19 Bài Thánh Hóa Gia Đình

1. Gia Ðình Cộng Ðoàn Sự Sống

Tòa Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết 

Phúc âm theo Thánh Mát-thêu viết: Các nhà chiêm tinh được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa (ông có ý định giết Chúa Hài Nhi) nên họ đã đi lối khác mà về nhà mình (2, 12). Bấy giờ, vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa thì đùng đùng nổi giận, ông sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh (2, 16).

Vua Hê-rô-đê âm mưu giết hại Chúa Hài Nhi, vì sợ sệt, vì ích kỷ, vì tham quyền. Ông là một nhà độc tài, một bạo chúa, một đồ tể, một tên sát nhân. Ông đã sai người đi triệt hạ tất cả những đứa trẻ dưới hai tuổi tại Bê-lem và các vùng lân cận, vì sợ Hài Nhi mà các nhà chiêm tinh gọi là "Vua dân Do-thái mới sinh" sẽ tranh ngôi với ông (2, 21). Hê-rô-đê đã để lại cho hậu thế một hình ảnh đồi bại, xấu xa, độc ác của một tên đồ tể.

Những đứa bé vô gia đình

Thế giới của chúng ta hôm nay vẫn còn nhiều người xấu xa, đồi bại, sát nhân như vua Hê-rô-đê. Họ tìm mọi phương cách bất chính để giảm bớt trẻ em trên mặt đất. Họ gieo rắc sự sợ sệt, ích kỷ tàn ác trong các gia đình, nhất là trên các nam thanh, nữ tú. Trong số người thù của sự sống này, có các vua quan, các nhà lãnh đạo đất nước, những người đang cầm vận mạng các dân tộc, những nhà kinh tế, chính trị, giáo dục, những người làm công tác truyền thông v.v... Họ đặt điều kiện cho các nước nghèo để được viện trợ, họ bắt buộc các công nhân, viên chức hạ thấp số con, họ chủ trương phải giảm bớt thực khách, để gia tăng phần ăn của họ. Họ không ngần ngại phí phạm hằng triệu tỷ đồng để sản xuất vũ khí, để hội họp, để giao dịch hay công du. Mỗi năm, hằng triệu trẻ em đã bị giết trong bụng của người mẹ do nạn đặt vòng, nạo thai, sử dụng thuốc ngừa thai, triệt sản!

Tại Việt Nam, các nhà xã hội học ước tính số người nạo thai trong cả nước hằng năm có thể từ 2 đến 3 triệu người. Năm 1997, tổng số sinh trên toàn quốc là 1.138.607 ca, thì số nạo phá thai là 934.302 ca. Năm 1998, số sinh 1.101.791 ca, số nạo phá thai 861.353, trong đó 13,4% người mẹ là thiếu nữ từ 15 đến 19 tuổi. Ðây mới chỉ là số thông kê nạo phá thai trong các cơ sở Nhà Nước, chưa tính đến các cơ sở tư nhân (x. Tạp chí Thông Tin Dân Số, số 3.2002, tr. 33). Ðể phát triển kinh tế, người ta rầm rộ khuyến khích việc chăn nuôi: chim trời, cá biển, gia súc và dã thú càng nhiều càng lợi và càng hay. Nhưng người ta lại làm ngược lại đối với loài người!

Tại một nước nọ, để gây ý thức cho nhân dân về tính kinh khủng của nạn sát nhi, người ta đã xây dựng một nghĩa trang cho những thai nhi, thu lượm được ở các bệnh viện. Mỗi ngày, có đến hàng trăm đám tang được chôn cất. Và không bao lâu, nghĩa trang này đã đầy chật người! Thật là kinh khủng! Công Ðồng Vatican 2 đã dạy: "Sự sống ngay từ lúc thụ thai phải được gìn giữ hết sức cẩn thận. Phá thai và sát nhi là những tội ác ghê gớm" (Hiến chế Mục Vụ số 51)

Gia đình, nơi bảo vệ sự sống

Ðược tin ác vương Hê-rô-đê đang tìm cách để sát hại Hài Nhi, thánh Giu-se và Ðức Ma-ri-a hối hả, đang đêm, mang Ngài sang tị nạn bên Ai-cập. Hai ông bà ở lại đó cho đến khi tên bạo chúa băng hà. Thế là, nhờ gia đình, Chúa Hài Nhi đã được cứu sống. Sự sống đã được ban trong gia đình, được bảo vệ và bênh vực nhờ gia đình, được lớn lên, vững mạnh và phát triển với gia đình. Gia đình đúng là cộng đoàn của sự sống.

Theo sách Sáng Thế, thì khi tạo dựng, Thiên Chúa, Ðấng ban sự sống, đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài: "Ngài tạo dựng họ là nam và là nữ. Ngài đã chúc lành và đã phán bảo họ: Hãy sinh sôi nẩy nở và hãy làm bá chủ trên mọi sinh vật" (x. St 1, 27 - 28). Thế là Thiên Chúa đã tạo dựng con người và thiết lập gia đình để lưu truyền sự sống trên mặt đất và cai quản nó. Ngài đã chúc lành cho đôi hôn nhân: là người nam và người nữ và đã dạy họ sinh con cái.

Ðó là ý định của Thiên Chúa ngay từ buổi đầu. Phẩm giá và danh dự của gia đình là được lãnh nhận và trao ban lại sự sống. Vì sự sống là ân huệ cao quý nhất của Thiên Chúa nên việc sinh con cái của người chồng và người vợ là hành vi tuyệt diệu và tuyệt mỹ của gia đình. Vì vậy, đừng ai, vì sợ, vì ích kỷ hay vì vô luân, mà dã tâm sát hại trẻ con như vua Hê-rô-đê. Hãy bảo vệ, bênh vực và phát huy sự sống. Ðồng thời, hãy chú trọng đến phẩm chất: sống có tư cách, có bản lĩnh, có văn hóa; sống cho ra người và hơn nữa, đối với người Ki-tô hữu chúng ta, sống như những người con của Thiên Chúa, "hoàn thiện như Chúa Cha trên trời là Ðấng hoàn thiện" (Mt 5, 48).

Gia đình có trách nhiệm

Ðược sứ thần báo tin vua Hê-rô-đê đang tìm cách giết Hài Nhi, ông Giu-se và bà Maria đã vội vã mang con sang tị nạn bên Ai-cập. Họ ra đi, vì trách nhiệm, để bảo vệ sự sống của đứa con, bất chấp mọi gian nguy, khổ nhọc. Việc truyền sinh là ý định của Thiên Chúa Tạo Hóa, nên không có một cá nhân hay quyền lực nào được sửa đổi hay ngăn chận tiến trình phát triển tự nhiên của nó. Sử dụng những phương tiện khoa học để tránh việc thụ thai, hủy hoại những cơ quan truyền sinh, triệt sản hay nạo thai là xúc phạm đến định luật của Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng con người.

Nhưng song song với mệnh lệnh truyền sinh này, Thiên Chúa cũng đã ban cho con người quyền làm chủ (x. St 1, 28). Với quyền làm chủ này, họ phải chế ngự và điều hòa có trách nhiệm việc sinh sản của họ trong tình yêu và sự kính trọng lẫn nhau, theo khả năng nuôi dưỡng và giáo dục con cái của họ và trong bối cảnh xã hội họ đang sống. Họ phải là những người tự do, có nhân cách, bản lĩnh và trách nhiệm trong việc sinh con cái.


2. Gia Ðình Chiếc Nôi Văn Hóa Ðức Tin (I)

Nữ tu Tê-rê-xa Phạm Thị Oanh, Dòng Ða-minh Tam Hiệp 

Phần Dẫn Nhập

Trong Huấn Thị "Thử Tìm Một Hướng Mục Vụ Cho Vấn Ðề Văn Hóa" của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, 1999, số 14 đã trích dẫn "Thư Gửi Các Gia Ðình", 1994, số 7 (ÐGH. Gioan Phaolô.II) như sau: "Tựa như chiếc nôi của tình yêu và sự sống, gia đình cũng là nguồn cội của văn hóa. Gia đình chính là nơi nghênh đón sự sống và là trường dạy nhân bản, trong đó các cặp vợ chồng tương lai cần được huấn luyện hết sức chu đáo để làm nên cộng đồng gia đình."

Huấn Thị còn nhấn mạnh thêm: "Gia đình phải lo bảo vệ vai trò căn bản của mình là làm môi trường ưu tiên giúp con người và xã hội được nhân bản hóa" vì "Tương lai nhân loại thế nào là tùy vào chỗ mọi người có được phát triển nhân bản đầy đủ và có liên đới với nhau hay không?" (Populorum progressio, số 42)"

Chúng ta nhận thấy Giáo Hội rất quan tâm và đề cao giá trị nhân bản trong các gia đình. Vậy cuộc sống nhân bản theo quan điểm Ki-tô Giáo là gì? Ðó có phải là nơi gặp gỡ và hội nhập giữa văn hóa và Ðức Tin hay không? Theo tinh thần Huấn Thị của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, chúng tôi muốn nhìn lại Công đồng Vatican 2 qua Hiến chế "Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay" (GS), Phần II, chương I và chương II về Phẩm Giá của Hôn Nhân Gia Ðình và Phát Triển Văn Hóa.

