Đức Giêsu cũng cho thấy Ngài chính là chàng rể, một hình ảnh quen thuộc, chỉ Đấng Messia.

 b/ Thời kỳ chàng rể bị đem đi ám chỉ thời gian của GH, thời kỳ Đức Giêsu vắng mặt. Khi đó GH sẽ ăn chay (Cv 13,2).

c 36-38 Đến đây Lc viết xen vào 2 câu châm ngôn về áo mới áo cũ, rượu mới bầu da cũ. Ý muốn nói Đức Giêsu đến khai mạc một thời kỳ mới. Người ta phải sống thời kỳ mới với một tinh thần mới. Sống thời Tân Ước mà vẫn với tinh thần Cựu Ước thì hoàn toàn không hợp.

c 39 “Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói rượu cũ ngon hơn”: Câu này chen vào đây không mạch lạc, vì phía trên đang so sánh thời Đức Giêsu như rượu mới, nay đột ngột lại nói “Rượu cũ ngon hơn”!. Có 2 cách giải thích:

 a/ Câu này cắt nghĩa tại sao người do thái không theo tinh thần nới của Đức Giêsu: vì họ bám víu vào lề thói cũ của họ. Vậy ‘người ta’ trong câu này là người do thái

 b/ Câu này nhắm đến các Kitô hữu thời Lc soạn Tin Mừng và là một lời khuyến cáo họ: đừng để mình bị mê hoặc bởi những điều mới lạ (thời Lc chẳng hạn các lạc thuyết), trái lại hãy trung thành với Tin Mừng của Đức Giêsu. Như vậy những chữ ‘rượu cũ thì ngon hơn’ ám chỉ Tin Mừng Đức Giêsu.

BÀI 21: TRANH LUẬN VỀ NGÀY SABBAT (6,1-11)

1Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói: "Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát?"

3Đức Giê-su trả lời: "Các ông chưa đọc chuyện này trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? 4Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi." 5Rồi Người nói: "Con Người làm chủ ngày sa-bát."

6Một ngày sa-bát khác, Đức Giê-su cũng vào hội đường và giảng dạy. Ở đó có một người bị khô bại tay phải. 7Các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tìm được cớ tố cáo Người. 8Nhưng Người biết họ đang suy nghĩ như thế, nên bảo người bại tay: "Anh trỗi dậy, ra đứng giữa đây! " Người ấy liền trỗi dậy và đứng đó. 9Đức Giê-su nói với họ: "Tôi xin hỏi các ông: ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay huỷ diệt? " 10Người rảo mắt nhìn họ tất cả, rồi bảo người bại tay: "Anh giơ tay ra! " Anh ấy làm như vậy và tay anh liền trở lại bình thường. 11Nhưng họ thì giận điên lên, và bàn nhau xem có làm gì được Đức Giê-su không.

------------------

Đây là 2 cuộc tranh luận cuối cùng trong một cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và phái Pharisêu mà Lc ghi lại trong 5,17-6,11. Hai cuộc tranh luận này liên quan tới luật về ngày sabbat.


I- VIỆC BỨT LÚA cc 1-5

c 1 “Vào một ngày sabbat”: có dị bản khác ghi “Ngày sabbat thứ hai trong tháng thứ nhất”, càng cho thấy rõ lúc đó gần tới ngày mùa, và như thế có liên quan tới luật cấm không cho ăn giẻ lúa đầu mùa. (Câu 6 còn ghi ’vào một ngày sabbat khác;, hình như ngụ ý cứ mỗi ngày sabbat là Đức Giêsu gặp phải một cuộc tranh luận vớ các đối thủ của Ngài).

 – “Các môn đệ bứt lúa, vò trong tay và ăn”: các người pharisêu coi ‘bứt lúa’ đồng nghĩa với làm ruộng, và ‘vò trong tay’ đồng nghĩa với việc chuẩn bị bữa ăn, là hai việc bị luật cấm (Ds 15,32 cấm kiếm củi để nhóm lửa nấu ăn).

c 3-4 Câu trả lời của Đức Giêsu gồm hai phần: Phần đầu là một cách giải thích Thánh Kinh, Đức Giêsu viện dẫn 2 đoạn Cựu Ước; 1Sm 21,2-7 kể chuyện Đavít và thuộc hạ vào Đền thờ ăn bánh tiến; Lv 24,5-9 cho phép các tư tế ăn bánh tiến ấy. Lý luận của Ngài như sau: Luật có thể được miễn cho người đang ở trong tình trạng cấp bách (bởi vì, như Mc 2,25-27 luật để phục vụ con người). Còn một ý nữa mà Đức Giêsu còn không nói rõ ra: Sở dĩ Đavít và các thuộc hạ của ông có thể ăn bánh tiến là vì các ông đang ở trong tình trạng trong sạch (không làm việc tính dục), đúng đòi hỏi của luật về thánh chiến. Đức Giêsu và các môn đệ Ngài cũng là những người trong sạch như thế nên có thể ăn bánh ấy.

 – Lc không ghi ra lý luận ‘Luật để phục vụ con người’, và lý luận ‘người trong sạch có quyền ăn bánh tiến’, để tập chú vào lý luận ‘hoàn cảnh bức bách có thể miễn luật’.

c 5b – Sang phần thứ hai, Ngài tuyên bố ‘Con Người làm chủ ngày sabbat’. Đến đây vấn đề đi đến chỗ chủ yếu hơn: không phải là việc chuẩn miễn luật vì lý do này nọ, mà là ai làm chủ của luật chính alf ‘Con Người’, tức là Đức Giêsu! Từ nay tín hữu Đức Kitô được hưởng tự do nội tam do liên kết với Thầy mình.


II- CHỮA NGƯỜI BẠI TAY cc 6-11

c 6 Cuộc tranh luận thứ hai có tầm vóc quan trọng hơn cuộc thứ nhất:

 a/ Sự việc diễn ra ‘trong hội đường’ và lúc Đức Giêsu ‘giảng dạy’, nghĩa là bầu khí trang trọng, chính thức hơn.

 b/ “Các kinh sư và những người pharisêu rình” để tìm cách tố cáo Ngài.

 c/ Sauk hi bị Đức Giêsu làm đuối lý, họ ‘giận điên lên và bàn nhau xem có làm gì được Đức Giêsu không’.

 – “Một người bị khô tay phải”: nghĩa là mất khả năng làm việc để sinh nhai.

c 8 “Đứng ra giữa đây”: Đức Giêsu muốn công khai hóa và chính thức hóa việc Ngài sắp làm. Ngài muốn dùng việc này để tranh luận với các đối thủ.

c 9 Câu hỏi của Ngài chứa đựng nhiều ý tế nhị:

 – “Ngày sabbat được phép làm điều lành hay điều dữ”: Khi chống đối Đức Giêsu các đối thủ đã dựa vào chủ trương ‘không làm gì cả’ trong ngày sabbat. Phần Đức Giêsu thì đặt vấn đề ‘làm điều lành’ hay ‘(làm) điều dữ’.

 – Thực ra chủ trương của pharisêu không hẳn là hoàn toàn không làm gì cả. Họ cũng chấp thuận được cứu người nguy tử trong ngày đó (Mishna Yonna VIII,6). Nhưng họ phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể để cho phép làm như vậy. Còn Đức Giêsu, thái độ của Ngài trong trường hợp này cho thấy rõ: luật ngày sabbat phải lệ thuộc luật yêu thương và giúp đỡ kẻ khác. Ở chỗ này Đức Giêsu nêu rõ khía cạnh thứ hai của luật ngày sabbat mà các người pharisêu đã quên: đó là ngày giải phóng. 

BÀI 22: CHỌN 12 TÔNG ĐỒ (6,12-16)

12Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. 13Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. 14Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, 15Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Quá Khích, 16Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội. 

------------------

Chuyện này đánh dấu một bước ngoặt: sau một thời gian thi hành sứ vụ. Đức Giêsu đã được nhiều người biết đến, trong số đó có kẻ ngưỡng mộ, có kẻ nghịch thù. Chung quanh Ngài cũng có nhiều môn đệ 95,30.33 6,1). Bây giờ đến lúc Ngài tuyển chọn một nhóm nòng cốt để lãnh nhận trách nhiệm phổ biến lời Ngài.

c 12 – Trước khi tuyển chọn, Đức Giêsu đi lên một “ngọn núi”: Từ thời Môsê và Êlia, núi là nơi các ngôn sứ đến gặp Thiên Chúa để thỉnh ý Ngài.

 – Và Đức Giêsu “cầu nguyện”: Đức Giêsu trong Lc là một người thường xuyên cầu nguyện (5,16 6,12 9,18.28.29 10,21 11,1.22.32.40-46 23,34.46). Ngài cầu nguyện tha thiết trong những lúc quan trọng(3,21 9.28-29 22,41). Lần này Ngài cầu nguyện ‘suốt đêm’, chứng tỏ việc Ngài sắp làm là hết sức quan trọng, quan trọng đối với sứ vụ của Ngài mà cũng quan trọng đối với toàn thể lịch sử cứu độ

c 13 Đó là việc gì? Là việc tuyển chọn từ số đông môn đệ ra 12 người mà Ngài gọi là tông đồ.

 – Khi ghi nhận các tông đồ được tuyển chọn khỏi hàng ngũ môn đệ, Lc tỏ ra quan tâm tới các tác vụ trong GH. Quan tâm này sẽ được khai triển nhiuề hơn nữa trong quyển Công vụ (Cv 6,1-7). Môn đệ là tất cả những ai ‘đi theo’ Đức Giêsu, còn tông đồ là những môn đệ được tuyển lựa kỹ để làm ‘cán bộ’. Điều kiện để được tuyển là:

 a/ Đã từng sống với Đức Giêsu và chứng kiến việc Ngài chết và sống lại.

 b/ Được ‘sai đi’ (đây là ý nghĩa của chữ ‘tông đồ’ aposiolos) để loan bao tin mừng sống lại ấy. Lc dành riêng danh hiệu ‘tông đồ’ cho nhóm 12 vị vì chỉ có họ mới hội đủ 2 điều kiện này. Ngay cả với Phaolô, Lc cũng không gọi ông này là ‘tông đồ’, vì Phaolô là tông đồ theo một nghĩa khác hơn.

 – Con số 12: đây là con số các chi tộc Israel bị tản lạc khắp nơi sau biến cố lưu đày. Vậy khi Đức Giêsu chọn con số 12. Ý Ngài muốn cho biết là đã đến lúc Ngài quy tụ một dân Israel mới.

c 14-16 Trong số 12 tông đồ, có vài tên nổi bật:

 – “Simonmà Ngài gọi là Phêrô”: Trong Thánh Kinh, ai đặt tên mới cho một người nào đó thì có quyền hành trên người đó (2V 23,34 24,17); người đặt tên cũng xác định một định mệnh mới cho kẻ mang tên mới. Cái tên như trở thành linh nghiệm, nếu là do chính Thiên Chúa đặt cho (St 17,5.15.32.29).

 – Bộ ba Phêrô, Giacôbê và Gioan lại là một nhóm nhỏ đặc biệt hơn nữa trong nhóm lớn 12 (8,51 9,28). Họ sẽ đóng những vai trò quan trọng trong quyển Công vụ.

BÀI 23: PHÚC THAY VÀ KHỐN THAY (6,17-26)

17Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn 18đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành. 19Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.

20Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói:
"Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,
vì Nước Thiên Chúa là của anh em.

21"Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,
vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.
"Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,
vì anh em sẽ được vui cười.

22"Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. 23Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.

24"Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.

25"Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.
"Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.

26"Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.

------------------

Sau khi đã tuyển chọn nhóm 12, Đức Giêsu cùng họ xuống núi và đến một cánh đồng, rồi trước mặt một đám đông đảo gồm các môn đệ và dân chúng, Ngài giảng một bài quan trọng.


I- SO SÁNH VỚI MATTHÊU

 Song song với đoạn văn này trong Lc và Mt 5,3-12. Giữa hai bên có nhiều điểm không giống nhau:

 1/ Mt định vị trí bài giảng này của Đức Giêsu ‘trên núi’ (Mt 5,1). Lc định vị trí “trên một nơi bằng phẳng” (c 17). Ta nên biết Mt có đặt nó ‘trên núi’ vì muốn so sánh Đức Giêsu với Môsê và bài giảng của Ngài là Luật mới hoàn chỉnh Luật Môsê. Phần Lc không hề quan tâm so sánh huấn dụ của Đức Giêsu với huấn dụ của các luật sĩ và biệt phái. Lc chỉ quan tâm so sánh tinh thần của Đức Giêsu với tinh thần của người đời.

 2/ Bản văn của Lc ngắn hơn của Mt, số câu chỉ bằng 1/3.

 3/ Trong Mr, bài giảng này bắt đầu sứ vụ của Đức Giêsu, còn trong Lc đã bắt đầu sứ vụ trước đó rồi.

 4/ Mt ghi tất cả 8 lời “phúc thay”, cón Lc ghi 4 lời “phúc thay”, cộng lên 4 lời “khốn thay” tương ứng.

 5/ Về lời “phúc thay” thứ nhất, Mt ghi “tân hồn nghèo khó”, còn Lc ghi “nghèo khổ” đơn giản.

 6/ Trong lời “phúc thay” thứ hai và ba, và trong lời “khốn thay” thứ hai và ba, Lc ghi thêm chữ “bây giờ”. Nghĩa là Lc thêm 4 chữ “bay giờ”.

 Chắc chắn những khác biệt đó thể hiện những quan điểm giáo lý khác nhau giữa hai tác giả. Chúng ta sẽ hiểu tuần tự dưới đây:


II- MỐI PHÚC THỨ NHẤT VÀ MỐI KHỐN THỨ NHẤT: NGƯỜI GIÀU VÀ NGƯỜI NGHÈO.

1/ Bối cảnh Thánh Kinh:

a/ Cựu Ước: một chủ đề quen thuộc của Cựu Ước là cảnh cáo nguy hiểm của sự giàu sang.

Amos 4,1-3 6,1-14  8,4-14.

Mikha 3,1-4.

Gióp 31,24.

Dân số 49,7-8 52,9.

Huấn ca 11,16t 40,13.

b/ Tân Ước:  Thư Giacôbê 1,9-11 2,2-6 5,1-6.

Khải huyền 2,9 3,17-18.

Lc 8,14 ss Mt 13,22; Mc 4,19 (dụ ngôn người gieo giống).

Lc 18,18-30 ss Mt 19,16-30; Mc 10,17-31 (Đức Giêsu kêu gọi một người giàu).

 Nội dung của những đoạn Thánh Kinh ấy:

 – Cựu Ước và thư Giacôbê cảnh cáo sự lạm dụng của cải vật chất.

 – Những lời dạy của Đức Giêsu cho thấy sự nguy hiểm của giàu sang, khiến cho người giàu rất khó vào Nước Trời (họ cũng có thể vào, nhưng khó hầu như một phép lạ).

2/ Khuynh hướng chung của Lc:

a/ Khuyến khích sự từ bỏ hoàn toàn

 – Tường thuật việc chọn các môn đệ đầu tiên. Lc nhấn mạnh (hơn Mt và Mc) về sự cần thiết phải từ bỏ ‘mọi sự’ (panta) (5,11).

 – ở 3 đoạn khác cũng song song với Mt và Mc (Lc 18,22; Mc 10,21; Mt 19,21; Lc 5,11; Mc 1,20; Mt 4,22; Lc 5,28; Mc 2,14; Mt 9,9), Lc cũng nhấn mạnh tới chữ ‘panta’.

 – Lc 6,30 đã sửa đổi Mt 5,42: phải xem bản dịch Pháp văn của TOB:

Mt: À qui demande, donne.

Lc: À quiconque te demande, donne.

 – Lc 14,26 đòi hỏi nhiều hơn Mt 10,37: bản văn Lc “Ai theo Ta mà không ghét cha mẹ…”

 – Lc 9,23 “Phải vác thập giá mình mỗi ngày…” cũng gắt gao hơn Mt 16,24; Mc 8,34.

 – Lc 14,33 sau khi kể dụ ngôn về một người xây tháp và một ông vua đi giao chiến đã thêm kết luận “hễ ai không từ bỏ mọi của cái mình thì không thể làm môn đệ Ta đâu”.

 – Những bản toát yếu về nếp sống của cộng đoàn Kitô sơ khai trong sách Công vụ Tông đồ cũng đề cao (có phần lý tưởng) về thái độ không dính bén của cái, để tất cả làm của chung: Cv 1,44-45 4,32.34.35.

b/ Khuyến khích sử dụng của cải cho tốt:

 Theo Lc, sử dụng tốt của cải tức là phân phát chúng:

 – Lc 14,12-14 (đoạn riêng của Lc): phải biết cho đi mà không chờ đáp trả.

 – So sánh Lc 6,30.34-35 với Mt 5,42: Lc đã chen vào thêm một số chi tiết.

Mt: À qui te demande, donne; à qui veut l’emprunter, ne tourney pas le dos.

Lc: À quiconque te demande, donne; à qui te prend ton bien, nela réciame pas.

Et si vous prêtez à ceux don’t vous en a-t-on?

Prêtez sans rien espérer en retour.

 – So sánh Lc 12,33 với Mt 6,19-20.

 Mt: Các con đừng tích trữ kho tang dưới đất, nơi mối mọt gặm hư và trộm cắp đào tường cướp mất. Nhưng nên tích trữ kho báu trên trời, nơi môi mọt không hề gặm hư và trộm cắp cũng không đào tường cướp mất.

 Lc: Hãy lo bán của riêng mà chia cho người nghèo. Hãy sắm lấy ví tiền không hề hư nát, tức là kho vô tận trên trời nơi kẻ trộm không sao mò tới và mối mọt cũng không thể nào gặm hư.

 Ta thấy Mt nói tới các ý hướng tích trữ (phải khôn ngoan tích trữ thứ kho tành đời sau không hư mất). Còn Lc nói tới một sự trao đổi cụ thể (bỏ kho báu đời này để có được kho báu đời sau).

 – Sau dụ ngôn về người quản lý khôn ngoan, Lc 18,9 suy nghĩ: “Hãy dùng tiền của khôn ngoan gây tình bạn hữu, để khi nào các con hết tiền hết của thì họ rước các con vào trong nhà ở muôn đời”. Nói cách khác: sử dụng tốt tiền của là biết phân phát chúng cho người nghèo.

 – Lc là tác giả duy nhất ghi lại những lời Gioan Tẩy Giả khuyên những kẻ sám hối: Hãy biết sử dụng tốt của cải đời này bằng cách cho đi.

* Tóm lại: Người giàu muốn được hưởng phúc đời sau thì phải từ bỏ của cải đời này, hoặc quảng đại phân phát chúng cho người nghèo.

c/ Bất hạnh của người giàu

 – Dụ ngôn người phú hộ và Ladarô (Lc 16,19-31): giàu mà ích kỷ thì sẽ bị chúc dữ vì đã sử dụng không tốt của cải mình giữ.

 – Dụ ngôn phú hộ không khôn (Lc 12,16-21): ông này không khôn bởi vì không nghĩ tới cách nào khác sử dụng của cải ngoài việc chỉ lo thụ hưởng chúng.

 – Kinh Magnificat (Lc 1,51-53): sự thay đổi tình cảnh để kẻ nghèo được nâng lên và người giàu bị hạ xuống.

3/ “Bấy giờ”:

 Bản văn Lc đã thêm vào 4 chữ ‘bây giờ’, mói lên sự đối lập giữa cảnh nghèo khổ hiện tại với cảnh hạnh phúc sau này tiếp theo cái chết. Tư tưởng này cũng có trong một số bản văn khác của Lc.

– Dụ ngôn phú hộ và Ladarô

– Dụ ngôn phú hộ hả hê tích trữ của cải.

– Dụ ngôn người quản lý bất trung (Lc 16,9)

– Lc 12,33: Phải dùng của cải đời này để sắm của cải đời sau.

– Lc 23,43: Lời Đức Giêsu hứa với người trộm lành.

4/ Ý nghĩa mối phúc thứ nhất và mối khôn thứ nhất:

 Dựa trên những phân tích ở trên về bối cảnh Thánh Kinh và hướng tư tưởng của Lc, ta có thể giải thích mối phúc (và mối khốn tương ứng) thứ nhất như sau:

 – Lc không lên án rằng sự giàu sang tự nó là xấu.

 – Lc khai triển một đề tài có sẵn là: đối lập sự giàu sang hiện tại với sự giàu sang đời sau. Lời khuyên của Lc là phải chọn lựa dứt khoát: thà chọn sự giàu sang đời sau, đừng để của cải đời này trói buộc khiến ta quên đời sau: những người giàu có phần nguy hiểm hơn vì dễ bị trói buộc như thế; những người nghèo có phúc hơn vì ít bị trói buộc như thế.


III- MỐI PHÚC VÀ MỐI KHỐN THỨ HAI – ĐÓI KHÁT VÀ NO ĐỦ

1/ Trong suy nghĩ của Lc, giàu lôn luôn đi đôi với no và nghèo luôn đi đôi với đói. Những bản văn khác của Lc khi mô tả người giàu và người nghèo cho thấy rõ điều này.

2/ Vì thế, ý nghĩa của cặp thứ hai này cũng tương tự với cặp thứ nhất: những người đói khát co phúc vì họ dễ hướng tới hạnh phúc đời sau, trái lai những người no vô phúc, vì họ dễ bị trói buộc vào đời này và quên lãng hạnh phúc đời sau.


IV- MỐI PHÚC VÀ MỐI KHỐN THỨ BA – KHÓC VÀ CƯỜI

1/ Thư Gc 4,4-10 và Kh 18 gán ‘vui cười’ cho người giàu. Họ cười vì họ thỏa mãn với sự giàu sang đời này của họ; còn ‘khóc’ là khi của cải đời này bị sụp đổ.

2/ Như thế ý nghĩa của cặp thứ ba này cũng tương tự với hai cặp trên: sự vui cười tự mãn của người giàu khiến họ dễ bám vào đời này. Đó là vô phúc của họ: trái lại sự khóc lóc của người nghèo là phúc vì họ hướng đến đời sau.


V- MỐI PHÚC VÀ MỐI KHỐN THỨ TƯ – BỊ NGƯỢC ĐÃI VÀ ĐƯỢC O BẾ

1/ Ở đời này, người ta thường o bế những kẻ giàu sang và ngược đãi những người nghèo hèn.

2/ Do đó ý nghĩa của cặp thứ tư này cũng tương tự các cặp trên.


VI- KẾT LUẬN

Bản văn của Mt nhấn mạnh đến những thái độ nội tâm cần có để dược vào Nước trời, còn bản văn của Lc chú ý tới khía cạnh xã hội.

Hiện trạng của xã hội là của cải được phân chia không đều đưa đến cảnh khốn khó nhiều mặt của người nghèo. Các cộng đoàn Kitô gồm hầu hết là những người nghèo khốn khổ ấy. Lc an ủi họ, mở mắt cho họ thấy cái phúc của họ: họ ở trong điều kiện thuạn lợi để hướng về hạnh phúc thật đời sau hơn là những người giàu sang đang ở trong điều kiện khó khăn hơn nhiều.

BÀI 24: CÁCH SỐNG CỦA MÔN ĐỆ (6,27-38)

27"Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, 28hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. 29Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. 30Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. 31Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy. 32Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. 33Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. 34Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng. 35Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

36"Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. 37Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. 38Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy."

------------------

A- HÌNH THỨC

Xét về hình thức (cách dùng chữ, dùng hình ảnh…) bản văn Lc có những đặc điểm sau đây:

1/ Lv 19,18 cũng có lời dạy yêu thương “Hãy yêu thương tha nhân như chính bản thân mình”. Lc đã thay chữ ‘tha nhân’ (prochain) bằng chữ ‘kẻ thù’. Câu 27 “Hãy yêu thương kẻ thù”.

Người thời Cựu Ước cũng biết mở rộng tình thương ra khỏi phạm vi hạn hẹp của gia đình, nhưng chỉ mở rộng tới (hiểu là những kẻ ở ngoài gia đình mà được mình thích). Đức Giêsu mở rộng tới chỗ không ai ngờ. Đó là ‘kẻ thù’.

2/ Mt 5,40: “Ai muốn kiện con để đoạt áo trong…”

 Lc 6,29: “Ai đoạt áo choàng…” Rộng hơn: không nhẹ nhàng trong một vụ kiện, mà mạnh mẽ vì là một sự tấn công.

3/ Mt 5,42 ghi: “À qui te demande, donne…”

 Lc 6,30 ghi: “À quiconque te demande, donne…” rộng hơn.

4/ c 31 “Các con muốn người ta làm chi cho mình thì hãy làm cho người ta như thế”. So với một số câu khác thì câu này tích cực hơn:

– Sách Nho: Kỷ sở bất dục – Vật thí ư nhân.

– Tb 4,15: Điều mà con không thích thì đừng làm cho tha nhân

– Trường phái hy lạp Stoiciens: Điều ngươi không muốn người ta làm cho bạn thì bạn đừng

  làm cho người ta. Chẳng những tích cực, câu này còn biểu lộ sự quảng đại có sáng kiến

  trước (không đợi cho có kinh nghiệm về sự khó chịu người khác gây cho mình rồi mới

  dựa vào đó để đừng gây cho người ta).

5/ c 33: “Nếu các con làm ơn…: so với Mt 5,47 “Nếu các con chào hỏi…”. Ta thấy Lc sửa lại cho hợp với thính giả người lương (‘chào hỏi’ là thói quen của thính giả Do thái và Phương Đông).

 “… thì có gì là ơn với nghĩa”: so với Mt 5,46 “… thì còn đáng thưởng công chi nữa”: bớt đi tính vụ lợi, nhấn mạnh đến tính miễn phí vì lợi ích vì gợi tới ơn Chúa.

6/ c 35 “… các con… sẽ được gọi là Con Đấng Chí Tôn”: đây chính là tước hiệu của Đức Giêsu (Lc 1,32): Kẻ nào yêu thương kẻ thù thì được mang cùng tước hiệu với Đức Giêsu.

7/ c 36 “Như Cha các con là Đấng xót thương” so với Mt 5,48: “Như Cha là Đấng trọn lành”. Lc không nói mơ hồ, mà diễn tả sự trọn lành bằng một đức tính cụ thể là xót thương.

8/ cc 37-38: “Sẽ không bị xét đoán… không bị lên án… sẽ được cho…” đây là những passif divin hiểu ngầm tác nhân của những động từ ấy là Thiên Chúa.


B- NỘI DUNG

 Đoạn Tin Mừng này đề cập đến 3 điều: Yêu thương kẻ thù – Đừng xét đoán (lòng thương xót) và Hãy cho đi (lòng tốt).

1/ Yêu thương kẻ thù (cc 27-36)

c 27-28 Cựu Ước cũng có giới luật yêu thương: Lv 19,18 “Ngươi hãy yêu thương cận nhân” (ton prochain). Đức Giêsu chú giải chữ ‘cận nhân’ ấy một cách rộng rãi hơn: Cận nhân là bất cứ ai, không giới hạn, kể cả kẻ thù. Thực ra trong số những cận nhân, kẻ thù là đối tượng khó thương nhất. Nhưng khi Đức Giêsu cụ thể hóa tình thương cận nhân vào đối tượng này thì tình thương trở thành vừa cụ thể nhất vừa cao nhất.

 Thế nhưng làm sao có thể ép tình thương được? Nói đúng ra yêu thương xét theo nó là một tình cảm thì không thể ép được. Điều Đức Giêsu dạy ở đây là: làm ơn – chúc phúc – cầu nguyện. Nếu có được tình cảm thì càng tốt, còn nếu chưa có thì hãy làm những việc ấy, dần dần chúng có thể đưa đến tình cảm thật. Đặc biệt, khi cầu nguyện cho kẻ thù thì người môn đệ kéo Chúa vào cuộc theo: họ xin Chúa làm cho kẻ thù điều mà bản thân họ chưa làm nổi.

c 29-30 Khuynh hướng tự nhiên là muốn trả đũa, lấy ác báo ác. Đức Giêsu dạy ta đừng trả đũa, đừng lấy ác báo ác. Khi trả đũa, người ta tưởng rằng có thể lấy sự ác để chiến thắng sự ác. Thực ra như thế là rất sai, sự ác chỉ có thể bị chiến thắng bởi sự thiện mà thôi.

 Vả má, đoạt áo, xin và đoạt của đều là những thí dụ. Đức Giêsu dùng để diễn tả thái độ lấy thiện báo ác trên. Những thí dụ này ta không nhất thiết phải theo đúng (vả lại chúng được diễn tả cách cường điệu). Phải luôn nhớ điều quan trọng là ‘lấy thiện báo ác’ và mỗi người cố gắng thể hiện ra bằng những thí dụ hợp với hoàn cảnh mình.

c 31 “Các con muốn người ta làm chi cho mình thì hãy làm như thế cho người ta”: So với lời dạy của nhiều người khác (xem phần A) thì lời này của Đức Giêsu tích cực hơn và rộng rãi hơn.

c 32-34 Tình thương của người môn đệ không được dựa trên những tính toán có qua có lại. Họ yêu thương chỉ vì đó là cách hành động của Thiên Chúa yêu thương mọi người mà không mong được đáp đền.

c 35 Ai yêu thương như thế thì được gọi là “Con Đấng Tối Cao”. Đây chính là tước hiệu được đặt ra cho chính Đức Giêsu (Lc 1,32).

c 36 Như thế tình thương của người môn đệ có hai nguyên tắc hướng dẫn: Một là như chính mình. Hai là như Cha. Thực ra hai nguyên tắc này cũng thành một bởi vì người môn đệ chính là “Con Đấng Tối Cao”.


2/ ĐỨNG XÉT ĐOÁN (cc 37)

Đã yêu thương thật thì sẽ không xét đoán, bởi vì nếu xét đoán xem đối tượng có đáng được ta yêu hay không, tức là đã giới hạn cho tình thương rồi.

Thế nhưng phải chăng ta cũng không được có cảm nghĩ này nọ về một người nào đó? Ở đây phải phân biệt: có thể đánh giá về một hành động của người ta (xấu hay tốt), nhưng không được từ đó mà đưa ra kết luận tốt xấu về con người của người đó được.


3/ CHO ĐI c 38

Đức Giêsu dùng hình ảnh ông chủ ruộng đối với thợ mình: người chủ keo kiệt thì đong lúa thật kỹ (đẻ chỉ vừa đủ thôi, thí dụ đong nhanh, lấy cây để gạt miệng đấu); người chủ rộng lượng thì có ý đong sao cho thật đầy (dằn, lắc, đổ vun lên…). Nếu ta cư xử với người khác thế nào (keo kiệt hay rộng lượng) thì Thiên Chúa cũng cư xử với ta như thế đó.