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi xin được đề cập đến hai nét căn bản trong văn hóa gia đình mà Công đồng đã đặc biệt nhấn mạnh đó là: sự sống và tình yêu (GS 49, 50), để góp phần "Xây dựng một nền nhân bản đích thực về gia đình" (FC 7) trong một thế giới đang phải chọn lựa giữa văn hóa sự sống và sự chết, giữa văn minh tình thương và ích kỷ.

Ðây chính là một trong những thách đố niềm tin nghiêm trọng mà các gia đình Công Giáo Việt Nam cũng như toàn cầu đang phải đối diện. Vấn đề là trong khi "con người chỉ có thể thực hiện được nhân tính đích thực và trọn vẹn của mình nhờ văn hóa" (GS 53), thì chính "nền văn hóa cũng đang vương tội lụy" (Fides et ratio, 71). Vì thế, nó cần phải được các gia đình Ki-tô hữu phân định và hiểu đúng ý nghĩa của việc hội nhập văn hóa là "biến đổi sâu xa các giá trị văn hóa đích thực bằng cách cho chúng hội nhập vào Ki-tô Giáo và đưa Ki-tô Giáo hội nhập vào các nền văn hóa khác nhau của nhân loại" (Redemptoris missio, 52) vì "Ðức Tin mà không trở thành văn hóa là Ðức Tin chưa được chấp nhận hoàn toàn, chưa được suy cho thấu và chưa được sống tới cùng." (ÐTC Gioan Phaolô II, Thư thành lập Hội Ðồng Giáo Hoàng về Văn Hóa ngày 20.5.1982).

Hy vọng khi các gia đình Công Giáo Việt Nam sống đúng bản chất của mình là chiếc nôi văn hóa sự sống và tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, mọi thành viên trong gia đình có thể nhận ra lời mời gọi của Ðức Tin, sống Ðức Tin và chuyển trao ánh sáng Ðức Tin như một tin mừng hy vọng, cách hiệu quả ngay trong môi trường sống tràn ngập bóng tối hiện nay.

Sau đây là 3 phần chính của đề tài:

I. Gia Ðình - Chiếc Nôi Văn Hóa Sự Sống Và Tình Yêu

Nếu "văn hóa là phương cách đặc thù mà mỗi người và mỗi dân tộc dựa vào để tổ chức các quan hệ của mình với thiên nhiên, với anh chị em đồng loại, với bản thân mình và với Thiên Chúa, để có một cuộc sống nhân bản trọn vẹn" (GS 53), thì gia đình chính là chiếc nôi văn hóa của một đời người vì văn hóa chỉ có thông qua con người, nhờ con người.

Chiếc nôi văn hóa gia đình là hình ảnh của lòng mẹ được gọi một cách trang trọng là "tử cung" nơi bào thai được hình thành, là vòng tay ẵm, là nhịp võng ru, là đầu gối mẹ cha, là nơi người con được hấp thụ toàn bộ sinh hoạt nhân bản: sinh hoạt trí tuệ và tình cảm, việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời, các phong tục tập quán và luân lý của con người. Nói cách khác, mỗi người đón nhận từ gia đình một vòng đời văn hóa: yêu thương, phục vụ, hiếu đễ, tang tế; trong đó, sự sống và tình yêu là hai nét văn hóa cơ bản và cần thiết nhất để con người được hiện hữu và trưởng thành nhân cách.

Chúng ta sẽ lần luợt tìm hiểu về hai nét văn hóa sự sống và tình yêu trong văn hóa gia đình của truyền thống dân tộc Việt Nam và nguồn văn hóa Ki-tô Giáo qua những lời giáo huấn của Hội Thánh từ Công đồng Vatican 2 cho tới nay.


II. Văn Hóa Sự Sống:

A. Truyền Thống Văn Hóa Gia Ðình Việt Nam:

Tự bản chất, gia đình là nơi con người được sinh ra, được bảo vệ và được thăng tiến sự sống. Truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam vừa bộc lộ nét văn hóa quý trọng sự sống căn bản của đời người trong việc sinh sản, vừa nuôi dưỡng nét đẹp văn hóa ấy trong giáo dục gia đình để con người được phát triển về thể chất và nhân cách đồng thời góp phần xây dựng nền văn minh cho dân tộc.

1. Con Rồng cháu Tiên : Câu chuyện Bà Âu Cơ sinh 100 con là một huyền sử dựng nước có nhiều ý nghĩa, mang tính biểu tượng cho một nền văn hóa phát triển sự sống để một dân tộc trở nên hùng mạnh, đoàn kết, và kiên cường mở mang đất nước. Cổ nhân thường dùng hình ảnh để dạy con cháu, thần thoại Rồng Tiên là bóng dáng của lịch sử tô điểm cho các giá trị truyền thống.

Theo Ðông Phong, tác giả cuốn Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam thì Rồng Tiên thực chất là niềm tự hào của dân tộc, là tinh hoa của văn hóa, là cơ sở giáo dục của tiền nhân. "Rồng" là biểu hiện cho sức mạnh biến hóa, hợp thời, vận may, hy vọng. Còn "Tiên" biểu hiện sự thanh khiết, viên mãn, trường sinh và hạnh phúc (x. Ðông Phong, VHCTVN, nxb. Mũi Cà Mau, 1998)

2. Những lời chúc: "Trùng trùng bách tử thiên tôn" hay "đa tử, đa tôn", "phúc, lộc, thọ"... Ðó là những lời chúc tốt đẹp cao quý nhất người ta thường trao cho nhau vào những dịp lễ đặc biệt của một đời người như ngày tân hôn và trong ngày đầu năm khi đi thăm viếng các gia đình thân nhân họ hàng. Truyền thống này nói lên khát vọng hạnh phúc của từng con người là mong được sống lâu bên đàn con cháu đông đúc làm thành "tứ đại đồng đường". Nói chung, khát vọng sống và sợ chết luôn nằm trong bản chất của con người. Ðó là khát vọng tâm linh hình thành nên nền văn hóa tôn trọng sự sống, phục vụ sự sống của người Việt Nam qua truyền thống Ðạo Hiếu:

"Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con."

Cũng theo tác giả Ðông Phong thì nét đặc biệt trong Văn Hóa gia đình Việt Nam là "chăm sóc con cái và phụng dưỡng người già". Vì thế mà ca dao, tục ngữ, truyện cổ Việt Nam luôn đề cao những bậc cha mẹ hy sinh nuôi nấng con cái, và con cái hiếu thảo với Cha Mẹ, Ông Bà, tôn kính những người cao tuổi. (Nhị Thập Tứ Hiếu, Lục Vân Tiên, Truyện Kiều...). Ðồng thời, văn học dân gian cũng luôn kết tội những người gian ác, bất hiếu. (Truyện Tấm Cám, Tích Chu,...).


B. Truyền Thống Ki-tô Giáo Về Văn Hóa Sự Sống:

Dựa vào những bản văn Thánh Kinh, Ki-tô Giáo giúp cho nền văn hóa sự sống được vươn tới những tầm mức siêu việt khi tin nhận rằng: Thiên Chúa chính là sự sống, Ngài làm chủ sự sống và cho con người tham dự vào công trình sáng tạo của Ngài. Vì thế, Giáo Hội luôn đề cao giá trị của hôn nhân gia đình như "cung thánh sự sống" và không ngừng lên tiếng bảo vệ quyền sống của con người.

1. Truyền thống tôn trọng và phục vụ sự sống

Công Ðồng Vatican 2 tuyên bố: "Hôn nhân và tình yêu vợ chồng tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ. Thiên Chúa đã phán: "Ðàn ông ở một mình không tốt" (St 2, 18) Ngài là Ðấng: "...từ buổi đầu, đã dựng nên một người nam và một người nữ rồi nói: "Các ngươi hãy tăng gia sinh sản" (St 1, 28)" (GS 50).

Thiên Chúa còn ban giới răn "Không được giết người" (Mt 5, 21) hiểu như một sự tôn trọng sự sống và làm cho sự sống thêm phong phú; nhất là khi Ðức Giê-su tuyên bố: Ngài đến là để làm cho chiên được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10); ngày Sa-bát là để làm cho sống chứ không phải để giết chết (x. Mt 12, 12); và sự chết của Ngài cũng chính là để cho chúng ta được sống sự sống viên mãn. (Rm 6, 4)

2. Truyền thống bảo vệ quyền sống của con người

Ðứng trước thế lực toàn cầu của nền văn minh sự chết đang khủng bố sự sống ngay từ khi mới chớm nở, đánh mất lương tâm tập thể, Giáo Hội đã quan tâm rất nhiều trong việc giáo dục văn hóa sự sống cho các gia đình từ Công đồng Vatican 2 trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng (GS), Thông Ðiệp Sự Sống Con Người của Ðức Phao-lô 6, 1968 (HV); Huấn Thị Ơn Ban Sự Sống của Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, 1987; Sách Giáo lý Công Giáo (FD), 1992. Riêng Ðức Gio-an Phao-lô 2, trong triều đại Giáo Hoàng, đã ban Tông Huấn: Familiaris consortio, 1981 (FC); Thông Ðiệp Veritatis splendor, 1993; Thông Ðiệp Centesimus annus, 1991 (CA); Thư Gửi Các Gia Ðình, 1994; đặc biệt là Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự Sống, 1995; và Huấn Thị Con Cái Mùa Xuân của Gia Ðình, 1998.