KẾT LUẬN

Tương quan giữa người môn đệ với kẻ khác không còn phải dựa trên luật trả đũa của Cựu Ước, cũng không dựa trên luật công bình phân phối của người đời, mà phải dựa trên tình thương huynh đệ: Mọi người đều là anh em vì có cùng một Cha trển trời.

BÀI 25: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỦA LÒNG NHIỆT THÀNH (6,39-49)

39Đức Giê-su còn kể cho môn đệ dụ ngôn này: "Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố? 40Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? 42Sao anh lại có thể nói với người anh em: "Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra", trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!

43"Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt. 44Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho! 45Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.

46"Tại sao anh em gọi Thầy: "Lạy Chúa! Lạy Chúa! , mà anh em không làm điều Thầy dạy?

47"Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. 48Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. 49Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành."

------------------

Bố cục: có thể chia đoạn này thành 5 phần:

– cc 39-40: thí dụ về người hướng đạo mù.

– cc 41-42: thí dụ về cái xà và cọng rác.

– cc 43-44: thí dụ về cây vả trái.

– c 45: thí dụ về ‘kho tàng’ trong lòng.

– c 46-49: phải thi hành những lời dạy trên

Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng phần theo bố cục này.


DẪN NHẬP

 Đoạn này là một phần của “Bài giảng trên cánh đồng” (6,17-49).

 Bài này giảng cho ai? Cho các môn đệ (c 20 ‘Đức Giêsu ngước mắt nhìn các môn đệ và nói…’)

 Nội dung chính: Đức Giêsu dạy cách sống của người môn đệ

Trong ‘Bài giảng trên núi’ do Mt ghi lại, cách sống của người môn đệ chủ yếu là phải gương mẫu (như muối ướp trần gian, như đèn tỏa sáng trước mặt mọi người Mt 5,13-16).

Còn trong ‘Bài giảng trên cánh đồng’ do Lc ghi lại. Lc kể ra những điều kiện cần có để có thể là một môn đệ gương mẫu.


I- NGƯỜI HƯỚNG ĐẠO MÙ (c 39-40)

1/ Phần này gồm hai câu nói của Đức Giêsu: c 39 “làm sao kẻ mù dắt được kẻ mù…” và c 40 “môn đệ không hơn Thầy được…”.

 Hai câu này được Mt ghi lại ở hai nơi khác nhau (Mt 15,14 và Mt 10,24) vậy có lẽ đây là hai logia, nghĩa là hai câu nói rời mà Đức Giêsu đã nói vào hai lúc khác nhau, nhưng ở đây chúng được Lc tập hợp chung lại. Vì thế mà ta thấy sự liên hệ giữa chúng không được chặt chẽ, đưa đến một logic cũng lỏng lẻo.

2/ Muốn cho có logic, có lẽ ta phải đảo ngược lại như sau:

 – Trên nguyên tắc, môn đệ dốt hơn Thầy.

 – Do đó, nếu Thầy mà mù quáng để dạy những điều sai lầm, thì môn đệ còn bị sai lầm hơn nữa

 – Người môn đệ của Đức Giêsu có trách nhiệm hướng dãn kẻ khác (họ trở nên ‘thầy’ của kẻ khác). Trước khi làm việc hướng dẫn này, họ phải cẩn thận đừng để mình bị sai lầm.

 Muốn thế, một mặt họ phải cố gắng rập khuôn theo Đức Giêsu – Tôn sư của họ. Và mặt khác phải tự phê tự sửa trước khi phê bình và sửa chữa người khác.

3/ Tóm lại, điều kiện thứ nhất của người môn đệ gương mẫu là phải sáng suốt bằng cách rập khuôn theo Tôn sư Giêsu và tự phê tự sửa.


II- CÁI XÀ VÀ CỌNG RÁC (41-42)

c 41 – Ngoài trách nhiệm hướng dẫn người khác theo đúng giáo huấn của Tôn sư Giêsu, người môn đệ đôi khi cũng phải sửa lỗi người khác (“lấy cái rác trong con mắt anh em ra”). Những câu trong phần này không cấm đoán việc sửa lỗi, trái lại chúng nói về việc sửa lỗi ấy.

 – Nhiều khi việc sửa lỗi không được công bằng vì lý do thành kiến, tự ái, hồ đồ… khiến ta xem một lỗi nhỏ của người khác thành lỗi nặng. Ngược lại xem một lỗi nặng của bản thân như lỗi nhỏ. Cho nên để việc sửa lỗi được công bằng và hữu ích thì trước tiên không được sửa lỗi người khác do động cơ tự ái, thành kiến hoặc chỉ để chứng tỏ uy quyền.

c 42 – Nguy hiểm thứ hai phải đề phòng khi sửa lỗi người khác, đó là giả hình (“Thấy cái rác trong con mắt anh em mà không thấy cái xà trong con mắt mình; Hỡi kẻ giả hình”). Nghĩa là bên trong và bên ngoài của ta không hợp nhau; trong lòng mình xấu thế mà mình tỏ ra tốt và muốn sửa cái xấu nơi người khác. Vậy trước khi sửa người thì phải sửa chính mình (“Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ để lấy cái rác trong con mắt người anh em”).


III- CÂY VÀ TRÁI (43-44)

1/ Chỉ có thể tránh nguy hiểm giả hình nếu như hành động bề ngoài của ta hợp với bên trong của ta. Đối với biệt phái và luật sĩ, một hành động được coi là tốt khi nó phù hợp với Luật. Đức Giêsu sâu sắc hơn: một hành động là tốt, khi nó hợp với một tâm hồn tốt, một tâm hồn tốt sẽ sinh ra những hành động tốt.

2/ Trên thực tế, lòng người không phải tuyệt đối hoặc tốt hoặc xấu, không ai hoàn toàn tốt mà cũng không ai hoàn toàn xấu. Thí dụ về cây và trái ở phần này xem ra không thực tế vì nó giả thuyết lòng người đơn thuần là tốt hẳn hoặc xấu hẳn.

 Đây là kiểu nói đơn giản và cường điệu của Đức Giêsu để làm nổi bật bài học của Ngài và cũng dễ hiểu cho độc giả bình dân vốn không quen những phân biệt tế nhị của người trí thức.


IV- KHO TÀNG TRONG LÒNG: 45

1/Trong phần này, Đức Giêsu so sánh cõi lòng con người như một kho tang. Nó là nơi xuất phát những lời nói và việc làm hoặc tốt hoặc xấu. Từ kho tàng tốt thì sẽ phát ra những lời nói việc làm tốt. Bởi đó người môn đệ phải làm sao cho kho tang lòng mình chứa đầy những điều tốt.

2/ Những điều tốt phải chứa trong kho tàng lòng mình là gì? Đó là những giáo huấn của Đức Giêsu.


V- PHẢI THI HÀNH (48-49)

 Tất cả những lời dạy trên đều rất hay. Nhưng nếu chỉ có nghe suông thôi thì chẳng ích lợi gì và người như thế cũng chẳng đáng là môn đệ Đức Giêsu. Họ chỉ như một cái nhà được xây trên cát mà thôi. Còn những ai chẳng những nghe mà còn thi hành thì mới xứng đáng là môn đệ Ngài, họ như cái nhà được xây trên đá vững chắc


KẾT LUẬN

 Người môn đệ của Đức Giêsu không phải chỉ là người chấp nhận thương yêu kể thù (đoạn trước: cc 27-36), mà còn phải là người nhiệt thánh muốn cho người khác tiến bộ trên con đường tốt. Cho nên người môn đệ lo hướng dẫn người khác, đôi khi nếu cần thì sửa lỗi người khác. Nhưng trước khi hướng dẫn người ta thì mình phải sáng suốt theo sự hướng dẫn của Đức Giêsu. Trước khi sửa lỗi người khác thì phải tự sửa mình cho đúng với giáo huấn của Đức Giêsu.

BÀI 26: CHỮA NGƯỜI ĐẦY TỚ VIÊN ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG (7,1-10)

1Sau khi đã nói hết những lời ấy cho dân chúng nghe, Đức Giê-su vào thành Ca-phác-na-um. 2Một viên đại đội trưởng kia có người nô lệ bệnh nặng gần chết. Ông ta yêu quý người ấy lắm. 3Khi nghe đồn về Đức Giê-su, ông cho mấy kỳ mục của người Do-thái đi xin Người đến cứu sống người nô lệ của ông.

4Họ đến gặp Đức Giê-su và khẩn khoản nài xin Người rằng: "Thưa Ngài, ông ấy đáng được Ngài làm ơn cho. 5Vì ông quý mến dân ta. Vả lại chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta." 6Đức Giê-su liền đi với họ. Khi Người còn cách nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này cho bạn hữu ra nói với Người: "Thưa Ngài, không dám phiền Ngài quá như vậy, vì tôi không đáng rước Ngài vào nhà tôi. 7Cũng vì thế, tôi không nghĩ mình xứng đáng đến gặp Ngài. Nhưng xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi được khỏi bệnh. 8Vì chính tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: "Đi! là nó đi; bảo người kia: "Đến! là nó đến; và bảo người nô lệ của tôi: "Làm cái này! là nó làm." 9Nghe vậy, Đức Giê-su thán phục ông ta, Người quay lại nói với đám đông đang theo Người rằng: "Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Ít-ra-en, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế." 10Về đến nhà, những người đã được sai đi thấy người nô lệ đã khỏi hẳn.

------------------

I- VĂN MẠCH

 Trong bài giảng trên cánh đồng, Đức Giêsu đã tỏ ra là một tiến sĩ nói năng có uy quyền; còn trong phần này Ngài tỏ ra là một Đấng Cứu tinh đầy uy quyền, một uy quyền vượt khỏi mọi giới hạn:

– Ban ơn cho người ngoại (7,1-10).

– Cứu sống kẻ đã chết (7,11-17).

– Cứu chữa những người bệnh và những người tội lỗi (7,18-35).

– Ban ơn tha thứ (7,36-50).

– Uy quyền đó đã khiến các môn đệ đi theo Ngài (8,1-3).


II- GIẢI THÍCH

c 1 – “Capharnaum”: đây là một thành phố ở biên giới cho nên có một trạm quan thuế và một đồn lính. Trong đồn có nhiều lính đánh thuê thuộc đủ mọi dân: Syria, Thrace, Germany, Gaule.

c 2 “Đại đội trưởng”: đây là một sĩ quan Rôma chỉ huy 100 quân (tương đương với đại đội trưởng ngày nay). Câu 5 cho biết ông ‘quý mến’ dân Do thái và dùng tiền riêng để ‘xây Hội đường’ cho họ.

 Có phải ông là một người tòng giáo (prosétyte) không? Có le không. ởi vì sự kiện ông xây Hội đường chưa đủ nói lên ông là tòng giáo; hơn nữa nếu ông là tòng giáo thì những kỳ lão Do thái đã không giới thiệu ông bằng những lời nói xa lạ là ‘ông quý mến dân ta’.

 Vậy có lẽ ông cũng vẫn còn là một người ngoại (paien). Việc ông quý mến dân Do thái và xây Hội đường cho họ cho thấy có lẽ ông không thỏa mãn với tín ngưỡng đa thần của các dân ngoại và đang có cảm tình với tín ngưỡng độc thần của dân Do thái. Ông là một tâm hồn thiện chí đang đi tìn chân lý.

c 3b – Nghe đồn về Đức Giêsu”: Ông cũng nghe người ta nói về quyền phép của Đức Giêsu và ngưỡng mộ Ngài. Nhưng khi cần Ngài giúp cứu một đứa đầy tớ đang bệnh nặng thì ông tự cảm thấy không xứng đáng được gặp Ngài.

 – “Ông nhờ một nhóm kỳhào Do thái”: ông tự thấy không xứng đáng vì tư cách nào: vì ông là người tội lỗi? hay vì ông là người ngoại? Nếu vì tư cách tội lỗi thì có lẽ ông đã nhớ bất cứ người nào khác miễn là họ không tội lỗi bằng ông. Vậy ông thấy không xứng đáng vì ông là người ngoại, chính vì thế nên ông mới nhờ những người Do thái thay ông đến với Đức Giêsu.

c 4 “Thành khẩn thưa Ngài”: tại sao các kỳ hào Do thái phải ‘thành khẩn’, nghĩa là phải nài nỉ Đức Giêsu? Vì họ quen nghĩ rằng ơn Chúa chỉ ban cho dân Do thái mà thôi. Trong trường hợp này, họ xin Đức Giêsu cho một ngoại lệ vì lý do viên đại đội trưởng đã có một số công lao đối với người Do thái.

 Phần Đức Giêsu, thì trong bài giảng trên cánh đồng Ngài đã cho thấy ơn Chúa sẵn sàng ban cho mọi người (“Phúc cho những người nghèo đói, khóc, bị bách hại…”, không có một câu nào “Phúc cho người Do thái” cả).

c 6 – Còn phần viên đại đội trưởng thì ông tin rằng Đức Giêsu có một liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa nên Ngài có quyền năng cứu sống đầy tớ ông. Chính vì nghĩ Đức Giêsu có liên hệ với Thiên Chúa, nên ông mới cảm thấy không xứng đáng giáp mặt với Ngài, như Môsê, như Isaia và như Phêrô (“Xin Ngài hãy xa con” 5,8-9). Chính đây là một chi tiết chứng tỏ đức tin của ông mạnh đến nỗi được Đức Giêsu khen.

c 7 “Chỉ xin Chúa phán một lời”: các kỳ lão Do thái nghĩ rằng sự hiên diện của Đức Giêsu mới cứu được đứa đầy tớ, còn viên đại đội trưởng thì tin rằng quyền năng của Lời nói của Ngài cũng đủ. Ông có ý nghĩ đó do kinh nghiệm nghề nghiệp của ông: là sĩ quan, ông chỉ cần ra lệnh là binh sĩ sẽ làm theo, lời nói phát sinh hiệu quả.

c 8 Có hai cách giải thích lập luận của viên đại đội trướng:

 – Giải thích truyền thống là lập luận a fortiori: tôi tuy chỉ là cấp thấp mà khi ra lệnh thì người khác còn làm theo, huống chi Ngài là người cấp cao, Ngài chỉ cần phán một lời thì sẽ xảy ra như ý Ngài muốn. Giải thích này khiến cho c 8 hợp logic, nhưng buộc phải bóp méo nguyên văn phần nào, nguyên văn là ‘vì tôi’ chứ không phải là ‘tùy tôi’.

 – Giải thích mới cắt nghĩa lại những chữ ‘người cấp dưới’: ngôn ngữ Aram cũng hiểu kiểu nói này có nghĩa là ‘người đại diện’. Vậy lập luận của viên đại đội trưởng như sau: Vì (cũng như) tôi là người đại diện (của nhà vua)… thì Ngài (là đại diện của Thiên Chúa)… Giải thích này hấp dẫn bởi nó càng đề cao đức tin của viên đại đội trưởng: Ông đã tin rằng Đức Giêsu là đại diện của Thiên Chúa. Tuy nhiên giải thích này lại dựa vào một suy đoán rằng Lc đã dùng một từ Hy lạp, nhưng phải hiểu theo nghĩa Aram.

c 9 Lời khen ngợi của Đức Giêsu: đức tin của viên đại đội trưởng lớn hơn của dân Israel nữa, bởi vì Israel đã được chuẩn bị từ lâu bởi Luật và các ngôn sứ để đón Đấng Messia, nhưng jhi Ngài đến thì họ không nhận ra; còn viên đại đội trưởng này dù không được chuẩn bị nhưng đã tin ngay rằng Đức Giêsu có một liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa.