Giáo Hội không ngừng lên tiếng bảo vệ quyền sống của con người, đặc biệt đối với trẻ thơ: "Nhờ ánh sáng của lý trí và không quên tác động âm thầm của ân sủng, bất cứ ai thành thật mở lòng cho sự thật và sự thiện đều có thể nhận ra, trong luật tự nhiên ghi khắc nơi tâm hồn (x. Rm 2, 14 - 15), giá trị thánh thiêng của sự sống con người từ lúc chào đời cho đến hồi kết thúc. Sự sống con người đến từ Thiên Chúa. Ðó là quà tặng của Ngài, là hình ảnh và là dấu ấn của Ngài, là sự thông phần vào hơi thở ban sức sống của Ngài. Cho nên, Thiên Chúa là Ðức Chúa duy nhất của sự sống ấy: loài người không có quyền quyết định trên sự sống đó. Sự sống con người là ân phúc hàng đầu của nhân loại mà tất cả mọi người chúng ta phải bảo vệ.

Thế nên Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quả quyết rằng: "Mọi cá nhân đều có quyền sống" và Hiến Chương Các Quyền của Gia Ðình của Toà Thánh (1983) xác nhận rằng: "Sự sống con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ ngay từ giây phút thành thai" (Ð.4). "Do đó trước cũng như sau khi sinh ra, trẻ thơ có quyền bảo vệ và chăm sóc đặc biệt" (Ð. 4d). Vì thế đối với Giáo Hội, "phá thai là một tội ác khủng khiếp, tương tự việc giết hại trẻ thơ." (x. Huấn Thị Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, 1998)

3. Gia đình là "cung thánh sự sống"

Giáo Hội luôn nhìn nhận rằng: Ơn ban sự sống được nối liền với gia đình vốn là "cung thánh của sự sống". Ðó là ý định của Thiên Chúa, từ khi tạo dựng, không những chỉ bằng sự cộng tác vào công trình tạo dựng ở lúc thụ thai, nhưng còn kéo dài suốt quá trình giáo dục (như một cuộc đồng tạo dựng toàn diện), là một quá trình phải làm cho mỗi con trẻ, mỗi nhân vị lớn lên theo hình ảnh Thiên Chúa, và giống như Ngài, nghĩa là theo như hình tượng tối hảo là chính Chúa Ki-tô...

Gia đình là nơi mà nền văn hóa sự sống phát sinh, nơi mà sự sống được công bố khi thụ thai, như một tin phúc hạnh trong Chúa Ki-tô, nơi mà sự sống được tôn dương và nơi kiến tạo tương lai cho nhân loại, một nhân loại được coi như trung tâm điểm và trái tim của nền văn minh tình yêu (Lời Giới Thiệu Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự Sống của Ðức Hồng Y A.I. Trujillo Chủ Tịch. HÐTT về Gia Ðình).


III. Văn Hóa Tình Yêu:

A. Truyền Thống văn Hóa Gia Ðình Việt Nam:

1. Nền văn hóa đề cao tình yêu chân chính

Hình ảnh quen thuộc nhất đối với dân tộc Việt Nam khi nói về gia đình, đó là "Chiếc nôi tình yêu", "Mái ấm hạnh phúc". Gia đình được hình thành trong tình yêu và là nơi trao nhận tình yêu. Qua truyện cổ Công Chúa Tiên Dung và Chử Ðồng Tử, Sự Tích Trầu Cau, và truyện Ông Táo cho thấy: khi chưa bị ảnh hưởng nặng nề của phong kiến dưới ách lệ thuộc gần một ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã có những quan niệm về hôn nhân gia đình rõ rệt chính xác, đó là duyên nợ và tình yêu. Duyên nợ mang tính duy tâm huyền bí, tình yêu là yếu tố quyết định đi tới hôn nhân.

2. Nền văn hóa đề cao tình yêu tự do và lễ giáo

Hôn nhân tự do trong lễ giáo là khát vọng của tình yêu nam nữ trong hôn nhân Việt Nam. Gia đình yêu thương, hòa thuận, thủy chung, thuần nhất và gắn bó với đại gia đình cha mẹ, gia tộc và dân tộc. Nghi thức cưới hỏi của truyền thống văn hóa Việt Nam đã diễn tả ý nghĩa cao quý này qua biểu tượng: trầu cau, cặp đèn, mâm quả, lời nguyện trước gia tiên, những lời cầu chúc trăm năm hạnh phúc,... Hôn nhân gả bán, ép buộc có giá trị pháp lý thời xưa, nhưng là phi luân lý, phi đạo đức... gặp chống đối từ chính nội tâm đương sự và cả dư luận sáng suốt phản ánh trong tục ngữ: "Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên". Tình yêu đã đem lại vô số những tác phẩm lớn trong văn học trí thức cũng như những câu ca dao bình dân. (x. Ðông Phong, sđd): "Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua." Và: "Thuận vợ thuận chồng, tát bể Ðông cũng cạn".


B. Truyền Thống Ki-tô Giáo Về Văn Hóa Tình Yêu:

1. Hôn nhân là một giao ước tình yêu

Sống yêu thương là điều kiện để trở nên người Ki-tô hữu: "Thầy ban cho các con điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 14, 33), và Hôn nhân Ki-tô giáo cũng là một giao ước của tình yêu giữa hai người nam nữ. Họ cam kết yêu thương, tôn trọng và trung thành với nhau suốt đời để thăng hoa tình yêu trong việc sinh con cái.

2. Tình yêu hôn nhân bất khả phân ly

Trong Hiến chế Gaudium et spes, số 48 đã viết về đời sống hôn nhân gia đình như sau: "Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ "không còn là hai, nhưng là một xương thịt" (Mt 19, 6), phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kếp hợp với nhau bất khả phân ly."

Trong Thánh Lễ Hôn Phối, Hội Thánh đã lấy lời Thánh Phao-lô để khuyên dạy: "Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Ðức Ki-tô đã yêu thương Hội Thánh, và hiến mình vì Hội Thánh để Người thánh hóa Hội Thánh" (Ep 5, 25 - 26). "Chính vì thế, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Ki-tô và Hội Thánh." (Ep 5, 31 - 32)

Qua phần trình bày trên, chúng ta nhận thấy rằng: Sự sống, tình yêu là điểm chung gặp gỡ của nền nhân bản đích thực và Giáo Lý Ðức Tin Ki-tô Giáo vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài và đã khắc sâu trong tâm hồn mỗi người lòng khao khát hướng về cội nguồn sự sống và tình yêu là chính Ngài.

Nhìn vào sự phát triển của Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt qua đời sống chứng nhân của các Thánh Tử Ðạo và nếp sống Mục Vụ Giáo Xứ sinh động như hiện nay, chúng ta nhận thấy rõ hơn rằng: chiếc nôi truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam rất thích hợp để đón nhận văn hóa Tin mừng Sự Sống và Tình Yêu của Ki-tô giáo.


3. Gia Ðình Chiếc Nôi Văn Hóa Ðức Tin (II)

Nữ tu Tê-rê-xa Phạm Thị Oanh, Dòng Ða-minh Tam Hiệp 

Hiện nay các gia đình Công Giáo Việt Nam đang phải đối diện với hai thực tại liên quan đến Ðức Tin đó là bổn phận bảo vệ sự sống và trung thành trong tình yêu hôn nhân. Ðây là hai vấn đề nghiêm trọng mà Công đồng đã đề cập tới 40 năm trước vì nó là một trong những khó khăn lớn của con người trong xã hội đô thị hóa, hiện đại hóa. Vấn đề là chiếc nôi gia đình đang thay đổi từ nền văn hóa nông nghiệp sang nền văn hóa công nghiệp. Tương quan gia đình lỏng lẻo dần và những giá trị đạo đức luân lý truyền thống đang nhường bước cho quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường và sức thu hút của các phương tiện truyền thông hiện đại.

Vì thế, trong phần này, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến khía cạnh: "Con người là tác giả của văn hóa" (GS 55), như một gợi ý giúp các gia đình Công Giáo sống Phúc Âm giữa một xã hội đang bị đe dọa bởi sự toàn cầu hóa của nền văn minh hưởng thụ. Muốn thế, các gia đình cần khẳng định lập trường của mình để thể hiện Ðức Tin qua nếp sống văn hóa nhân bản để xây dựng nền văn hóa sự sống và tình yêu theo ý Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của Công Ðồng Vatican 2.


I. Những thách Ðố Ðức Tin Về Văn Hóa Sự Sống:

A. Hướng dẫn của Công Ðồng:

1. Sinh sản có trách nhiệm

Truyền sinh là sứ mệnh của đời sống gia đình, cha mẹ được cộng tác với tình yêu của Ðấng Tạo Hóa và diễn tả tình yêu của Ngài. Nhiều người lầm tưởng rằng Giáo Hội Công Giáo không quan tâm đến vấn đề bùng nổ dân số và nỗi khổ của những gia đình đông con, nhưng thực ra Công Ðồng đã khuyên các bậc cha mẹ sinh sản có trách nhiệm. Họ phải có một phán đoán ngay thẳng: tôn trọng và tuân phục ý Chúa, đồng tâm hiệp ý với nhau, nhận định hoàn cảnh sống, lợi ích của gia đình, xã hội và Giáo Hội trong vấn đề sinh con. Ðiều này luôn cần đến tinh thần hy sinh và quảng đại. (x. GS 49).

2. Nhận sự hỗ trợ của khoa học

Nhờ những thành quả của y học, hiện nay Giáo Hội khuyên các bậc cha mẹ: "Tiết dục định kỳ theo phương pháp điều hòa sinh sản đặt nền tảng trên việc tự quan sát và sử dụng những thời gian không thể thụ thai" vì nó phù hợp với tiêu chuẩn khách quan của luân lý (x. FD 2370), để có thể hạn chế số con khi điều kiện kinh tế và nghề nghiệp không cho phép.

Tại nhiều Giáo Xứ, trong những lớp học chuẩn bị hôn nhân gia đình, các đôi bạn trẻ đã có những giáo trình và được học hỏi, hướng dẫn về những phương pháp này để có thể sinh con có trách nhiệm theo hướng dẫn của Giáo Hội. Những gia đình biết sống đức khiết tịnh trong hôn nhân đã áp dụng thành công những phương pháp này. Nhờ đó họ càng thăng tiến hơn trong tình yêu và hạnh phúc gia đình.

B. Thách Ðố Và Cám Dỗ Trong Xã Hội Hiện Ðại:

Tuy nhiên trong những năm gần đây do tác động quá nhanh của những biến chuyển xã hội, chiếc nôi gia đình đang bị nền văn hóa sự chết choáng ngợp, nhiều bậc cha mẹ bị khủng hoảng Ðức Tin trầm trọng nhất là khi phải chọn lựa ý muốn của Thiên Chúa về những giá trị của sự sống.

1. Sự toàn cầu hóa của nền văn minh hưởng thụ

Xã hội hiện nay đề cao cá nhân chủ nghĩa, đề cao những quyền lợi riêng tư và lạc thú của cá nhân. Người ta quan niệm tình dục là hưởng thụ nên một số không ít bạn trẻ đã tự do quan hệ trước hôn nhân. Nhiều nhà kinh doanh đã khai thác sự yếu đuối của con người về phương diện này qua những dịch vụ mãi dâm với nhiều hình thức văn hóa không lành mạnh. Cũng có một số gia đình vì áp lực kinh tế và nghề nghiệp muốn hạn chế việc sinh con mà không muốn giữ đức khiết tịnh hôn nhân...

Tất cả những lý do đó đã dẫn đến hệ quả coi thường sự sống nơi nhiều người. Họ không còn xem sự sống là một quà tặng nữa, trái lại họ đã cho mình có quyền làm chủ sự sống, "quyền có con" và tiếp tay xây dựng nếp sống văn hóa "man rợ" là phá hủy sự sống. (Chú thích của Ephata Việt Nam: Hình ảnh khủng khiếp kèm theo ở đây là tài liệu ảnh của giáo sư Ðỗ Tấn Hưng từ Pháp gửi về, chụp tại một tiệm ăn cao cấp của Trung quốc với người đầu bếp đang chuẩn bị "món nhậu" là một thai nhi mới lấy từ bệnh viện phụ sản về. Theo một người gốc Hoa quen biết với chúng tôi, đây là món ăn đại bổ có tên là "Tử Hà Xa").

2. Sự toàn cầu hóa chương trình kế hoạch hóa gia đình

Từ tâm trạng mất ý thức tôn trọng sự sống, cộng thêm với chương trình kế hoạch hóa gia đình của Hội Ðồng Dân Số thế giới ngày một phổ biến khắp nơi, nhiều người đã dùng những hình thức khác nhau để ngừa thai, điều hòa kinh nguyệt, hút điều hòa, phá thai, giảm thai. Vấn đề nạo phá thai của thanh thiếu niên tại Việt Nam đang có khuynh hướng ngày một tăng cao, con số nạo phá thai hàng năm xấp xỉ với tổng số cháu bé được sanh ra trên toàn quốc.

Năm 1997, tổng số sanh trên toàn quốc là 1.138.607 ca, thì con số nạo phá thai là 934.302 ca. Năm 1998, số sanh lấy 1.101.791 ca, thì nạo phá thai là 861.353 ca. Trong đó có 13, 4 % là "bà mẹ - trẻ con" từ 15 - 19 tuổi ( giai đoạn 1885 - 1996, theo báo Sức Khỏe và Ðời Sống số 75 ). Riêng bệnh viện Từ Dũ mỗi năm có trên 40.000 ca nạo phá thai ( 1997: 41.104 ca. 1998: 34.130 ca. Sáu tháng đầu 1999: 29.236 ca ). Con số nhiễm trùng, sót nhau, thủng tử cung do nạo phá thai cũng không nhỏ, năm 1997 là 1.669 ca; 1998: 4.447 ca.

Các nhà xã hội học ước tính số người nạo phá thai trong cả nước hàng năm có thể từ 2 đến 3 triệu người. Liên Hiệp Quốc cũng đã báo động và xếp nước ta vào một trong năm nước có tỷ lệ nạo phá thai lớn nhất thế giới. (Chú thích của Ephata Việt Nam: Hình ảnh dã man kèm theo ở đây là tài liệu ảnh của giáo sư Ðỗ Tấn Hưng từ Pháp gửi về, chụp tại một tiệm ăn cao cấp của Trung quốc với "món ăn" là Bào Thai tiềm thuốc Bắc).

Trên thực tế, lương tâm nhiều người không còn nhạy bén với sự nghiêm trọng của tội ác đó. Thái độ chấp nhận ngừa thai và phá thai trong các não trạng, trong tập quán, và ngay cả trong luật pháp, chính là một dấu chỉ cho thấy có sự khủng hoảng văn hóa truyền thống và suy giảm đạo đức trầm trọng trong xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay.

C. Thái Ðộ Của Các Gia Ðình Công Giáo Việt Nam:

1. Một sự lựa chọn sinh tử

Ðứng trước sự khác biệt giữa văn hoá Ðức Tin Công Giáo và văn hoá quảng đại quần chúng, nhiều Ki-tô hữu đã bị chao đảo vì "trong khi nền văn hoá hiện nay bảo rằng sử dụng các biện pháp ngừa thai nhân tạo là hành động có trách nhiệm, giúp cho hôn nhân hạnh phúc hơn và xã hội tốt đẹp hơn, thì Giáo Hội Công Giáo lại duy trì lập trường cho rằng các biện pháp ngừa thai luôn luôn là sai lầm và phá hoại hôn nhân và xã hội một cách khủng khiếp" (Christopher West, Những Biện Pháp Ngừa Thai).

Vấn đề là họ phải lựa chọn giữa văn hóa sự sống và sự chết như Lời Chúa phán: "Ta cầu Trời chứng dám cho ngươi hôm nay, rằng Ta đã đặt trước ngươi sự sống và sự chết, lời chúc phúc và lời nguyền rủa, vì thế ngươi hãy chọn lấy sự sống." (Ðnl 30, 19). Nhưng có rất nhiều lý do khiến nhiều gia đình đã âm thầm lựa chọn sống theo "văn hóa ngừa thai" vì họ cảm thấy bất lực trước những khó khăn của gia đình họ. Một số khá đông thiếu ý thức về tội: vì không biết hay vì môi trường sống không được sự hướng dẫn của Giáo Hội. Số khác có ý thức đầy đủ nhưng vì nghề nghiệp hoặc phải chiều ý chồng, nếu không, chồng sẽ sa ngã vào tệ nạn xã hội.

2. Một thực trạng mầu đen hay mầu vàng?

Trên thực tế, qua việc trao đổi với chị em phụ nữ, các nhân viên y tế cộng đồng và một số các linh mục thì được biết: hơn 90% phụ nữ Công Giáo Việt Nam trong thời gian có thể sinh nở đã dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo đang được quảng cáo trên thị trường tiêu thụ. Nói chung các gia đình chưa được hướng dẫn đầy đủ về tình yêu và đức khiết tịnh hôn nhân để có thể tự chủ sống tiết dục định kỳ theo hướng dẫn của Giáo Hội (x. FD 2370). Ðây là vấn đề nhậy cảm của lương tâm mà các vị chủ chăn tại nhiều nơi đành phải làm ngơ bỏ ngỏ sau khi đã giải thích cho đương sự lập trường không thay đổi của Giáo Hội về việc tôn trọng sự sống.

Tiếp đến là vấn đề phá thai, trong tư vấn và những nghiên cứu nơi các bạn trẻ cho thấy: số các em gái trong các gia đình Công Giáo tới những nơi giúp phá thai cũng không ít và có khi chính cha mẹ đã gây áp lực cho con phải "giải quyết" vì sợ ảnh hưởng đến danh dự của gia đình. Trong tương lai, thực trạng này sẽ đi tới đâu nếu các gia đình Công Giáo không đủ Ðức Tin để xây dựng nền nhân bản đích thực về tin mừng sự sống cho mình và cho xã hội? Chúng ta có thể liên tưởng tới Lời Chúa: "Khi Con Người ngự đến, liệu còn thấy niềm tin trên địa cầu nữa không?" (Lc 18, 8)

Tuy nhiên, nếu chúng ta đã có dịp lắng nghe những thao thức từ trái tim đến trái tim của nhiều thành phần, giai cấp trong xã hội, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: từ đáy sâu nội tâm, người ta vẫn khao khát được sống, được yêu và muốn trở về, muốn thoát ra khỏi sự trống rỗng vô nghĩa của nền văn hoá sự chết. Vì thế, ánh sáng sự sống hy vọng của ơn cứu độ vẫn đang ló rạng từ cuối chân trời của màn đêm xã hội hôm nay.