III- KẾT LUẬN

 Tường thuật này không chú trọng tới phép lạ chữa bệnh, mà chú trọng tới đức tin khiến xảy ra phép lạ đó. Như vậy chuyện này là khúc mở đầu cho việc lương dân gia nhập GH.

BÀI 27: CỨU SỐNG CON TRAI BÀ GÓA THÀNH NAIM (7,11-17)

11Sau đó, Đức Giê-su đi đến thành kia gọi là Na-in, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. 12Khi Đức Giê-su đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. 13Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: "Bà đừng khóc nữa! " 14Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giê-su nói: "Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy! " 15Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ. 16Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: "Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người". 17Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận. 

------------------

I- VĂN MẠCH

1/ Rất nhiều chi tiết trong đoạn này chứng tỏ Lc đã cố ý so sánh việc Đức Giêsu làm cho con trai bà góa thành Naim sống lại với việc ngôn sứ Êlia làm cho con trai bà góa xứ Sarépta sống lại (1V 17,7-24) và Êlisê (2V 4,1-36).

c 11 – “Thành kia gọi là Naim”: Lc ít khi định vị trí những sự việc nhưng lần này lại định rõ là thành Naim, bởi vì nó rất gần với thành Shunem là nơi Êlisê đã cứu sống con trai một bà góa (2V 4,1-36).

c 12 “Khi Ngài đi tới gần cửa thành”: 1V 17,10 (Êlia và Sarépta)

 – “Con một”: con của bà Sảepta và bà Shunem (chú ý: Đức Giêsu cũng cứu sống con gái ông Giairô 8,42 và một đứa trẻ kinh phong 9,38. Cả hai cũng là ‘con một’. Đây là hai chi tiết nữa Lc so sánh Đức Giêsu với Êlia và Êlisê.

c 15 – “Trao nó lại cho mẹ nó” 1V 17,23.

 – “Một đại ngôn sứ đã dấy lên”: Trong Cựu Ước hai ngôn sứ Êlia và Êlisê được coi là đại ngôn sứ vì đã làm những phép lạ cứu sống.

c 16 – “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài”: Kiểu nói quen thuộc của Cựu Ước chỉ thời đại Messia.

2/ Lc thuật lại phép lạ này để chuẩn bị bằng chứng cho 7,22: Khi đó Gioan Tẩy Giả sai người đến hỏi Đức Giêsu có phải là Messia chăng, Đức Giêsu đã đưa dấu chỉ ‘người chết sống lại’ trong số nhiều dấu chỉ khác nữa để trả lời chính Ngài là Messia.

3/ Như thế, phép lạ này có chiều kích Messia rõ rệt.


II- GIẢI THÍCH

c 11 “Có môn đồ và dân chúng đi theo”: phép lạ này diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều người, cho nên đây không phải là chuyện bịa đặt.

c 12“Một người mới chết”: người Do thái có thói quen chết ngày nào chôn ngày ấy.

c 13 “Chúa”: tiếng Hy lạp là Kerios. Tước hiệu này Mc và Mt mỗi ông chỉ dùng cho Đức Giêsu một lần (Mt 21,3; Mc 11,3); riêng Lc dùng rất nhiều lần (7,19 10,2 10,3c 10,41 11,39 12,42 13,15 16,18 17,5 17,6 18,6 19,8 19,31 22,61 24,34) Tước hiệu này nhấn mạnh thiên tính của Đức Giêsu.

 – “động lòng thương”: lý do của phép lạ này không phải là do người ta xin, mà là sang kiến của Đức Giêsu.

c 14“Đụng tới cáng khiêng”: người chết nằm trên chiếc cáng chứ không phải quan tài (TOB)

 – “Hãy thức dậy”: động từ này nhiều lần được dùng để chỉ việc sống lại. Ngoài ra nó còn cho thấy thực ra cái chết phần xác cũng như giấc ngủ mà thôi.

c 16 “Sửng sốt hoảng kinh” chi tiết Cựu Ước thường dùng để mô tả phản ứng người ta trước quyền lực của Thiên Chúa (Lc 1,12.65 2,9 5,26 8,25 8,37)

 – “Tôn vinh Thiên Chúa”: phản ứng mà Lc thường ghi nhận sau mỗi phép lạ (Lc 2,20 5,25-26 9,43 13,13)

c 17“Danh tiếng Ngài đồn vang cả xứ Giuđêa và khắp miền lân cận”: theo ngôn ngữ của Lc, ‘xứ Giuđêa’ có nghĩa là toàn xứ sở của người Do thái (gồn cả Galilê). Còn ‘miền lân cận’ nghĩa là xứ dân ngoại.


III- KẾT LUẬN

 Phép lạ này chỉ một mình Lc tường thuật.

 Được đặt vào văn mạch Cựu Ước (Êlia, Êlisê) và Tân Ước (Lc 7,22) nó muốn chứng minh Đức Giêsu thật là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa.

BÀI 28: NGƯỜI PHỤ NỮ TỘI LỖI (7,36 – 8,3)

36Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn. 37Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. 38Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

39Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi! " 40Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: "Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông! " Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói." 41Đức Giê-su nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. 42Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn? " 43Ông Si-môn đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn." Đức Giê-su bảo: "Ông xét đúng lắm."

44Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. 45Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. 46Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. 47Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít." 48Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi." 49Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội? " 50Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."

8  1Sau đó, Đức Giê-su rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai 2và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Ma-ri-a gọi là Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, 3bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ.

------------------

I- VĂN MẠCH

1/ Trọn chương 7 đều là những dấu chỉ Đức Giêsu đưa ra để trả lời cho Gioan Tẩy Giả (7,22) rằng Ngài chính là “Đấng phải đến”. Bởi vậy sau khi Đức Giêsu cứu sống con trai bà góa thành Naim thì dân chúng đã công nhận “Một đại ngôn sứ đã dấy lên giữa chúng ta”.

 Câu chuyện này cho thấy Đức Giêsu là ngôn sứ như thế nào? Không chỉ là ngôn sứ như người ta nghĩ, tức là nhận được quyền năng Thiên Chúa để làm một số phép lạ, mà còn có chính quyền năng của Thiên Chúa, tức là quyền tha tội (Mc 2,7 và Lc 7,49 “Ngoài Thiên Chúa ra ai có quyền tha tội?” “Ông này là ai mà tha cả tội?” so với Lc 7,48 “Tha hết tội cho con”).

2/ Lc 7,22 chứng minh Đức Giêsu là Messia, Đấng đem Tin Mừng cho những kẻ bị khinh miệt. Chuyện này cho thấy một kẻ bị khinh miệt hạng nhất đã được nhận Tin Mừng: vừa là đàn bà, vừa tội lỗi.


II- GIẢI THÍCH

c 36“Có người kia trong hàng biệt phái”: so với Mt và Mc thì Lc ít khắt khe hơn với những người biệt phái. Lc kể 3 lần Ngài được biệt phái mời ăn (ở đây 11,37 và 14,1). Lc cũng ghi nhận biệt phái đã báo tin cho Đức Giêsu là Hêrôđê muốn giết Ngài (13,31). Về điểm này Lc trung thực với thực tế hơn Mt và Mc vốn có khuynh hướng bút chiến với biệt phái (sau hội nghị Jamnia). Quan niệm bao dung này có lẽ nhờ ảnh hưởng của Phaolô, một người vẫn tự hào mình là người biệt phái.

 – “Mời Đức Giêsu”: trong nguyên văn động từ ở imparfait (invitait) nghĩa là hình như người biệt phái này đã mời Đức Giêsu một số lần.

 Có lẽ người biệt phái này không nuôi sẵn ác cảm với Đức Giêsu. Ông rất tôn trọng Ngài (xem chữ ‘tiệc’ sắp giải thích dưới đây). Tuy nhiên, các câu 44-46 cho thấy ông cũng không vồn vã lắm đối với Ngài. Có thể kết luận: ông có cảm tình với Ngài, nhưng còn dè dặt.

 – “Dùng bữa”: Đây không pahỉ là bữa cơm thường, mà là một bữa tiệc, vì c 36 mô tả tư thế của thực khách là ‘nằm’ (trong bữa cơm thường thì người ta ngồi).

c 37 – “Một phụ nữ vào phòng tiệc”: đây là chuyện bình thường. Người ngoài có thể tự nhiên vào phòng tiệc.

Lc không chú ý đến lý lịch của người phụ nữ này, cho nên ta không cần suy đoán rằng đó là Mađalêna hay Maria Bêtania, chỉ cần lưu ý rằng: đây là một phụ nữ ‘tội lỗi’. Tội lỗi thế nào? Có lẽ đó là một nàng điếm, cũng có lẽ đó là một người sống ngoại hôn.

c 38 “Đứng phía sau bên chân Chúa Giêsu”: các bàn tiệc được xếp theo hình bán nguyệt hoặc hình chữ U. Thực khách nằm quay mặt vào phía trong. Người phụ nữ này từ ngoài vào nên dĩ nhiên ở sau lưng Đức Giêsu, và vì Đức Giêsu nằm đầu ở phái trong nên nàng cũng ở phía chân Ngài.

 – “Khóc… xổ tóc…”: những thái độ biểu lộ một cảm xúc rất mạnh. Nhất là việc mở khăn che đầu và để tóc xổ ra là điều rất ô nhục đối với phụ nữ (theo tài liệu Tos Sota 5,9 và Gitt 9,50d. Đó có thể là lý do để bị chồng ly dị).

 – Cộng vào đó còn có ‘hôn chân’, một cử chỉ rất khiêm tốn biểu lộ lòng biết ơn to lớn với ân nhân mình (tài liệu Sanh 27b, một tử tội hôn chân một luật sĩ đã cứu sống hắn).

c 39 “Nếu ông này là một ngôn sứ”: người biệt phái này có phần tin rằng Đức Giêsu là một Ngôn sứ, những ngạc nhiên vì nếu Ngài là một Ngôn sứ ắt phải rõ người phụ nữ này là tội lỗi, tức là hạng ô uế, tại sao lại cho nó đụng chạm tới mình.

c 41-42 Dụ ngôn về hai con nợ. Có vài chi tiết ngữ học đáng lưu ý

 – Trong tiếng Aram ‘tội’ (péché) đượ gọi là ‘nợ’ (dette) và ‘tha tội’ được nói là ‘tha nợ’. Như vậy Đức Giêsu dùng câu chuyện ‘nợ’ và ‘tha nợ’ để nói về ‘tội’ và ‘tha tội’.

 – Cũng trong tiếng Aram, không có từ để diễn tả ‘biết ơn’ nên phải dùng từ ‘yêu mến’ (aimer) để thay thế. Bởi vậy có thể dịch c 42b là ‘Trong hai người đó ai biết ơn chủ hơn?’.

c 43 “Ông xét đoán đúng lắm”: Đức Giêsu đã dùng lại một dụ ngôn. Mà dụ ngôn nhằm mục đích kể một chuyện về chính người nghe. Nhưng người nghe lại không biết đó là nói về mình, để khuyến khích người nghe đưa ra một phán đoán khách quan (xem dụ ngôn mà Natan nói cho Đavít nghe 2Sm 12). Người biệt phái trong chuyện này nghe dụ ngôn xong cũng có một phán đoán khách quan, nên Đức Giêsu khen ‘Ông xét đoán đúng lắm’.

c 44-46 Người biệt phái tuy có cảm tình với Đức Giêsu những vì dè dặt nên không dám vồn vã lắm.

c 47 “Bà đã được tha nhiều tội lỗi”: Biệt phái và Đức Giêsu giống nhau ở điểm đều coi tội lỗi là xấu, nhưng khác nhau ở cách chiến đấu với tội lỗi: biệt phái thì loại trờ người tội lỗi, còn Đức Giêsu thì thánh hóa người tội lỗi.

 Phần b của câu này có thể dịch 2 cách:

 1) “Được tha nhiều vì yêu mến nhiều” (nghĩa nguyên nhân: tình yêu là nguyên nhân của tha thứ – cách dịch của cha Thuấn).

 2) “Được tha nhiều nên yêu mến nhiều” (nghĩa hậu quả: tình yêu là hậu quả của tha thứ – cách dịch của cha An Sơn Vị).

 Cả hai cách dịch đều có lý, bởi vì chữ hoti vừa có nghĩa là ‘Vì’ vừa có nghĩa là ‘nên’.

c 49 – “Ông này là ai mà tha cả tội lỗi?”: sự tha tội của Đức Giêsu khiến người ta thắc mắc có phải Ngài chính là Thiên Chúa không?

 Toàn câu chuyện quy chiếu về một câu trung tâm này. Diễn biến câu chuyện khiến người ta phải đặt câu hỏi về bản thân Đức Giêsu (chứ không phải vào các lời nói hoặc cử chỉ của Ngài).

c 50 “Hãy đi về bằng yên”: đây chính là sự bằng yên quý giá mà Thánh Kinh luôn đề cao. Bằng yên là kết quả của sự tha thứ, của một tâm hồn đã trong sạch, một tâm hồn đã tin vào Thiên Chúa.

c 8,1-3 Sau khi kể chuyện một phụ nữ tội lỗi được tha thứ và ban bình an, Lc lại nói tới một số phụ nữ đi theo Đức Giêsu.

 – Lc là tác giả viết nhiều về phụ nữ nhất.

 – Sự kiện một người danh giá để cho phụ nữ đi theo là điều lạ thường trong thế giới Palestina. Nhưng Đức Giêsu đã chấp thuận như vậy.

 – “Các bà đã giúp đỡ Ngài”: nguyên văn ‘đã phục vụ Ngài’. Đây là một động từ rất đẹp trong Tân Ước.

a) Chính Đức Giêsu tự mô tả là ‘Ta đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ’ (Mc 10,45).

b) Theo gương Ngài, các Tông đồ (Cv 1,17.25) và các Phó tế (Cv 6,1) cũng phục vụ. Ở đoạn này, Lc dành động từ tốt đẹp mà ông đã dùng cho Đức Giêsu, các Tông đồ và Phó tế cho các phụ nữ.


III- KẾT LUẬN

 Qua câu chuyện này, Đức Giêsu mặc khải cho người ta hiểu rõ hơn nữa Ngài là ai: Là Messia. Nhưng hơn mức người ta quen nghĩ: Ngài là Messia đối với những kẻ tội lỗi, Ngài là Messia có quyền tha tội, tức là độc quyền của Thiên Chúa.

BÀI 29: DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG (8,4-15)

4Người ta tụ họp đông đảo. Từ khắp các thành thị, người ta kéo đến cùng Đức Giê-su. Bấy giờ Người dùng dụ ngôn mà nói rằng:

5"Người gieo giống đi ra gieo hạt giống của mình. Trong khi người ấy gieo, thì có hạt rơi xuống vệ đường, người ta giẫm lên và chim trời ăn mất. 6Hạt khác rơi trên đá, và khi mọc lên, lại héo đi vì thiếu ẩm ướt. 7Có hạt rơi vào giữa bụi gai, gai cùng mọc lên, làm nó chết nghẹt. 8Có hạt lại rơi nhằm đất tốt, và khi mọc lên, nó sinh hoa kết quả gấp trăm". Nói xong, Người hô lên rằng: "Ai có tai nghe thì nghe."