II. Những Thách Ðố Ðức Tin Về Văn Hóa Tình Yêu:

A. Hướng Dẫn Của Giáo Hội:

1. Tình yêu chân chính

Ai cũng tôn trọng tình yêu chân chính mang đặc tính nhân linh, nhân vị và tự nguyện. Nó phù hợp với mọi phong tục lành mạnh của mọi thời đại, mọi dân tộc. Tình yêu chân chính vượt xa xu hướng nhục dục thuần túy và hưởng thụ ích kỷ vốn mau tan biến và để lại những hậu quả thảm hại. Lời Chúa mời gọi những người sắp kết hôn hãy nuôi dưỡng thời kỳ đính hôn bằng một tình yêu trong sạch và những người đã thành vợ thành chồng hãy nâng đỡ cuộc sống lứa đôi bằng một tình yêu không chia sẻ.

Tình yêu chân chính sẽ được quí trọng hơn và người ta sẽ nghĩ tưởng về hôn nhân cách lành mạnh hơn, nếu các vợ chồng Ki-tô hữu làm chứng rõ ràng về sự trung thành và hòa hợp trong tình yêu cũng như trong việc ân cần giáo dục con cái, nếu họ góp công chấn hưng văn hóa, tâm lý và xã hội. (x. GS 49)

2. Xây dựng một cộng đồng nhân vị

Ðể khai triển ý Công Ðồng về tình yêu, hôn nhân gia đình, trong Tông Huấn FC số 18, Ðức Gio-an Phao-lô 2 đã viết:

"Gia đình được thiết lập do tình yêu, là một cộng đồng ngôi vị: đôi vợ chồng, là cha mẹ và con cái, họ hàng. Bổn phận đầu tiên của gia đình là trung thành sống thực tại của sự hiệp thông, trong một cố gắng bền bỉ nhằm thăng tiến một cộng đồng đích thực gồm các ngôi vị.

Nguyên lý nội tại, sức mạnh thường xuyên và mục đích cuối cùng của một sức mạnh như thế chính là tình yêu. Cũng như không có tình yêu, gia đình không phải là một cộng đồng các ngôi vị, thì cũng thế, không có tình yêu, gia đình không thể tồn tại, phát triển và tự hoàn thiện xét như một cộng đồng các ngôi vị...

Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất ý nghĩa nếu không nhận lấy mạc khải về tình yêu, nếu không có kinh nghiệm về tình yêu và nếu không nhận lấy kinh nghiệm ấy làm của mình và hăng say dự phần vào đó."

B. Thách Ðố và Cám Dỗ

1. Một thực tại đau lòng trong đời sống văn hóa tại Việt Nam

Trong xã hội Việt Nam ở mọi thời đại đều thấy cảnh: lầu xanh, đa thê, tảo hôn, bán trinh để báo hiếu cha mẹ, loạn luân, đồng tính ái, đặc biệt là tệ nạn mãi dâm ngày nay đang xuất hiện dưới nhiều dạng thức: nhà hàng, cà-phê, Karaoke, xông hơi, xoa bóp, vũ trường, chat group trên Internet,... Ngoài ra nhiều hình thức văn hóa phẩm đen đã khiến nhiều bạn trẻ ngộ nhận cho rằng tình yêu chỉ là sự cuốn hút của cảm xúc, chiếm hữu, tình dục, tiền tài, thương hại. Tình trạng yêu sớm, yêu thử, yêu ào ào theo phong trào, yêu như điên, yêu hết mình xẩy ra nơi học sinh cấp 2, 3, và trong giới sinh viên ngày một tăng. Ðó phải chăng là những nhân tố làm nên một dòng nhạc "vô cảm" và "não tình" mà dư luận quần chúng trên báo chí gần đây đã đề cập đến khá nhiều:

"Tình yêu đến em không mong đợi gì.

Tình yêu đi em không hề nuối tiếc."

2. Tiếp đến là nhiều cặp sống chung không đăng ký kết hôn

không muốn có con để tránh trách nhiệm. Nhiều gia đình được hình thành trong một cam kết hời hợt lợi dụng lẫn nhau. Tất cả những vấn đề đó đã dẫn đến tỉ lệ ly dị ngày một tăng. Theo thống kê của Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Sài-gòn năm 2000, thì mỗi ngày trung bình có 32 vụ ly hôn trên địa bàn của 22 quận huyện. Ngoài ra còn tình trạng bạo hành trong gia đình về mặt thể chất, tinh thần và tình dục cũng rất phổ biến trong nhiều gia đình ở thành phố cũng như ở thôn quê.

Tuy nhiên, đó chỉ là sự yếu đuối của cá nhân và mục đích của một số những tổ chức kinh doanh đặt lợi nhuận trên nhân phẩm con người, còn đa số nhận thức người dân Việt hiện nay vẫn đề cao và thao thức đi tìm một tình yêu chân chính trong hôn nhân gia đình.

C. Thái Ðộ Của Các Gia Ðình Công Giáo Việt Nam:

Hiện nay, gia đình Công Giáo Việt Nam vẫn còn được xã hội quí trọng và đánh giá cao về tính bền vững của hôn nhân. Tại các Giáo Xứ, chương trình mục vụ giáo lý Ðức Tin, sinh hoạt các đoàn thể: thiếu nhi, hiền mẫu, gia trưởng, huynh đoàn Ða-minh, các Lớp Chuẩn Bị Hôn Nhân Gia Ðình, chia sẻ Lời Chúa, những tuần tĩnh tâm, những giờ Kinh Tối đã hỗ trợ cho đời sống nhân bản và Ðức Tin của các gia đình Ki-tô hữu rất nhiều. Tuy nhiên, trong cơn lốc của thời đại, nhiều gia đình đang phải đối diện với những thách đố đa dạng về Ðức Tin trong khi xây dựng tình yêu chân chính, yêu thương, tôn trọng và trung thành với nhau suốt đời.

1. Cam kết hời hợt trong hôn nhân

Một số không ít bạn trẻ lập gia đình khi chưa đủ thời gian để nhận diện một tình yêu chân chính, các bạn vội vàng kết hôn do những nhu cầu hưởng thụ cá nhân, lợi nhuận vật chất và những yếu tố xã hội nhiều hơn tình yêu quảng đại hy sinh cho nhau theo mẫu gương của Chúa Ki-tô và Giáo Hội.

Vì thế, nhiều gia đình không sống trung thực với nhau và tôn trọng những khác biệt của nhau. Nhiều gia đình không thể tha thứ cho nhau để có thể truyền thông với nhau, hòa giải những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong việc tổ chức đời sống gia đình và giáo dục con cái. Vì thế gia đình của họ không hạnh phúc, và từ đó dẫn đến những tệ nạn xã hội.

2. Ngoại tình và ly thân

Như một số gia đình khác trong xã hội, từ những cam kết hời hợt thiếu tình yêu và ý thức trách nhiệm trong hôn nhân, nên một số gia đình Công Giáo cũng đang gặp khó khăn khi một trong hai người ngoại tình. Hoặc nếu người vợ biết người chồng của mình đã tìm đến những dịch vụ mãi dâm, họ thật khó lòng tha thứ vì sợ lây bệnh xã hội. Trường hợp này cũng thường dẫn đến một hình thức ly thân trong các gia đình.


4. Gia Ðình Chiếc Nôi Văn Hóa Ðức Tin (III)

Nữ tu Tê-rê-xa Phạm Thị Oanh, Dòng Ða-minh Tam Hiệp 

Ðứng trước những thách đố Ðức Tin trong xã hội hiện nay, thiết nghĩ đây là một thời điểm mà các gia đình Công Giáo Việt Nam cần nhiều khôn ngoan, hiểu biết để biện phân và chọn lựa thái độ sống nói lên căn tính hôn nhân Ki-tô Giáo: một cộng đồng của sự sống và tình yêu. Vì thế, hơn lúc nào hết, họ phải làm chứng cho xã hội nhận ra rằng: gia đình họ chính là chiếc nôi của tình yêu và sự sống, nhờ đó, họ được hưởng niềm vui, bình an và hạnh phúc đích thực. Khi đó, Ðức Tin của gia đình đã trở thành Văn Hóa Tin Mừng giúp con người và xã hội được nhân bản hóa. Hiện nay con số những gia đình chứng nhân này tuy còn rất khiêm tốn nhưng họ đang nỗ lực hoạt động rất mạnh mẽ để nhân lên những điểm sáng giữa trời đêm, để thắp lên niềm hy vọng về sự sống và tình yêu viên mãn mà con người thời đại hôm nay đang khao khát.

Thực ra, tự bản chất, hôn nhân gia đình Ki-tô Giáo luôn thể hiện văn hóa Ðức Tin, một Ðức Tin được bộc lộ qua thái độ yêu thương, tôn trọng sự sống và trung thành với nhau suốt đời. Chính trong gia đình con người được ngụp lặn trong không khí sự sống và tình yêu, mỗi người chân thành hy sinh cho nhau hơn là chỉ nhận những rung cảm của con tim.

Sự sống và tình yêu đã trở thành xương thịt của con người và hầu như không thể mất đi được, nó chỉ bị lu mờ do tác động của những biến chuyển của nền văn hóa vật chất, hưởng thụ ích kỷ. Do đó, nếu có sự tương quan hợp tác giữa gia đình, Giáo Hội và xã hội, các gia đình Công Giáo có thể gìn giữ được vẻ đẹp Ðức Tin của mình và sẽ lan toả Ánh Sáng Ðức Tin ra môi trường chung quanh như một Tin Mừng Hy Vọng.

Vì thế, để có những gia đình đậm nét Văn Hóa và Ðức Tin, trong phần này chúng tôi xin nhìn lại tầm quan trọng của giáo dục trong gia đình và Chương Trình Mục Vụ tại các Giáo Xứ, Giáo Phận - những "Gia Ðình Ðức Tin" có một ảnh hưởng rất cụ thể và cần thiết cho đời sống Ðức Tin của các Ki-tô hữu trong lãnh vực hôn nhân gia đình.


I. Tầm Quan Trọng Của Việc Giáo Dục Văn Hóa Và Ðức Tin Trong Gia Ðình:

A. Hướng Dẫn Của Giáo Hội:

-  Công Ðồng Vatican 2 trong Tuyên ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo đã viết như sau: "Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu xót sẽ khó lòng bổ khuyết được."

-  Từ nguồn mạch của Công Ðồng, Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình tiếp tục hướng dẫn: "Sứ mạng giáo dục đòi hỏi cha mẹ Ki-tô hữu giới thiệu cho con cái tất cả những gì cần thiết cho nhân cách, từng bước trưởng thành theo quan điểm Ki-tô Giáo và Hội Thánh. Sứ mạng giáo dục của gia đình, nơi mà Tin Mừng được rao truyền và tỏa chiếu, sẽ đạt tới chỗ chính đời sống gia đình trở thành con đường dẫn tới niềm tin, và một cách nào đó, đóng vai trò dẫn vào đời sống Ki-tô hữu và là trường huấn luyện làm môn đệ Chúa Ki-tô.

Trong gia đình, tất cả mọi thành viên đều là người loan báo Tin Mừng và được loan báo Tin Mừng... Một trong những lãnh vực không ai có thể thay thế gia đình chắc chắn đó là việc giáo dục Ðức Tin. Công việc này giúp cho gia đình phát triển như là "Giáo Hội tại gia". Việc giáo dục Ðức Tin và dạy Giáo Lý cho con cái đặt gia đình trong Giáo Hội như một phần tử tích cực loan báo Tin mừng và làm tông đồ đích thật (Huấn Thị Con Cái Là Mùa Xuân Của Gia Ðình và Xã Hội, của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, 1998)

B. Truyền Thống Giáo Dục Văn Hóa Ðức Tin Trong Gia Ðình Việt Nam:

-  Ðối với truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, giáo dục gia đình còn gọi là "gia giáo" có vị trí quan trọng nhất trong gia đình. Ðó là công việc "dạy người nên người". Công việc này khởi đầu ngay từ khi con người được thành hình trong lòng mẹ gọi là "thai giáo". Ðây cũng là một lý do mà người Ðông phương chúng ta tính tuổi đời người trội hơn người Tây phương một năm. Cha ông ta rất trọng gia giáo và quan niệm rằng: Nước có muôn nhà, nhưng mỗi nhà có một nền giáo dục riêng. Nước có một mục đích giáo dục chung nhưng không thừa nhận một khuôn mẫu chung, vì thế mỗi gia đình phải xây dựng gia giáo cho riêng mình, đặc biệt là lễ giáo, đạo hiếu.

-  Trong đời sống hằng ngày, cha mẹ chính là thầy cô giáo đầu tiên và cũng là người mẫu đời thường của con. Vì thế, trong việc giáo dục Ðức Tin, giáo dục giới tính, giáo dục lòng hiếu thảo trong gia đình đều thông qua gương sống của cha mẹ. Tất cả tâm tình, thái độ, lời nói, việc làm tích cực hay tiêu cực của cha mẹ đều ảnh hưởng đến con ngay từ khi còn ở trong thai cho đến khi con chào đời và qua từng chặng đường lứa tuổi của con, tạo nên nếp nghĩ, nếp cảm, nếp sống, nếp nhà, hình thành nên gia đạo, gia cương, lễ nghĩa gia phong của từng gia đình.

-  Nếu con cái được lớn lên trong bầu khí Ðức Tin sống động của gia đình: thường xuyên nghe những lời cầu nguyện của cha mẹ, được cha mẹ dậy cầu nguyện, được nhắc nhở về những ơn lành và sự hiện diện của Chúa, được động viên học hỏi Giáo Lý, tham dự Thánh Lễ, sinh hoạt Hội Ðoàn, được chứng kiến đời sống Ðức Tin cụ thể của cha mẹ qua những chọn lựa sống yêu thương và hy sinh cho nhau mỗi ngày, con cái sẽ nhập tâm lối sống Ðức Tin đó vào cuộc sống của riêng nó trong xã hội.

Nhiều người trưởng thành hiện nay rất xúc động khi nhớ về những kỷ niệm thời thơ ấu của mình được mẹ dạy cúi đầu trước Bàn Thờ, bắt tay dạy làm Dấu Thánh Giá: "Khi con đặt tay trên trán, con hãy nghĩ đến Trời là Cha dựng nên con, khi con đặt tay trên ngực là chỗ trái tim con hãy dục lòng mến Chúa Chúa Giê-su là Thiên Chúa làm người, khi con đặt tay bên trái và bên phải, con nghĩ đến Chúa Thánh Thần xin Ngài ban sức mạnh phù hộ con. Khi đọc Amen, con xếp tay hình Thánh Giá và hôn lấy Ơn cứu độ của con."

Lòng đạo đức bình dân đã tạo nên bầu khí Ðức Tin bao trùm cả một ngày sống của gia đình: đọc kinh sáng "dâng mình cho Chúa", đọc kinh tối "xin ơn chết lành", rồi khi hắt hơi mẹ ân cần xoa và cầu: "Ðức Bà chữa con", khi gặp đau khổ mẹ khuyên "bằng lòng chịu khó cho nên", ngay cả khi chơi thì cũng được răn dạy: "Thiên đàng hỏa ngục hai bên,..." Nhờ đó, đời sống của họ hiện nay không bị ảnh hưởng cơn lốc vật chất, trái lại, họ rất nhiệt thành làm chứng Ðức Tin cho những người chung quanh.

C. Những Khó Khăn Trong Giáo Dục Gia Ðình Việt Nam Hiện Nay:

-  Trong nền văn hóa công nghiệp khi tất cả mọi thành viên trong gia đình đều phải chạy đua với học hành, nghề nghiệp để khẳng định bản thân và ổn định kinh tế, không còn thời giờ dành cho nhau, nên vấn đề giáo dục gia đình đang gặp rất nhiều khó khăn và bế tắc. Mỗi thành viên trong gia đình tự hội nhập và bị lệ thuộc vào những nguồn văn hóa đa dạng trong môi trường sống của mình: học đường, văn hóa phẩm, ti-vi, phim ảnh, internet... Bên cạnh những nguồn văn hóa lành mạnh, cũng có những văn hóa hưởng thụ, văn hoá "tình yêu tự do" hay "tự do tính dục"... Vì thế, nếu cha mẹ không có những chọn lựa ưu tiên cho vấn đề giáo dục con cái thì cái giá phải trả sẽ như thế nào?

-  Ðặc biệt là vấn đề giáo dục giới tính, trong khi con cái mình đang tiếp cận với nhiều hình thức "giáo dục sức khỏe sinh sản", "giáo dục ngừa thai an toàn", cha mẹ sẽ dạy con cái như thế nào để chúng không cho rằng "phương pháp tiết dục" hay "Ðức Khiết Tịnh Hôn Nhân" của Giáo Hội thật "lạc điệu" với văn hóa quần chúng? Cha mẹ có ý thức đảm nhận bổn phận giáo dục giới tính và giúp con cái nhận từ chính mình những nguyên tắc cơ bản và những khuôn mẫu sống thích hợp thông qua những tương quan tin tưởng và chân thật không? Cha mẹ có linh động, tế nhị và khôn ngoan để giải thích cho con từng bước hiểu về tâm sinh lý của chúng để chúng không phải tự khám phá nơi những văn hóa phẩm sex?

Ðồng thời cha mẹ có giúp cho con cái biết phân định những hình thức giáo dục giới tính không thích hợp với sự hướng dẫn của Giáo Hội không? Nếu chính cha mẹ cũng đang hòa nhập vào lối sống "tự nô lệ hóa" của nền "văn hóa ngừa thai" ấy thì còn có thể giáo dục Ðức Tin cho con cái được không?

-  Một số không ít bạn trẻ do không được giáo dục tối thiểu về nền Văn Hóa Ðức Tin tôn trọng tình yêu và sự sống nên đã gặp nhiều khó khăn để nhận diện và chọn lựa một tình yêu chân chính, xây dựng một gia đình yêu thương, tôn trọng và trung thành với nhau suốt đời. Vấn đề là mỗi ngày một nhiều hơn những gia đình không tự chu toàn được bổn phận giáo dục "đạo đức tính dục Công Giáo". Cuộc sống của họ bị tác động của nền văn hóa xã hội hơn được ảnh hưởng những lời giáo huấn của Giáo Hội.

Vậy ai sẽ là người hỗ trợ cho các gia đình nếu không phải là những "Gia Ðình Ðức Tin" đã ý thức được sứ mạng loan báo Tin Mừng Sự Sống và Tình Yêu của mình?