9Các môn đệ hỏi Người dụ ngôn ấy có ý nghĩa gì. 10Người đáp: "Anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Thiên Chúa; còn với kẻ khác thì phải dùng dụ ngôn để chúng nhìn mà không nhìn, nghe mà không hiểu.

11"Đây là ý nghĩa dụ ngôn: Hạt giống là lời Thiên Chúa. 12Những kẻ ở bên vệ đường là những kẻ đã nghe nhưng rồi quỷ đến cất Lời ra khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ. 13Còn những kẻ ở trên đá là những kẻ khi nghe thì vui vẻ tiếp nhận Lời, nhưng họ không có rễ. Họ tin nhất thời, và khi gặp thử thách, họ bỏ cuộc. 14Hạt rơi vào bụi gai: đó là những kẻ nghe, nhưng dọc đường bị những nỗi lo lắng và vinh hoa phú quý cùng những khoái lạc cuộc đời làm cho chết ngộp và không đạt tới mức trưởng thành. 15Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả.

------------------

Ta có thể chia đoạn này thành hai phần:

 A- Dụ ngôn: cc 4-8.

 B- Lý do Đức Giêsu nói bằng dụ ngôn: cc 9-10.

 C- Giải thích dụ ngôn: cc 11-15.

 Nhưng trước hết, ta cần biết tục lệ thời Đức Giêsu về việc gieo trồng.

* Tục lệ: Nếu không hiểu phong tục canh nông của xứ Palestina thời Đức Giêsu, ta thấy dụ ngôn này kỳ cục: tại sao lại gieo giống bừa bãi dể có hạt rơi trên vệ đường cho chim đến ăn, có hạt rơi trên sỏi, có hạt rơi trên bụi gai… thật là phi phạm! Nhưng thời đó bên xứ đó, nhà nông gieo trước rồi cày sau: khi cày thì dù hạt trên đường, hoặc trên sỏi, hoặc trong bụi gai… đều sẽ được lưỡi cày lật đất cho nó xuống phía dưới.


A- DỤ NGÔN cc 4-8

c 4 – Với những chi tiết ‘người ta tụ họp đông đảo’, ‘từ khắp thành thị người ta kéo đến cùng Đức Giêsu’: Lc dẫn nhập vào chủ đề lớn của toàn bộ tác phẩm và sẽ được triển khai trong cả quyển Tin Mừng lẫn quyền Công vụ: Lời rao giảng được cống hiến cho tất cả mọi người không trừ ai (Xem phía trên: 8,1).

 – Để trình bày chủ đề này, Lc có trong tay nhiều tư liệu:

a) Chính dụ ngôn của Đức Giêsu cho thấy trước hai kết quả khác nhau của lời rao giảng (có những người tin theo và những người khác không tin theo); và cũng khuyến cáo sự thất bại ban đầu của lời rao giảng, nhưng sau đó sẽ thành công không ngờ.

b) Giáo lý của GH sơ khai dạy tín hữu hãy để ý đến ‘mảnh đất tâm hồn’ khi nghe lời Chúa.

c) Suy tư của các tác giả Thánh Kinh (cụ thể là Isaia) về sự kiện đáng buồn là có nhiều người không chịu đón nhận ơn cứu rỗi của Thiên Chúa.

c 5 “Người gieo giống đi ra gieo hạt giống cả mình”: dụ ngôn gồm hai vai là người gieo giống và các hạt giống rơi trên những loại đất khác nhau. Người gieo giống chỉ được nhắc tới ở đầu dụ ngôn rồi sau đó lui vào âm thầm, để nhừng chỗ nổi bật cho các loại đất nhận các hạt giống. Như thế, điểm nhấn mạnh không phải là người rao giảng lời Chúa mà là thái độ của người nghe lời Chúa.

c 5b-8 Những kẻ được nghe lời rao giảng được tượng trưng bằng 4 loại đất gồm hai hạng: hạng không sinh kết quả (vệ đường, đá, bụi gai), và hạng sinh kết quả (đất tốt).

 – Kết quả là ‘gấp trăm’: Mt 13,8 ghi kết quả là 100, 60, 30; Mc 4,8 thì ghi 30, 60, 100. Phần Lc thì đơn giản hóa, chỉ dùng con số 100, muốn cho thấy một kết quả lớn lao không ngờ: Theo tính toán của Dalman, thu hoạch trung bình thời đó và miền đó là 1 sinh ra 7,5. Vậy 1 mà sinh ra 100, là thu hoạch rất trúng mùa.

 – Sau khi nói dụ ngôn xong, Đức Giêsu ‘hô lớn’: một hành động lạ thường. Và lời Ngài hô lớn là “Ai có tai nghe thì hãy nghe”. Dụ ngôn nhấn mạnh đến thái độ nghe đối với lời rao giảng.


B- LÝ DO ĐỨC GIÊSU NÓI BẰNG DỤ NGÔN: cc 9-10

c 9 “Các môn đệ hỏi Ngài”: họ là những người thân cận của Đức Giêsu, tức là nhóm 12, một số phụ nữ được nói tới ở 8,2-3 và một số người khác.

c 10a – Đức Giêsu phân biệt 2 hạng người đã nghe lời rao giảng của Ngài: ‘Anh em’‘những kẻ khác’, tương đương với hai hạng đất đón nhạn hạt giống ở trong dụ ngôn. Lời tiên tri của cụ già Simeon (2,34-35) để sự chia sẻ của loài người nay được ứng nghiệm.

c 10b – Đây là câu khó nhất của đoạn này. Thực ra không phải là lời của chính Đức Giêsu mà là lời của Isai mà Ngài trích dẫn (Is 6,9). Lc ghi lời trích dẫn ngắn hơn (chỉ có câu 9 của Is), còn Mt 13,10-11 và Mc 4,10-12 ghi lời trích dẫn dài hơn (hai câu 9 và 10 của Is). Sau này, trong Cv 28,24-28. Khi dân Do thái đã dứt khoát chối từ Tin Mừng thì Lc mới trích đầy dủ đoạn Is đó.

 – Về ý nghĩa thì tương đối dễ hiểu: trước lời rao giảng, có hai hạng người với hai thái độ đón nhận không hẳn nhau, đưa đến hai kết quả khác nhau: hạng tin theo và được cứu và hạng không tin theo nên không được cứu. Đây cũng là thực trạng thời Cựu Ước (Isaia), tới thời Đức Giêsu và tiếp tục trong thời GH.

 – Lý do là muốn có ơn cứu rỗi thì phải có sự hợp tác của hai phía là ơn Chúa và sự đón nhận của con người. Phần của Thiên Chúa thì đương nhiên muốn ban ơn cứu rỗi cho mọi người; nhưng về phía con người thì có hạng chịu đón nhận và có hạng không đón nhận, do đó có người được cứu và có người không được cứu.

 – Chỗ khó hiểu là chữ ‘để’ trong câu 10b: “để chúng nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu”. Chữ ‘để’ này khiến ta có cảm tưởng Thiên Chúa cố tình khiến một số người không đón nhận lời rao giảng, nhằm mục đích ngăn cản họ được cứu.

Có 2 cố gắng giải thích sự phi lý trên:

a) Trong nguyên ngữ Do thái, những chữ ‘để’‘kẻo’ không chỉ có nghĩa mục đích, mà còn có nghĩa nguyên do. Nếu theo nghĩa nguyên do thì câu trên sẽ dễ chấp nhận hơn, như sau: Anh em (nhờ có thái độ đón nhận) thì hiểu biết các mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, còn những kẻ khác (do không có thái độ đón nhận) nên Thầy dùng dụ ngôn để nói với họ, bởi vì chúng nhìn mà không thấy, chúng nghe mà không hiểu (do đó có giải thích rõ cho họ bao nhiêu đi nữa cũng vô ích mà thôi).

b) Về sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa và trách nhiêm của con người, chúng ta thường suy nghĩ quá đơn giản nên cũng thường đối lập hai điều đó với nhau: nhấn mạnh sáng kiến Thiên Chúa thì bỏ quên trách nhiệm con người; và nhấn mạnh trách nhiệm con người thì quên đi sáng kiến của Thiên Chúa. Thực ra không nên đối lập như vậy, ơn cứu độ là sự hợp tác của hai phía. Phía Thiên Chúa thì lúc nào cũng sẵn sàng ban ơn, chỉ có phía con người thì có kẻ đón nhận và có kẻ không đón nhận. Do đó, tùy theo thái độ đón nhận hay không mà ơn Chúa có thể là nguồn sự sống cho kẻ này, vừa là nguồn sự chết cho kẻ khác.


C- GIẢI NGHĨA DỤ NGÔN: cc 11-15

 Trong phần này, Lc ghi lại suy nghĩ của GH về những hạng người cũng nghe lời Chúa như nhau nhưng kết quả lại khác nhau. Có 4 hạng người:

c 12 Hạng thứ nhất được so sánh với loại đất ‘bên vệ đường’. Lý do khiến họ không tin theo và không được cứu là ‘ma quỷ đến cắt Lời khỏi lòng họ’. Nói thế chỉ là vạch rõ nguyên do chính (ma quỷ) chứ không loại trừphần trách nhiệm của đương sự.

c 13 – Hạng thứ hai được so sánh với loại đất có đá. Lý do không sinh kết quả tốt là không trung thành: không trung thành theo dòng thời ian, nghĩa là chỉ tin theo ‘nhất thời’ và sau đó không tin nữa; không trung thành trong mọi hoàn cảnh, nên ‘trong thời thử thách’ họ đã buông trôi đức tin (11,4).

c 14 – Hạng thứ ba được so sánh với loại đất có lẫn các bụi gai. Lý do thất bại là vì họ chưa đạt được một điều kiện tối cần thiết, theo Lc, để trở thành một môn đệ đích thực của Đức Giêsu, nghĩa là dám sống nghèo nàn thực sự và dám hy sinh từ bỏ những của cải và thú vui vật chất (12,19 16,19). Lc ghi ‘họ bị những nỗi lo lắng về vinh hoa phú quý cùng những khoái lạc cuộc đời làm cho (hạt giống) chết ngộp và không đạt tới mức trưởng thành’.

c 15 – Hạng thứ tư đạt kết quả không ngờ, được so sánh với loại đất tốt. Lý do thành công, theo Mt 13,26 là ‘nghe lời hiểu’ (‘hiểu’ có nghĩa là chằng những nghe mà còn thi hành), theo Mc 4,20 là ‘nghe Lời và đón nhận’; phần Lc thì dùng những từ ‘cao thượng, quảng đại, kiên trì’.

 ‘Cao thượng’ là đã có mức độ siêu nhiên không để mình bị sa mưu ma quỷ (như hạng người thứ nhất).

 ‘Quảng đại’ là dám từ bỏ mọi sự (không như hạng thứ ba).

 ‘Kiên trì’ (không giống hạng thứ hai), kiên trì cũng là một đặc tính được nhắc tới rất nhiều bởi Lc (21,19) và bởi Phaolô, thầy của Lc (1Tx 1,3; 2Cr 1,6 6,4 12,12; Rm 2,7 5,3-4 8,25 15,4; Cl 1,11)


KẾT LUẬN

 Dụ ngôn này mang 2 ý nghĩa: kêu gọi và trấn an.

 – Kêu gọi: Đức Giêsu mời gọi thính giả hãy lựa chọn thái độ đáp ứng với lời rao giảng của Ngài: họ sẽ làm loại đất nào, có tiếp nhận và đem ra thi hànhnhững lời của Ngài hay không?

 – Trấn an: đối với những ai vì thấy một số thất bại mà đấm hoang mang về số phận Nước Trời, Đức Giêsu trấn an bằng cách cho họ thấy chương trình của Thiên Chúa: sẽ cho Nước Trời thành công bất chấp những thất bại, và ngay cả bằng chính những thất bại ấy.

BÀI 30: DỤ NGÔN CHIẾC ĐÈN (8,16-18)

16"Chẳng có ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi hoặc đặt dưới gầm giường, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng. 17Vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng. 18Vậy hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất." 

------------------

Chủ đề thái độ đón nhận Lời Chúa đã được trình bày trong dụ ngôn người gieo giống phía trên. Liền sau đó chủ đề này lại được triển khai tiếp bằng một dụ ngôn nhỏ nữa: dụ ngôn chiếc đèn.

Hai dụ ngôn cùng một chủ đề và được viết liền nhau không có một câu chuyển ý. Bởi đó ta có thể dùng hai dụ ngôn để soi sang cho nhau.

c 16 rong dụ ngôn người gieo giống, tín hữu được khuyên hãy nên như mảnh đất tốt đón nhận Lời Chúa và sinh kết quả (c 15). Còn trong dụ ngôn này, hình nahr chiếc đèn được đặt nơi cao tỏa chiếu ánh sáng muốn khuyên tín hữu phải có một cuộc sống gương mẫu để chiếu sáng trước mặt người khác.

c 17 – Dụ ngôn người gieo giống đã nói rằng tín hữu được đặc ân ‘hiểu biết mầu nhiệm Nước Chúa’ (c 10). Sự hiểu biết ấy không phải để chôn dấu mà để tỏa lan ra. Bởi thế dụ ngôn chiếc đèn dậy “Chẳng có gì bí ẩn mà không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che dấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng”. Những chữ ‘gì’ này nói đến các mầu nhiệm Nước Chúa ấy. trong thời kỳ của Đức Giêsu thì chúng còn được che dấu, còn là bí ẩn. Nhưng đến thời các tông đồ và thời của GH, chúng phải được loan truyền, tỏa lan rức rỡ như ánh sáng của ngọn đèn đặt trên nơi cao.

 – Ý nghĩa dụ ngôn: Đức Giêsu đem Tin Mừng đến trần gian để giảng dạy về Nước Trời, thành lập GH, Ngài không muốn những điều trên dành riêng cho một nhòm người nào riêng biệt, nhưng muốn thông ban cho mọi người. Riêng các Kitô hữu, họ phải sống sao cho người ta nhìn vào mà nhận ra Tin Mừng Nước Trời. Họ đã được hưởng ánh sáng Tin Mừng thì đừng giữ cho riêng mình, đừng dập tắt, trái lại phải tìm cách làm lan tỏa ánh sáng đó ra chung quanh.

c 18a “Vậy hãy để ý đến cách thức anh em nghe”. Dụ ngôn này làm sáng tỏ thêm cho dụ ngôn gieo giống. do cách nghe Lời Chúa mà lời đó có kết quả hay không.

c 18b “Ai có thì sẽ được cho thêm, còn ai không có thì ngay cái họ tưởng có cũng sẽ bị lấy mất”. Câu này là một ngạn ngữ được Đức Giêsu mượn dùng. Một kinh nghiệm ở đời là kẻ đã giàu thì càng giàu thêm, còn người đã nghèo lại cứ nghèo thêm. Bởi vì ‘vốn sinh lãi, nợ đẻ nợ’. Đức Giêsu mượn kinh nghiệm này để khuyến khích người ta chăm chỉ lắng nghe Lời Chúa: càng thực thi Lời Chúa thì lại càng được hiểu Lời Chúa nhiều hơn.