II. Sự Hỗ Trợ Của Gia Ðình Giáo Xứ Và Giáo Phận:

A. Hợp Tác Xây Dựng Một Nền Nhân Bản Ðích Thực Về Gia Ðình:

Theo Linh Mục Giáo Sử Học Ðỗ Quang Chính: "Nếu văn hóa Tin Mừng chưa thấm nhập vào văn hóa gia đình Việt Nam, thì phải chăng Tin Mừng mới tiếp nhận ở cái vỏ hay cái ngọn, chứ chưa chui vào trong, chưa tiếp cận với cái gốc của xã hội Việt Nam. Quả thật, nhờ việc Giáo Hội đã hòa nhập được phần nào vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, nên trải qua bao thăng trầm, Tin Mừng ở xứ này vẫn đứng vững và sống động."

Vì thế, sự hợp tác để "xây dựng một nền nhân bản đích thực về gia đình" phải là một trong những bổn phận mục vụ ưu tiên cấp bách của các Giám Mục, các Linh Mục, các Nam Nữ Tu Sĩ, các Giáo Dân chuyên môn trong các Giáo Xứ Và Giáo Phận (x. FC 73 - 76).

Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia đình đã ghi nhận như sau: "Công tác mục vụ nầy triển khai rất nhanh. Như Ðức Gio-an Phao-lô 2 đã nói với Ðại Hội chúng tôi. "sau khi công bố Tông Huấn FC, thì sự quan tâm trong Giáo Hội đối với các gia đình được củng cố hẳn lên; nhiều giáo phận và các giáo xứ đặt mục vụ gia đình lên mục tiêu hàng đầu" (x. Thông Ðiệp ngày 21.11.2001 của Ðức Thánh Cha).

B. Ðường Hướng Cụ Thể Của Giáo Hội Việt Nam:

Trong thư Mục Vụ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam 2002, các vị Chủ Chăn đã chọn hôn nhân gia đình như mục tiêu ưu tiên trong năm 2003 và đề nghị những việc làm cụ thể như:

- Cấp Giáo Phận nên có Văn Phòng Mục Vụ về Hôn Nhân và Gia Ðình.

- Cấp Giáo Xứ nên tổ chức lớp học hỏi về hôn nhân gia đình dựa trên Tông Huấn FC, thành lập bộ phận chuyên trách về gia đình trong Ban Mục Vụ Giáo Xứ với sự cộng tác của các Hội Ðoàn, và tổ chức những dịp lễ kỷ niệm thành hôn, những dịp giao lưu giữa các gia đình...

- Cần soạn thảo một chương trình Giáo Lý Hôn Nhân, đào tạo một đội ngũ giáo viên vững vàng, kêu gọi sự hợp tác của Giáo Dân có khả năng chuyên môn và kinh nghiệm...

C. Một Vài Ðề Nghị Giáo Dục Văn Hóa Sự Sống Và Tình Yêu:

1. Giáo dục sinh sản có trách nhiệm

Theo mục đích của đề tài, chúng tôi xin gợi ý về nội dung giáo dục văn hóa sự sống và tình yêu trong chương trình Giáo Lý Hôn Nhân, cũng như những hình thức sinh hoạt Mục Vụ khác: các lớp Giáo Lý Ðức Tin cơ bản, Hội Ðoàn, nhóm Chia Sẻ Lời Chúa, những câu lạc bộ: tình bạn, tình yêu, gia đình hạnh phúc, điểm phim, điểm sách,... Một trong những nội dung đó là vấn đề: "Sinh sản có trách nhiệm" vì nó liên quan đến Ðức Tin một cách trực tiếp và có ảnh hưởng sâu sắc đến tình yêu chung thủy và hạnh phúc gia đình.

Dựa vào những bản văn Kinh Thánh, Hiến Chế GS, Tông Huấn FC, Sách Giáo Lý Công Giáo FD, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi mở cho các bạn trẻ, và các gia đình trẻ trao đổi, thắc mắc về vấn đề này một cách tự nhiên theo những suy nghĩ, hiểu biết và quan điểm mà họ đang có. Nhờ đó chúng ta có thể chia sẻ cho họ thông điệp:

"Ngừa thai đã biến sự phối hợp tính dục từ một nhiệm tích thánh, thành ra một sự phạm thánh" và "Các biện pháp ngừa thai đã không được phát minh ra nhằm mục đích tránh có thai. Ðã có cách thức thực hiện hiệu quả: đó là phương pháp tiết dục... Các biện pháp ngừa thai đã được phát minh ra là để làm thỏa mãn bản năng tính dục. Như người ta thường nói: nhu cầu là mẹ của phát minh. Cái nhu cầu đẻ ra các biện pháp ngừa thai ấy chính là "nhu cầu đòi hỏi tính dục của chúng ta." (Christopher West, Good News about sex and marriage - giải đáp thắc mắc dựa trên giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo).

Tiếp đến chúng ta cũng nên mời những chuyên gia đến hướng dẫn về phương pháp "tự quan sát" theo thời gian không thể thụ thai của phụ nữ để các gia đình có thể sống an bình và hạnh phúc thực sự khi giữ đức khiết tịnh trong hôn nhân.

Thiết nghĩ, "sinh sản có trách nhiệm" theo hướng dẫn của Giáo Hội là vấn đề giáo dục giới tính rất quan trọng cho người trưởng thành. Ðây là vấn đề tế nhị nhưng lại rất bức xúc trong các gia đình. Nếu chúng ta đọc báo Công Giáo và Dân Tộc số 1380, trang 21 về vấn đề ngừa thai thì 90% những người được hỏi (27 / 30) cho rằng đó là vấn đề thuộc lương tâm cá nhân. Nhưng đâu là lương tâm chân chính vì phần lớn những người sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo cũng cho rằng họ "muốn sinh sản có trách nhiệm".

Như thế là cùng dùng một cụm từ nhưng hai thái độ chọn khác nhau: tin Thiên Chúa hay tôn thờ mình? Vì thế, các Giáo Lý Viên trong những lớp Giáo Lý Hôn Nhân Gia Ðình cần nắm vững và giải thích vấn đề đó một cách rõ ràng dưới ánh sáng Ðức Tin và trong tinh thần cầu nguyện, sống Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Vì nếu không giải quyết được vấn đề then chốt này thì không thể có một tình yêu chân chính và chung thủy trong các gia đình.

Trái lại khi niềm tin được củng cố, các gia đình Công Giáo sẽ là những chứng nhân rất hiệu quả cho nền văn hóa sự sống và tình yêu của Thiên Chúa giữa trào lưu văn hóa ngừa thai đang tràn ngập trong xã hội. Hội Ðồng Giáo Hoàng về gia đình đã ghi nhận: "Hoạt động của mục vụ gia đình qua các chứng tá cho thấy rất nhiều gia đình Ki-tô hữu được trở nên sinh động nhờ tình yêu và chân lý về gia đình. Họ hăng hái làm chứng cho Tin Mừng như Ðức Thánh Cha nói: Trong sự khiêm tốn và đơn sơ, chứng tá đời sống gia đình có thể là phương tiện hàng đầu cho công tác Phúc Âm hóa "

2. Giáo dục Ðức Tin và nhân bản

Thực tế, nhiều vị Mục Tử đã than phiền rằng: thật không dễ để có thể giúp giới thanh niên và trưởng thành sống Ðức Tin: yêu mến, tôn trọng văn hóa sự sống và tình yêu theo ý Thiên Chúa và Giáo Hội. Thiết nghĩ đây là một lý do mời gọi chúng ta suy nghĩ lại việc giảng dậy Giáo Lý, nội dung chương trình Giáo Lý và lối sống đạo của các Ki-tô hữu hiện nay.

Nếu người tín hữu: các em thiếu nhi, các bạn trẻ, các gia đình chưa nhận ra hạnh phúc được làm con Thiên Chúa, được sống dưới sự hiện diện của Ngài, và chưa cảm nghiệm được tình yêu cứu độ của Ðức Ki-tô thì sứ vụ của các Giáo Lý Viên và các vị Mục Tử thực sự chưa hoàn thành. Quả thực chỉ có Ðức Tin mới có thể giúp người ta từ bỏ chính mình để chọn lựa trở nên môn đệ của Ðức Ki-tô (x. Lc 14, 33).

Chỉ có Ðức Tin mới giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ để sống trong tinh thần tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Vì thế cần đẩy mạnh chương trình Giáo Lý Ðức Tin các cấp: 1, 2, 3, 4, 5..., giúp mọi tín hữu ý thức tham gia vào sứ mạng cứu độ của Chúa Ki-tô, đồng thời cần thêm về giáo dục nhân bản để mọi người biết sống vui và thể hiện Ðức Tin một cách trưởng thành.

3. Một vài đề nghị cụ thể:

1. Chương trình Giáo Lý các cấp cần được soạn theo sát sách Giáo Lý Công Giáo (FD). Ðây là một kho tàng Ðức Tin mà Giáo Hội đã cập nhật hóa sau Công Ðồng Vatican ba mươi năm. Vì thế, nó phải là cuốn sách cẩm nang của tất cả các Giáo Lý Viên vì những vấn đề về văn hóa Ðức Tin sự sống và tình yêu liên quan đến gia đình đều tìm thấy ở nguồn phong phú đó.