KẾT LUẬN

 Dụ ngôn này đi liền sau dụ ngôn người gieo giống và cùng triển khai chủ đề phải biết đón nhận và thực thi Lời Chúa. Một số câu của dụ ngôn này lại được nhắc lại trong những đoạn sau (11,33 nhắc lại c 16; 12,2 nhắc lại c 17; 19,26 nhắc lại c 18). Như thế việc đón nghe và thi hành Lời Chúa là một điều quan trọng mà người môn đệ Đức Giêsu phải có. 

BÀI 31: GIA ĐÌNH THẬT CỦA ĐỨC GIÊSU (8,19-21)

19Mẹ và anh em Đức Giê-su đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. 20Người ta báo cho Người biết: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy." 21Người đáp lại: "Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành." 

------------------

Trong Mc, đoạn này được đặt sau bài tường thuật Đức Giêsu lập nhóm 12, nhằm đối lập hai nhóm người: một bên là các tông đồ, đó chính là gia đình thật của Đức Giêsu; bên kia là các kinh sư chống đối Ngài và các bà con của Ngài coi Ngài là kẻ mất trí và muốn bắt Ngài về. Nhóm này không phải là gia đình thật của Ngài, cho dù trong đó có cả những người bà con ruột thịt của Ngài (Mc 3,7-35).

 Còn trong Lc, đoạn này được đặt liền sau đoạn nói về thái độ đón nhận và thực thi Lời Chúa, nhằm triển khai một cách mạnh mẽ hơn nữa ý tưởng ai nghe và thi hành ý Chúa thì thân thiết với Đức Giêsu còn hơn cả sự thân thiết gia đình bà con.


I- GIẢI THÍCH

c 19 “Anh em”: Truyền thống vẫn tin rằng Đức Giêsu là con duy nhất của gia đình. Vì thế chữ ‘anh em’ ở đây không phải là anh em ruột, mà là anh em bà con.

c 20“Ở ngoià”: Mẹ và anh em Đức Giêsu không phải vì có liên hệ huyết thống với Ngài mà đương nhiên thuộc gia đình thật của Ngài vốn là những người ở trong.

c 21 Đức Giêsu xác định: thuộc gia đình thật của Ngài chính là những người nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thi hành.

II- KẾT LUẬN

 Bài tường thuật cho thấy rõ hai nhóm người khác nhau:

a) Những kẻ đáng nghe Đức Giêsu giảng thì ‘ngồi chung quanh’ Ngài, họ còn được Đức Giêsu mô tả là những kẻ ‘thi hành y muốn của Cha tôi’.

b) Nhóm kia thì ‘đứng ở ngoài’ và ‘gọi Ngài ra’. Ý muốn của họ chỉ là muốn ‘thấy’ Ngài (cách dịch sát nghĩa câu 32b) chứ không phải để ‘nghe’ và ‘thi hành’ những Lời Ngài dạy. Nhóm a mới là gia đình của Đức Giêsu.

 Nếu như không có Đức Maria hiện diện trong nhóm b thì đoạn này rất dễ hiểu. Nhưng vì có Đức Maria cho nên ta cảm thấy hơi khó chịu khi thấy Đức Giêsukhông coi nhóm này là gia đình thật của Ngài. Thực ra không phai Đức Giêsu phủ nhận tư cách làm mẹ của Đức Maria đối với Ngài. Trái lại đây chính là một cách Ngài đề cao Người: Đức Maria tuy có mặt trong nhóm b nhưng không giống những người trong nhóm đó. Người là kẻ luôn luôn lắng nghe và làm theo Lời Chúa (1,38 “Bấy giờ Maria nói: ‘Vâng, tôi là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói’; 1,45 Lời Êlisabét nói với Maria ‘ Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em’; 2,19 Sau khi các mục tử đến thăm Đức Giêsu’Maria hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng’; 2,52 Sau chuyện tìm gặp Đức Giêsu trong Đền thờ ‘Mẹ Ngàu hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng’.v.v…) Đức Maria xứng đáng là mẹ thật của Đức Giêsu bởi vì Người không chỉ là Mẹ của Ngài về phần xác thịt mà còn vì Người luôn lắng nghe, ghi nhớ và thi hành Lời Chúa.

BÀI 32: ĐỨC GIÊSU DẸP YÊN BIỂN ĐỘNG (8,22-25)

22Một ngày nọ, Đức Giê-su xuống thuyền với các môn đệ. Người nói: "Chúng ta sang bên kia hồ đi! " Rồi thầy trò ra khơi. 23Đang khi các ngài đi thuyền, thì Đức Giê-su thiếp ngủ. Một trận cuồng phong ập xuống hồ; các ngài bị ngập nước và lâm nguy. 24Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy và nói: "Thầy ơi, Thầy! Chúng ta chết mất! " Người thức dậy, ngăm đe sóng gió, sóng gió liền ngừng và biển lặng ngay. 25Người bảo các ông: "Đức tin anh em ở đâu? " Các ông hoảng sợ, kinh ngạc và nói với nhau: "Vậy người này là ai mà ra lệnh cho cả sóng gió, và sóng gió phải tuân lệnh? " 

------------------

Sau chủ đề lắng nghe và thi hành Lời Chúa. Lc tiếp tục triển khai một chủ đề khác: hãy tin tưởng vào Đức Giêsu vì Ngài là kẻ đầy quyèn năng. Quyền năng Đức Giêsu được thể hiện qua những phép lạ Ngài làm: dẹp yên biển động (cc 22-25), chữa người bị quỷ ám (cc 26-39) chữa một phụ nữ loạn huyết và cứu sống con gái ông Giairô (cc 40-56). Những phép lạ này chứng minh uy quyền Đức Giêsu chế ngự thiên nhiên, ma quỷ, tật bệnh và sự chết.

 Ta hãy xem tường thuật phép lạ đầu tiên: dẹp yên biển động.


I- GIẢI THÍCH

c 22 “Đức Giêsu bảo”: sáng kiến này là của Đức Giêsu: sáng kiến dùng thuyền đi trên hồ như thế thật là táo bạo vì: a) hồ này thường có bão; b) người ta tin rằng bão là sào huyệt của những sức mạnh gian tà.

 – “Sang bên kia Biển Hồ”: bờ phía Tây, vùng đất của dân ngoại thù nghịch.

c 23 “Một trận cuồng phong ập xuống”: hồ này thường bị bão và lốc nổi lên đột ngột khi những luồng gió từ Địa Trung Hải và Syri chạm nhau. Lc cho thấy sự nguy hiểm đang đe dọa con thuyền, vì ‘các ngài bị ngập nước và lâm nguy’

c 24“Các môn đệ đánh thức Ngài dậy”: Đang lúc cuồng phong mà Đức Giêsu ngủ. không phải Ngài không hay biết, nhưng thái độ làm như không có gì ấy cho thấy Ngài không coi cơn cuồng phong ấy ra gì cả.

 – “Thầy ơi”: nguyên ngữ là épistates, bày tỏ một đức tin mạnh mẽ hơn chữ didaskalos

 – “Hăm đe gió”: động từ này thường được dùng trong những tướng thuật trừ tà (Mc 1,25; Lc 4,35 9,42). Ở Mc 4,39 Đức Giêsu hăm đe bằng một câu nói được tác giả tường thuật theo thể trực tiếp ‘im đi, câm đi’. Còn Lc tuy cũng dùng động từ hăm đe nhưng không ghi lại lời nói của Đức Giêsu. Do đó ta không nên giải nghĩa hành động này của Đức Giêsu cùng một chiều hướng như trong Mc (Đức Giêsu có uy quyền trừ tà- Ý tưởng này sẽ được Lc triển khai trong một phép lạ kế tiếp). Tốt hơn là ta nên liên kết tường thuật này với một tường thuật khác cũng của tác giả Lc trong Cv 27,13-44 cũng về một cơn bão biển. Điểm nhầm của tác giả sẽ hiện rõ ra là. Đức Giêsu là Đấng bảo vệ các môn đệ Ngài. Thánh Kinh cũng nhiều lần nói Thiên Chúa của dân Ngài khỏi nước Biển Dổ và che chở những thủy thủ cầu cứu Ngài (Tv 107,23-32). Như thế ở đây Lc muốn nói rằng Đức Giêsu có thể chỉ dùng một lời để bảo vệ các môn đệ, chứng tỏ Ngài có uy quyền của chính Thiên Chúa. Đấng duy nhất có quyền chế ngự giông gió (Tv 104,6-7).

c 25b – “Đức tin của anh em ở đâu?” Đây là lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trong Đức Giêsu.

 – “Hoảng sợ”: sự sợ hãi thánh khi đứng trước uy quyền của Thiên Chúa.


II- Ý NGHĨA

1/ Phép lạ thứ nhất cho thấy Đức Giêsu là Đấng có quyền trên sức mạnh thiên nhiên.

2/ Với quyền phép ấy, Ngài bảo về những kẻ tin Ngài.

3/ Trong bối cảnh GH, phép lạ này còn là một lời an ủi các tín hữu: chi tiết Đức Giêsu ngủ đang lúc bão và sau đó trỗi dậy trấn an bão tố muốn nói rằng mặc dù sau lễ Phục sinh. Đức Giêsu xem ra vắng mặt, nhưng đó là một sự vắng mặt-nhưng-vẫn-hiện-diện; xem ra Ngài vô hình nhưng Ngài vẫn hoạt động trong GH và vẫn tiếp tục bảo vệ GH.

BÀI 33: NGƯỜI BỊ QUỶ ÁM TẠI GHÊRASA (8,26-39)

26Thầy trò ghé thuyền vào vùng đất của người Ghê-ra-xa, đối diện với miền Ga-li-lê. 27Người vừa ra khỏi thuyền và đặt chân lên đất, thì có một người dân trong thành bị quỷ ám ra đón Người. Từ lâu, anh ta không mặc quần áo, không ở trong nhà, nhưng ở trong đám mồ mả.

28Thấy Đức Giê-su, anh la lên, sấp mình dưới chân Người, và lớn tiếng nói rằng: "Lạy ông Giê-su, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông? Tôi xin ông đừng hành hạ tôi! " 29Ấy là vì Đức Giê-su đã truyền cho thần ô uế xuất khỏi người ấy. Thật vậy, đã nhiều lần quỷ bắt lấy anh ta, người ta dùng xiềng xích gông cùm mà trói và giữ anh; nhưng anh bứt tung dây trói và bị quỷ đưa vào những nơi hoang vắng. 30Đức Giê-su hỏi anh: "Tên anh là gì? " Anh thưa: "Đạo Binh", vì rất nhiều quỷ nhập vào anh. 31Lũ quỷ nài xin Người đừng truyền cho chúng rút xuống vực thẳm.

32Ở đó có một bầy heo khá đông đang ăn trên núi. Lũ quỷ nài xin Người cho phép chúng nhập vào bầy heo kia, và Người cho phép. 33Lũ quỷ xuất khỏi người đó, nhập vào bầy heo. Cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống hồ và chết ngộp hết.

34Thấy sự việc xảy ra, các người chăn heo bỏ chạy, loan tin trong thành và thôn xóm. 35Thiên hạ ra xem sự việc đã xảy ra. Họ đến cùng Đức Giê-su và thấy kẻ đã được trừ quỷ đang ngồi dưới chân Đức Giê-su, ăn mặc hẳn hoi và trí khôn tỉnh táo. Họ phát sợ. 36Những người chứng kiến đã kể lại cho họ nghe người bị quỷ ám được cứu chữa thế nào. 37Bấy giờ đông đảo dân chúng vùng Ghê-ra-xa xin Người rời họ, vì họ sợ quá. Thế nên Người xuống thuyền trở về.

38Kẻ đã được trừ quỷ xin được ở với Người. Nhưng Người bảo anh ta về và nói: 39"Anh cứ về nhà và kể lại mọi điều Thiên Chúa đã làm cho anh." Anh ta ra đi, rao truyền cho cả thành biết mọi điều Đức Giê-su đã làm cho anh.

------------------

I- GIẢI THÍCH

c 26 “Vùng đất của người Ghêrasa”: ta không biết Ghêrasa ở đâu, nhưng biết nó ở phía bên kia hồ.tức là phía Đông, phía của người ngoại.

c 27t – Lc mô tả người bị quỷ ám bằng nhiều nét rất thê thảm:

 “Không mặc quần áo, không ở trong nhà”: anh không sống như một người bình thường và đã cắt đứt mọi liên hệ với xã hội.

 “Nhưng ở trong mồ mả”: đây là những hang hốc tự nhiên hoặc những hang người ta khoét sâu trong núi để vất vào đó những xác chết vốn bị coi là ô uế. Anh này ở trong mồ mả nghĩa là ở trong tình trạng ô uế.

 Anh như một người điên với một sức mạnh ma quái ‘người ta dùng xiềng xích gông cùm mà trói và giữ anh, nhưng anh bứt tung giây trói’. Chi tiết này cộng thêm với chi tiết ở câu 30 (xưng mình ‘đạo binh’) cho thấy anh là một kẻ đã bị vong thân, nghĩa là anh không còn phải là anh nữa, nhưng ma quỷ ở trong anh, hoạt động trong anh và dùng miệng anh mà nói.

 *Tóm lại anh là tượng trưng cho sự chết.

c 28t – “Anh sấp mình dưới chân Ngài”: ngay từ khi mới gặp Đức Giêsu, quỷ đã công nhận sức mạnh của Thiên Chúa nơi Ngài, cho nên anh không kháng cự mà sấp mình dưới chân Ngài.

 – Diễn biến tiếp theo giống y như một chuyện trừ quỷ (Mc 1,23-27).

 – Trước tiên là quỷ kêu tên Đức Giêsu, nhưng không phải để sống lại mà để năn nỉ “Xin Ngài đừng hành hạ tôi”.

 – Đức Giêsu buộc hắn phải khai tên: theo người thời đó, biết tên ai là có quyền trên người đó.

 Vì thế ahứn tránh né kông khai tên mình nhưng khai là ‘đạo binh’: theo quân đội La mã, mỗi đạo binh gồm 5.500 bộ binh và 120 kỵ binh. Như thế ma quỷ muốn hù dọa Đức Giêsu. Ta nên biết đối với người Do thái, ai bị ám bởi ‘7 quỷ’ thì đã là trầm trọng lắm rồi (8,2 11,26). Ở đây nạn nhân bị ám bởi cả một đạo binh.

c 31 “nài xin Ngài đừng truyền cho chúng xuống vực thẳm”: Nhưng thái độ bình tĩnh của Đức Giêsu khiến ma quỷ biết không thể hù dọa Ngài nổi. Nó đổi sang thái độ nài xin. Trong lúc chúng sợ bị đuổi ra khỏi xứ. còn trong Lc, quỷ sợ bị đuổi trở về ‘Vực thẳm’, tức là nơi nó bị giam cầm (Kh 9,1 và 20,1-3).

c 32 – Quỷ xin được nhập vào ‘đàn heo’: heo là một vật bị người Do thái coi là ô uế. Chi tiết có cả một đàn heo chứng tỏ xứ này là xứ dân ngoại và còn là một nơi rất ô uế.

 – Theo quan niệm thời đó, quỷ xuất khỏi đâu thì phải có chỗ khác cho nó ở, vì thế quỷ xin chonhập vào đàn heo.

c 33 – Lời xin của quỷ được Đức Giêsu chấp thuận> Nhưnglời xin đó cũng chính là án tử cho ma quỷ, vì ngay sau đó cả đàn heo cũng lao xuống ‘vực thẳm’ mà thôi.

 – Theo một cái nhìn nông cạn thì độc giả sẽ hơi tiếc vì thấy Đức Giêsu đã làm hại đến tài sản của dân sống trong xứ này. Nhưng nếu hiểu được ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh (heo, vực thẳm) ta mới thấy ngụ ý sâu sắc của Lc. Đức Giêsu là Đấng có uy quyền trừ tà. Thực ra quyền phép này cũng chưa phải là độc hữu của Ngài, bởi vì nhiều phù thủy khác ở thời đó cũng trừ tà được (11,19). Lc muốn chứng minh Đức Giêsu trổi vượt những tay phù thủy khác, vì chẳng những Ngài cứu thoát kẻ bị quỷ ám, mà còn tiêu diệt hẳn sức mạnh phá hoại của chúng khi đuổi chúng về nơu giam cầm chúng.

c 35 – Khi người ta đến xem thì thấy người đó đã hoàn toàn thay đổi, với các chi tiết ngược hẳn khi còn bị quỷ ám.

 – trước đây ‘không mặc quần áo’ thì bây giờ ‘ăn mặc hẳn hoi’: trước đây như một người điên thì bây giờ ‘trí khôn tỉnh táo’ anh lại được làm người bình thường.

 – Hơn nữa anh còn ‘ngồi bên chân Đức Giêsu’, một tư thế của người môn đệ (10,39; Cv 22,3)

 – gười ta ‘kinh hpàng sợ hãi’: sự sợ hãi thánh khi đứng trước quyền năng Thiên Chúa.

c 37 – Họ xin Đức Giêsu rời khỏi xứ họ: lý do 1 là vì tiếc của: mất ‘một đàn heo khá đông’ (c 32); nhưng còn lý do thứ hai nữa là họ từ chối Đấng Messia.

c 38 – Phần người vừa được giải thoát thì xin được ‘ở với’ Đức Giêsu. ‘Ở với Đức Giêsu’ là đặc tính của nhóm 12 (3,14). Anh này còn có ý nhập nhóm 12.

c 39 – Đức Giêsu từ chối lời xin này vì chưa tới lúc cho những người ngoại mới trở lại được tham gia sinh hoạt của Nhóm 12.

 – Nhưng Ngài bảo ‘Anh hãy về nhà’ khi còn bị quỷ ám, anh không ở nhà. Nay Đức Giêsu nảo anh về nhà, nghĩa là muốn anh nối lại những liên hệ bình thường.

 – Ngài còn bảo anh ‘loan báo những điều Thiên Chúa đã làm cho anh’: động từ này chỉ việc loan báo Tin Mừng.

* Điểm đặc biệt Đức Giêsu không cấm mà lại bảo loan báo. 


II- Ý NGHĨA

1/ Phép lạ thứ hai cho thấy sức mạnh Đức Giêsu toàn thắng sức mạnh của nước Satan.

2/ Về bí mật Messia, có điều này đáng ta chú ýlà tong khi chưa ai biết được Đức Giêsu là ai thì ma quỷ ‘và chỉ có ma quỷ’ biết và biết rất rõ: Ngài là Đấng Messia đến để chấm dứt triều đại của Satan. Các sách Tin Mừng, nhất là sách Mc thường cho ma quỷ nói lên đièu đó, giống như một người núp trong cánh gà sân khấu để nhắc tuồng. Các chuyên viên Thánh Kinh thì gọi đây là những ‘révélation furtives’. Đây là kỹ thuật các tác giả Tin Mừng sử dụng để kích thích ta tiếp tục đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mà các ông thường đặt ra “Đức Giêsu là ai?”

BÀI 34: CHỮA MỘT PHỤ NỮ VÀ CỨU SỐNG CON GÁI ÔNG GIAIRÔ (8,40-56)

40Khi Đức Giê-su trở về thì đám đông tiếp đón, vì ai ai cũng đợi chờ Người. 41Bỗng có một người tên là Gia-ia đi tới; ông là trưởng hội đường. Ông sụp xuống dưới chân Đức Giê-su, nài xin Người vào nhà ông, 42vì ông có một đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi, mà nó lại sắp chết. Trong khi Người đi, đám đông dân chúng chen lấn làm Người nghẹt thở.

43Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, không ai có thể chữa được. 44Bà tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người. Tức khắc, máu ngừng chảy. 45Đức Giê-su hỏi: "Ai là người đã sờ vào tôi? " Mọi người đều chối, nên ông Phê-rô nói: "Thưa Thầy, đám đông xô đẩy, chen lấn Thầy đấy! " 46Nhưng Đức Giê-su nói: "Có người đã đụng vào Thầy, vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra." 47Người đàn bà thấy mình không giữ kín được nữa, thì run rẩy đến phủ phục trước mặt Người, và loan báo trước mặt toàn dân lý do tại sao bà đã đụng vào Đức Giê-su, và bà đã được khỏi bệnh tức khắc như thế nào. 48Đức Giê-su nói với bà: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an."

49Đức Giê-su còn đang nói, thì có người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo ông: "Con gái ông chết rồi, đừng làm phiền Thầy nữa! " 50Nghe vậy, Đức Giê-su bảo ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu." 51Khi đến nhà, Người không cho ai vào với mình, trừ ông Phê-rô, ông Gio-an, ông Gia-cô-bê và cha mẹ của đứa bé. 52Mọi người đều đấm ngực khóc thương nó. Đức Giê-su nói: "Đừng khóc! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " 53Họ chế nhạo Người, vì biết nó đã chết. 54Nhưng Người cầm lấy tay nó, lên tiếng gọi: "Này bé, trỗi dậy đi! " 55Hồn đứa bé trở lại, và nó đứng dậy ngay. Đức Giê-su bảo người ta cho nó ăn. 56Cha mẹ nó kinh ngạc. Nhưng Người ra lệnh cho họ không được nói với ai về việc đã xảy ra.

------------------

I- GIẢI THÍCH

 Tường thật này gồm hai phép lạ lồng vào nhau. Các sách Tin Mừng thường chen chuyện này vào giữa chuyện kia. Khi làm như vậy thì thường vì hai chuyện có đặc tính chung. Hai phép lạ này cũng thế, những nét chung là:

 a/ Cả hai nhân vật được ơn đều là phụ nữ (một bà băng huyết và một cô bé gái vừa chết).

 b/ Trong cả hai trường hợp đều có con số 12: con gái ông Giairô 12 tuổi; người đàn bà mắc bệnh loạn huyết 12 năm.

 c/ Cả hai đều được cứu nhờ Đức tin.

c 41 – Mở đầu tường thuật là khung cảnh cả một đám đông đang ‘chờ đón’ Đức Giêsu. Động từ này ngầm giới thiệu tư cách Messia của Ngài (7,19-20: Giona Tẩy Giả cho dân biết Đấng Messia mà họ đang chờ đón là ai).

 – Câu 42 ghi thêm chi tiết đám đông ấy ‘chen lấn làm Ngài nghẹt thở’. Chi tiết này giúp làm nổi bật thêm sức mạnh của quyền năng Đức Giêsu tỏa ra chung quanh.

 – Nhân vật thứ nhất xuất hiện là một ‘Chủ Hội đường’: danh hiệu này chỉ người phụ trách Hội đường, nhưng cũng có thể chỉ một người nổi tiếng trong cộng đoàn nữa.

 – Nếu ta so sánh ông này với Viên bách quan bách quân (7,6) ta sẽ thấy thái độ của ông có vài điểm khác biệt:

 a/ Viên sĩ quan không đích thân xin Đức Giêsu nhưng nhờ trung gian người Do thái, còn ông này đích thân xin.

 b/ Viên sĩ quan không dám mời Đức Giêsu vài nhà ông, còn ông này ‘nài xin Ngài vào nhà ông’. Lý do của hai điểm khác biệt trên vì viên sĩ quan là người ngoại, còn ông này là người Do thái. Chính vì ông này là Do thái cho nên cử chỉ ‘sụp lạy’ dưới chân Đức Giêsu của ông mang một ý nghĩa đặc biệt: người Do thái nghĩ rằng chỉ được thờ lạy một mình Thiên Chúa mà thôi. Vì thế cử chỉ này chứng tỏ ông tin Đức Giêsu có quyền năng của Thiên Chúa.

c 42 – Đứa con gái ông là đứa con duy nhất: Lc rất thích dùng hình ảnh ‘đứa con duy nhất’ (xem thêm 7,12) vì nó minh họa mô hình Đức Giêsu là Êlia mới.

 – Đứa con gái đó ở độ tuổi 12, nghĩa là độ tuổi sẵn sàng phát sinh sự sống mới. Thế nhưng trớ trêu thay chính sự sống của nó đang bị đe dọa.

c 43 – Bài tường thuật tạm dừng để cho xuất hiện nhân vật thứ ha ’có một bà băng huyết’.

 Ta cũng cần lưu ý rằng bệnh băng huyết bị liệt vào những bệnh ô uế và không ai được đụng tới bệnh nhân, cũng như bệnh nhân không được đụng tới ai (Lv 15,19-27).

 – Đối với bà này, điểm trớ trêu là dòng máu thay vì luân chuyển trong huyết quản để nuôi sống bà thì lại chảy ra ngoài, vừa làm hao mòn sự sống của bà, đứa bà dấn dấn về cái chết, vừa khiến bà trở thành ô uế.

c 44“Sờ vào tua áo của Ngài”: Người ta coi áo cũng là người, đụng áo tức là đụng người. Bà này không dám đụng người của Đức Giêsu vì sợ vi phạm luật Lêvi vừa kể trên, nên chỉ đụng áo và đụng lén.

 – Cái đụng này khác với cái đụng của dân chúng đông đảo chung quanh Đức Giêsu, vì nó phát xuất từ Dức tin.

 – Hậu quả xảy ra tức khắc: ‘tức khắc máu ngừng chảy’.

c 45-46 – Sau câu hỏi của Đức Giêsu ‘Ai đã sờ vào tôi?’ câu trả lời của Phêrô chứng tỏ ông chẳng hiểu gì. Bởi đó v giải thích ‘Thầy biết có một năng lực từ nơi Thầy phát ra’. Đây không phải là kiểu năng lực thần thông giống như các tay phù thủy chữa bệnh, mà chinh là năng lực do Thiên Chúa ban cho Đức Giêsu (5,17) và sau này Đức Giêsu ban lại cho Nhóm 12 để họ chữa bệnh (9,1-2).

c 47“Bà ấy run rẩy”: bà sợ bị Đức Giêsu rầy vì bà đã vi phạm luật Lêvi.

c 48 – Thái độ của Đức Giêsu mang nhiều ý nghĩa:

 – Mặc dù bà này đã vi phạm luật Lêvi, nhưng Đức Giêsu không hêg trách bà về điều đó, bởi vì Ngài jiểu hành động của bà không bị thúc đẩy bởi ý muốn cố tình phạm luật, mà chỉ bởi lòng tin.

 – Chính vì thấy rõ lòng tin của bà, nên Đức Giêsu nói với bà một câu đúng y từng chữ với câu mà Ngài đã nói với một phụ nữ khác (7,50) ‘Này con, đức tin của con đã cứu con’.

 – Câu này có thể có nhiều nghĩa bổ túc cho nhau:

a) chính đức tin của con tự nó đã cứu chữa con.

b) Đức tin của con đã cứu con vì nó đã đặt con vào mối tương quan với Ta là nguồn mọi ơn cứu chữa.

c) vì đức tin của con là thái độ duy nhất đẹp lòng Ta (vì là hành vi khiêm tốn tỏ lòng tín nhiệm Ta) nên Ta ban cho con điều con thỉnh cầu.

 – và Ngài nói thêm “Con hãy về bằng yên”: đây là một sứ điệp giải póng.

c 49 – Sau đó Lc trở lại với ông Giairô. Lời ông xin Đức Giêsu dến nhà ông đột ngột mất hết ý nghĩa, bởi vì người ta vừa đến báo cho ông hay ‘con gái ông đã chết, còn quấy rầy Thầy làm chi nữa’. Những người nói câu đó chứng tỏ thiếu đức tin vì cho rằng quyền năng của Đức Giêsu phải dừng lại trước biên giới sự chết (có lẽ cũng vì thế mà trong phần tiếp theo, Đức Giêsu dùng những động từ có mầu sắc phục sinh).

c 50 – Nhưng Đức Giêsu bảo ông ‘Đừng sợ, ông cứ tin đi’: trong tình huống như thế, lời mời gọi của Đức Giêsu quả là vượt sức tự nhiên, nhưng có tin như thế mới xứng đáng là Đức tin.

 – Ta thấy trong chuyện của người đàn bà bị loạn huyết và chuyện này, hai yếu tố tin cứu liên kết chặt chẽ với nhau.

c 51 “Ngài không để ai theo Ngài, ngoại trừ Phêrô, Gioan, Giacôbê và cha mẹ đứa bé”: Phần sau của chuyện cứu sống con gái ông Giairô diễn ra trong bí mật. Hơn nữa đây là một bí mật quan trọng có liên quan tới tư cách Messia của Ngài, vì thế chỉ có 3 môn đệ thân tín và cha mẹ của đứa bé được phép hiện diện.

c 52 “Nhiều người khóc lóc kêu la”: như thường thấy trong những đám tang ở phương Đông.

 – “Em ngủ đấy thối”: không phải Đức Giêsu nói đùa, vì Thánh Kinh coi cái chết chỉ là giấc ngủ (Mt 27,52; 1Cr 11,30 15,6; 1Tx 4,13-15).

c 53“Họ chế giễu Ngài”: thêm một bằng chứng về sự không tin.

c 54 “Hãy thức dậy”: động từ đồng nghĩa với sống lại.

c 55 “Hồn đứa bé trở lại”: Lc dùng lại cách diễn tả phép lạ của Êlia (Tv 17,21-22) để trình bày mô hình Đức Giêsu Êlia mới.

 – “Đức Giêsu bảo người ta cho nó ăn”: để xác minh là người chết đã sống lại thật (sau này Đức Giêsu cũng làm như vậy để chứng minh Ngài sống lại: 24,41-43).

 – “Không được nói với ai”: bí mật Messia, chỉ có thể nói ra sau khi Đức Giêsu chết và sống lại, vì chỉ lúc đó người ta mới hiểu tư cách Messia của Ngài và mới hiểu đúng ý nghĩa của sự việc.


II- Ý NGHĨA

 Bài tường thuật này kết thúc chuỗi 4 hành vi quyền năng của Đức Giêsu (8,22-56) nhằm chứng minh Đức Giêsu có quyền trên các sự sống lẫn sự chết, có quyền trong cả lời nói lẫn việc làm.

BÀI 35: SAI NHÓM 12 (9,1-6)

1Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3Người nói: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ." 6Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi. 

------------------

Trong phần cuối của phân đoạn dài về sứ vụ của Đức Giêsu tại Galilê (bắt đầu từ 4,14). Lc cho thấy tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ càng ngày càng chặt chẽ hơn, đưa họ dần dần đến câu trả lời chính xác cho câu hỏi mà nhiều người đã thắc mắc: “Giêsu là ai?” (5,21 7,49 8,25). Câu trả lời này sẽ do Phêrô đại diện nói lên (9,18-21).

Khởi sự phần cuối này là tường thuật Đức Giêsu sai nhóm 12 đi rao giảng.

c 1 “Nhóm 12”: Phía trước (6,12-16) Lc đã viết Đức Giêsu chọn từ các môn đệ ra 12 người và gọi họ là Tông đồ apostolos, nghĩa là những kẻ được sai đi. Khi mới được chọn, họ chưa được sai đi, hôm nay Ngài mới sai họ đi.

 – “Ban cho các ông năng lực và quyền phép”: ọ sẽ được tham dự vào chính sứ mạng của Thầy mình, cho nên Đức Giêsu ban cho họ năng lực, năng lực của chính Ngài, năng lực mà Ngài đã dùng để thực hiện các phép lạ mà chúng ta đã thấy ở đoạn trước; Ngài cũng ban cho họ quyền phép, cũng là quyền phép của chính Ngài, quyền phép mà Ngài đã dùng để xua trừ ma quỷ mà chúng ta cũng đã thấy ở đoạn trước. Họ chỉ còn thấy mỗi một điều là Thánh Thần, Đấng sẽ giúp họ làm chứng cho Tin Mừng trên khắp thế giới. Điều thứ ba này họ sẽ được ban sau khi Đức Giêsu sống lại, chuyển sang giai đoạn các tông đồ (Cv 2).

c 3 – Chỉ dẫn thứ nhất là về lúc đi đường: đừng để mình bị quá vướng víu với những nhu cầu và phương tiện vật chất, nhừ thế mà sẽ biết phó thác vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa hơn. Muốn thế người tông đồ phải:

a) ‘Đừng mang gì đi đường’ để được thảnh thơi khỏi cồng kềnh

b) ‘Đừng mang gậy’ gậy nhằm tự vệ khi bị kẻ ác tấn công dọc đường. Người tông đồ khỏi lo viẹc này vì chính Chúa Quan Phòng sẽ bảo vệ họ.

c) ‘Bao bì, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo’: đó là những món có tính cách dự trữ, phòng xa cho những nhu cầu vật chất. Việc phòng xa này cũng không cần thiết vì Chúa Quan Phòng đã lo sẵn có những người dọc đường cung cấp các thứ cần thiết ấy cho người tông đồ.

 – Nhưng chúng ta cũng nên lưu ý rằng trước khi bước vào cuộc chịu nạn, Đức Giêsu đã sửa đổi mộ số chi tiết của lời chỉ dẫn này 22,35-36: Rồi Ngài nói với các ông ‘Khi Thầy sai an hem đi, không túi tiền, không bao bị, không giáy déo, anh em có thiếu thốn gì không?’ Các ông đáp ‘Thưa Thầy không’. Ngài bảo các ông ‘Nhưng bây già, ai có túi tiền hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy, còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua’. Sở dĩ có thay đổi như thế vì hoàn cánh khi đó đã đổi ngược hẳn: các tông đồ đang ở trong một thế giới thù nghịch: mọi cửa nhà đều đóng lại không đón tiếp họ, và nguy hiểm chờ đợi họ ở khắp nơi.

 – Những sự thay đổi này cho thấy rõ hai thời kỳ trái ngược hẳn nhau trên con đường sứ mạng: thời ‘Mùa xuân Galilê’ đầy lạc quan phấn khởi với những thành công dễ dàng, và thời ‘mùa thu Giêrusalem’ đầy khó khăn giữa bầu khí thù nghịch bao trùm chung quanh.

c 4 – Chỉ đẫn thứ hai là về chỗ ở: Tông đồ không nên so đo chọn nơi[r sao cho vừa ý nhất, do so đo như vậy mà cứ đổi từ chỗ này sang chỗ khác cho dễ chịu hơn. Đức Giêsu dặn phải chọn người xứng đáng ở trọ nhà họ rồi ở luôn một chỗ đóCv 16,15 là mmọt thí dụ minh họa cho điểm này.

c 5 – Đức Giêsu cũng ự trù một trường hợp đặc biệt: có thể có nơi sẽ không chịu đón tiếp người tông đồ. Gặp trường hợp đó người tông đồ hãy ‘ra khỏi thành và giũ sạch bụi chân để tỏ dấu phản đối họ’, theo tục lệ Do thái, cử chỉ này có nghĩa là đoạn tuyệt. Xứ nào không đón nhận Lời Chúa thì bị kể là không phải Đất Thánh, bụi của xứ đó đều là bụi dơ, phải phủo lại kẻo mang bụi dơ ấy sang những xứ biết đón nhận Lời Chúa. Cử chỉ phủi bụi chân và ra đi cũng có ý tuyên bố rằng từ nay người tông đồ không còn trách nhiệm với nơi đó nữa. Trách nhiệm thuộc về chính nơi đó Cv 13,51 cũng là một minh họa cho điểm này.

c 6 “Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc”: sứ mạng của Nhóm 12 cũng giống Thầy mình (so sánh với 8,1), đó là một sứ vụ’du thuyết’ qua các làng mạc.

BÀI 36: HÊRÔĐÊ VÀ ĐỨC GIÊSU (9,7-10)

7Tiểu vương Hê-rô-đê nghe biết tất cả những gì đã xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy, có kẻ nói: "Đó là ông Gio-an từ cõi chết trỗi dậy." 8Kẻ khác nói: "Ông Ê-li-a xuất hiện đấy! " Kẻ khác nữa lại nói: "Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại." 9Còn vua Hê-rô-đê thì nói: "Ông Gio-an, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế? " Rồi vua tìm cách gặp Đức Giê-su. 

------------------

c 7 – Tiểu vương Herôđê: đây là Herôđê Antipas, cai trị miền Galilê và Pêrê từ năm 4 tr. cn. đến năm 39 sau cn.. Người ta thường ghép tước hiệu ‘tiểu vương’ vào tên ông (9,7 Cv 13,1) để phan biệt với phụ vương ông là Hêrôđê Cả (1,5).

 – Ta cần nhớ rằng trong thời kỳ này Đức Giêsu đang hoạt động ở miền Galilê, là miền do êrôđê cai quản. Những hoạt động của Ngài đã gây ảnh hưởng không phải chỉ trên đám dân đen mà còn trên đám người thân cận của chính Hêrôđê (8,3: bà Gioanna, vợ viên quản lý triều đình, để gia nhập nhóm ủng hộ Đức Giêsu). Bởi thế khi Hêrôđê nghe biết tất cả những việc của Đức Giêsu thì ông thắc mắc không biết ‘Giêsu là ai?’. Theo Mt 14,2 và Mt 6,16, Hêrôđê tưởng Đức Giêsu là Gioan Tẩy Giả sống lại. Còn theo Lc, một người sành văn hóa Hy lạp, thì Hêrôđê không thể nghĩ như vậy bởi Hêrôđê cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp vốn không tin việc sống lại. Cho nên Lc ghi là Hêrôđê ‘phân vân lắm’ phân vân vì có nhiều dư luận khác nhau về Đức Giêsu.

c 8 Có 3 dư luận về Đức Giêsu:

a/ Ngài là Gioan Tẩy Giả sống lại.

b/ Ngài là Êlia xuất hiện.

c/ Ngài là một ngôn sứ thời xưa sống lại. Như đã nói trên, Hêrôđê không tin những dư luận này lắm. Nhưng làm sao giải thích được những việc lạ lùng mà Đức Giêsu làm? Do đó câuhỏi Đức Giêsu là ai? Càng ray rứt hơn đối với ông. Bởi đó ông ‘tìm cách gặp Đức Giêsu’. Động cơ thíc đẩy ông tìm cách gặp Ngài không phải là đức tin, bởi vì sau cùng ông đã gặp được Ngài (23,8) nhưng không phải để tìm hiểu giáo huấn của Ngài mà chỉ để ‘được xem Ngài làm một vài phép lạ’!

BÀI 37: HÓA BÁNH RA NHIỀU (9,10-17)

10Các Tông Đồ trở về thuật lại cho Đức Giê-su những việc các ông đã làm. Người đem các ông đi riêng với mình, lui về thành kia gọi là Bết-xai-đa. 11Đám đông dân chúng biết thế, liền đi theo Người. Người tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa.

12Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giê-su thưa Người rằng: "Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng." 13Đức Giê-su bảo: "Chính anh em hãy cho họ ăn." Các ông đáp: "Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này." 14Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một." 15Các môn đệ làm y như vậy, và bảo mọi người ngồi xuống. 16Bấy giờ Đức Giê-su cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông. 17Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng.

------------------

I- TẦM QUAN TRỌNG

Trong các sách Tin Mừng có tới 6 bài tường thuật phép lạ hóa bánh ra nhiều:

– Mt 14,13-21 và 15,32-39.

– Mc 6,30-44 và 8,1-10.

– Lc 9,10-17.

– Ga 6,1-13.

Thử hỏi Đức Giêsu làm phép lạ này mấy lần? Dĩ nhiên không phải 6 lần bởi vì các sách Tin Mừng nhất là các Tin Mừng nhất lãm thường cùng thuật những sự kiện như nhau. Có người dựa vào sự kiện phép lạ này được thuật hai lần trong Mt và hai lần trong Mc để kết luận là Đức Giêsu làm phép lạ này hai lần. Thực ra như kết quả nghiên cứu của các chuyên viên, Đức Giêsu chỉ làm phép lạ này một lần. Nhưng sự kiện đó được ghi hai lần trong Tin Mừng Mt và Mc, là vì hai tác giả này đã dùng hai tài liệu của hai cộng đoàn: cộng đoàn Do thái (Mc 6,30-44; Mt 14,13-21) và cộng đoàn Hy lạp (Mc 8,1-9; Mt 15,32-39).

Chỉ một phép lạ mà tất cả 4 sách Tin Mừng đều ghi lại, và riêng Mt và Mc hi lại tới 2 lần. Sự kiện này cho thấy tầm quan trọng mà các cộng đoàn Kitô gán cho phép lạ này: họ đã trông thấy trong đó nhiều ý nghĩa thần học phong phú.


II- GIẢI THÍCH

c 10 – Sau một thời gian thực tập truyền giáo (9,1-6) nay các môn đệ trở về báo cáo với Thầy về công tác đã làm. Đến đây Lc chính thức gọi họ là ‘Tông đồ’ vì quả thực họ xứng đáng như thế: Họ đã được sai đi.

 – “Ngài đem các ông đi riêng với mình”: Lý do là để tạm tránh dân chúng, nhưng các câu 18-21 cho ta biết thêm một lý do khác nữa: để Ngài thăm dò các dư luận về Ngài, nhân đó Ngài sẽ mặc khải cho các ông biết đích thực Ngài là ai.

 – “lui về thành kia gọi là Bétsaida”: Trong lúc Mc 6,45 nói phép lạ xảy ra xong thì các tông đồ mới đến Bétsaida, thì Lc nói phép lạ xảy ra trong lúc Thầy trò Đức Giêsu trên đường đi đến thành này.

c 11 – Mặc dù Đức Giêsu muốn dẫn các tông đồ đến một nơi vắng vẻ riêng tư, nhưng dân chúng vẫn ‘đi theo’. ‘Đi theo’ là hành động của nười môn đệ (5,11.27.28). Lúc này họ còn sốt sắng muốn làm môn đệ Ngài. Bởi thế, phần sau của câu chuyện cho thấy Đức Giêsu tạm bỏ đi dự định ban đầu dể chiều ý các môn đệ này: “Ngài tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần chữa”.

c 12 – Đức Giêsu tiếp đón dân chúng mãi cho đến khi ‘ngày bắt đầu tàn’.

 – Khi đó nhóm 12 đề nghị: “Xin Thầy cho đám đông về để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn”. Mt và Mc không ghi chi tiết ‘tìm chỗ trọ…’ này, vì sự lo lắng tìm chỗ trọ không phải là thói quen của người Do thái, Lc ghi như thế cho hợp tâm lý độc giả Hy lạp.

 – Chú ý: câu chuyện diễn ra ‘ở nơi hoang vu’: trong nguyên ngữ chữ được dùng cũng có nghía là ‘sa mạc’. Lc muốn cho thấy chuyện này và chuyện manna trong sa mạc thời xuất hành liên quan nhau (Xh 13;6tt). Hoàn cảnh một đám đông đói khát cũng giống như ngày xưa. Các môn đệ nghĩ đến giải pháp đơn giản là giải tán cho họ về.

c 13 – Nhưng Đức Giêsu bảo “chính anh em hãy cho họ ăn”: chi tiết này cho thấy lòng quảng đại của Đức Giêsu và tính cho không của phép lạ: mặc dù dân có thể tìm thức ăn ở các làng chung quanh, nhưng Đức Giêsu muốn ban thức ăn ấy cho họ.

 – “Chúng con chỉ có vỏn vẹn 5 cái bánh và 2 con cá”: ngày xưa ngôn sứ Êlisê đã dùng 20 chiếc bánh để làm phép lạ cho 100 người ăn mà còn thừa (2V 4). Hôm nay Đức Giêsu chỉ dùng 5 chiếc bánh và 2 con cá để cho một đám đông trong đó nguyên đàn ông đã khoảng 5.000 người. Như thế Đức Giêsu còn hơn là một ngôn sứ (hãy nhớ các dư luận về Đức Giêsu, có người nghĩ Ngài là một ngôn sứ thời xưa sống lại: Lc 9’8. Phép lạ này là câu trả lời cho dư luận đó).

c 14“Anh em hãy cho họ ngả lưng”: Tường thuật này chứa đựng nhiều chi tiết về vai trò làm trung gian của các tông đồ: trước đó, chính họ cho Đức Giêsu biết nhu cầu cần có thức ăn và chỗ ở của dân (c 12), bây giờ Đức Giêsu nhờ họ xếp chỗ cho dân ngồi ăn, chút nữa đây họ sẽ phân phát bánh và cá cho dân (c 16).

 – “Từng nhóm 50 người một “: cách xếp chỗ này gợi lại việc sắp xếp dân trong thời sa mạc (Xh 18,21-25; Ds 31,14; Đnl 1,15). Ngụ ý đám đông hôm nay là một dân Israel mới.

c 16 “Đức Giêsu cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra, trao”: cùng những động từ của việc lập bí tích Thánh Thể.

 – Ta hãy chú ý là tường thuật này không dùng chữ ‘biến ra nhiều’ (multiplication), thay vào đó là động từ ‘bẻ ra’, ‘phân phát’ và ‘chúc tụng’ (cũng có thể dịch là ‘chuc phúc’): hai động từ đều rõ rang mang màu sắc bí tích Thánh Thể và lễ nghi bẻ bánh thời GH sơ khai; còn động từ ‘chúc phúc’ cho thấy rằng Đức Giêsu chuyển thông quyền lực của Ngài vào những chiếc bánh – cũng như Ngài đã chuyển thông quyền lực của Ngài vào các bệnh nhân – và đó là nguyên nhân phép lạ xảy ra.

c 17 – Ăn no và còn dư cũng là một chủ đề của Cựu Ước (2V 4,43)

 –“12 thúng”: con số tương đương với số chi tộc và số tông đồ. Có lẽ Lc muốn nói rằng một dân khác (Israel mới) vẫn có thể no nê với số lương thực dư thừa này.


III- Ý NGHĨA

1/ Ý nghĩa Thánh Thể