2. Nên có một chương trình Giáo Lý hôn nhân thống nhất. Hiện nay có một số nhóm đã và đang soạn nội dung chương trình học theo Tông Huấn FC và Sách Giáo Lý Công Giáo FD. Ðề nghị Ban Mục vụ về hôn nhân gia đình nên tham khảo lấy ý kiến và soạn một chương trình thống nhất trong từng giáo phận và có thể trong toàn Giáo Hội Việt Nam. Ðây là công việc rất cần thiết vì hai nguồn tài liệu trên sẽ giúp người tín hữu thể hiện Ðức Tin của mình trong đời sống phái tính (FD 2332), đức khiết tịnh (FD 2337) và tình yêu vợ chồng (FD 2361) một cách hiệu quả.

3. Nội dung giáo dục nhân bản có thể xen kẽ vào các tiết học Giáo Lý hoặc tổ chức riêng trong những buổi nghe nói chuyện chuyên đề, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của từng giới để giúp các bậc cha mẹ ý thức giáo dục giới tính cho con. Ngoài ra, một nét đẹp văn hóa khác nên khuyến khích và duy trì đó là bữa ăn tối và giờ kinh tối trong gia đình, nó mang tính giáo dục Ðức Tin và nhân bản rất cụ thể và hiệu quả cao.

4. Khuyến khích sự hợp tác của Giáo Dân. Theo hướng dẫn của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, và đường hướng cụ thể của Hội Ðồng Giáo Mục Việt Nam, thiết nghĩ Văn Phòng Mục Vụ về Hôn Nhân Gia Ðình, cấp Giáo Phận và Giáo Xứ nên có sự hợp tác rất chặt chẽ của mọi thành phần Dân Chúa. Nên phát hiện tiềm năng của người Giáo Dân, trân trọng, mời gọi sự hợp tác của họ không chỉ trong chuyên môn nhưng cả trong vai trò lãnh đạo để họ ý thức đẩy mạnh sứ vụ rao giảng trong lãnh vực riêng của họ nơi đời sống gia đình.

Phần Kết Luận

Nhìn lại 40 năm dấu ấn Công Ðồng Vatican 2, Giáo Hội mở ra với thế giới, hội nhập vào các nền văn hóa để nhân bản hóa con người theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, trở nên một người con trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa. Ðó là điều làm cho cho con người vượt trên mọi nền văn hóa, trở nên thước đo của văn hóa và không bị giam hãm trong bất cứ một nền văn hóa nào.

Thiết nghĩ, hai nét Văn Hóa Sự Sống và Tình Yêu mà Công Ðồng đề cập đến trong hôn nhân gia đình là chính tiếng nói của Chúa Thánh Thần đã tác động để canh tân các nền văn hóa hiện đại tôn thờ lợi nhuận vật chất và bản năng hưởng thụ. Do đó hướng Mục Vụ Văn Hóa của Giáo Hội là tìm ra được những điểm chung trong tâm thức con người hướng về nguồn sống và tình yêu, đồng thời thức tỉnh con người ra khỏi cơn cám dỗ lấy mình làm trung tâm, đối lập với Thiên Chúa. Nhờ đó, các gia đình sẽ có được hạnh phúc đích thực theo ý muốn của Thiên Chúa.

Ðức Giê-su Ki-tô luôn chúc lành cho các gia đình, vì từ nguồn cội sự sống và tình yêu trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, Ngài chính là Lời tác sinh sự sống cho toàn thể vũ trụ. Trong mầu nhiệm nhập thể, Ngài cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình để hoàn tất Ơn Cứu Ðộ ban lại sự sống cho con người. Ðặc biệt hơn là Ngài đã yêu nhân loại đến nỗi nhận Giáo Hội là hiền thê của Ngài để sinh ra các tín hữu và sai đi loan báo về tin mừng sự sống và tình yêu.

Ðứng trước nền Văn Hóa Tự Do Tính Dục đang phá đổ tình yêu và hạnh phúc nơi các gia đình, Chúa Giê-su tiếp tục kết hợp với từng Giáo Phận, Giáo Xứ, làm thành những Gia Ðình Ðức Tin và sai các Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ, các Ki-tô hữu thiện chí tới phục vụ các gia đình và mời gọi các thành viên trong gia đình tham gia vào Chương Trình Cứu Ðộ của Thiên Chúa.

"Hãy cứu lấy gia đình", giúp các gia đình giữ được vẻ đẹp bản chất của mình. Vì chính sự sống và tình yêu thiêng liêng cao quý của gia đình có sức chữa lành mọi vết thương, đem lại sự bình an và niềm vui đích thực cho mỗi người. (Kinh nghiệm tư vấn những trường hợp thất tình, tuyệt vọng).

Ngoài ra hình ảnh gia đình trong tinh thần Kinh Lạy Cha chính là nguồn động lực hỗ trợ sứ vụ truyền giáo của chúng ta và cũng là cội nguồn mọi khát vọng tâm linh của con người hướng về (Kinh nghiệm truyền giáo cho lương dân và tiếp xúc với các bệnh nhân ung thư đang hấp hối).

Tin tưởng nơi Ðức Giê-su Ki-tô, chúng ta cùng hợp tác giúp các gia đình thắp sáng niềm tin và hy vọng để làm chứng cho sự hiện diện yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa đang ở giữa con người.


4. Gia Ðình Chiếc Nôi Văn Hóa Ðức Tin (III)

Nữ tu Tê-rê-xa Phạm Thị Oanh, Dòng Ða-minh Tam Hiệp 

Ðứng trước những thách đố Ðức Tin trong xã hội hiện nay, thiết nghĩ đây là một thời điểm mà các gia đình Công Giáo Việt Nam cần nhiều khôn ngoan, hiểu biết để biện phân và chọn lựa thái độ sống nói lên căn tính hôn nhân Ki-tô Giáo: một cộng đồng của sự sống và tình yêu. Vì thế, hơn lúc nào hết, họ phải làm chứng cho xã hội nhận ra rằng: gia đình họ chính là chiếc nôi của tình yêu và sự sống, nhờ đó, họ được hưởng niềm vui, bình an và hạnh phúc đích thực. Khi đó, Ðức Tin của gia đình đã trở thành Văn Hóa Tin Mừng giúp con người và xã hội được nhân bản hóa. Hiện nay con số những gia đình chứng nhân này tuy còn rất khiêm tốn nhưng họ đang nỗ lực hoạt động rất mạnh mẽ để nhân lên những điểm sáng giữa trời đêm, để thắp lên niềm hy vọng về sự sống và tình yêu viên mãn mà con người thời đại hôm nay đang khao khát.

Thực ra, tự bản chất, hôn nhân gia đình Ki-tô Giáo luôn thể hiện văn hóa Ðức Tin, một Ðức Tin được bộc lộ qua thái độ yêu thương, tôn trọng sự sống và trung thành với nhau suốt đời. Chính trong gia đình con người được ngụp lặn trong không khí sự sống và tình yêu, mỗi người chân thành hy sinh cho nhau hơn là chỉ nhận những rung cảm của con tim.

Sự sống và tình yêu đã trở thành xương thịt của con người và hầu như không thể mất đi được, nó chỉ bị lu mờ do tác động của những biến chuyển của nền văn hóa vật chất, hưởng thụ ích kỷ. Do đó, nếu có sự tương quan hợp tác giữa gia đình, Giáo Hội và xã hội, các gia đình Công Giáo có thể gìn giữ được vẻ đẹp Ðức Tin của mình và sẽ lan toả Ánh Sáng Ðức Tin ra môi trường chung quanh như một Tin Mừng Hy Vọng.

Vì thế, để có những gia đình đậm nét Văn Hóa và Ðức Tin, trong phần này chúng tôi xin nhìn lại tầm quan trọng của giáo dục trong gia đình và Chương Trình Mục Vụ tại các Giáo Xứ, Giáo Phận - những "Gia Ðình Ðức Tin" có một ảnh hưởng rất cụ thể và cần thiết cho đời sống Ðức Tin của các Ki-tô hữu trong lãnh vực hôn nhân gia đình.


I. Tầm Quan Trọng Của Việc Giáo Dục Văn Hóa Và Ðức Tin Trong Gia Ðình:

A. Hướng Dẫn Của Giáo Hội:

-  Công Ðồng Vatican 2 trong Tuyên ngôn về Giáo Dục Ki-tô Giáo đã viết như sau: "Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu xót sẽ khó lòng bổ khuyết được."

-  Từ nguồn mạch của Công Ðồng, Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình tiếp tục hướng dẫn: "Sứ mạng giáo dục đòi hỏi cha mẹ Ki-tô hữu giới thiệu cho con cái tất cả những gì cần thiết cho nhân cách, từng bước trưởng thành theo quan điểm Ki-tô Giáo và Hội Thánh. Sứ mạng giáo dục của gia đình, nơi mà Tin Mừng được rao truyền và tỏa chiếu, sẽ đạt tới chỗ chính đời sống gia đình trở thành con đường dẫn tới niềm tin, và một cách nào đó, đóng vai trò dẫn vào đời sống Ki-tô hữu và là trường huấn luyện làm môn đệ Chúa Ki-tô.

Trong gia đình, tất cả mọi thành viên đều là người loan báo Tin Mừng và được loan báo Tin Mừng... Một trong những lãnh vực không ai có thể thay thế gia đình chắc chắn đó là việc giáo dục Ðức Tin. Công việc này giúp cho gia đình phát triển như là "Giáo Hội tại gia". Việc giáo dục Ðức Tin và dạy Giáo Lý cho con cái đặt gia đình trong Giáo Hội như một phần tử tích cực loan báo Tin mừng và làm tông đồ đích thật (Huấn Thị Con Cái Là Mùa Xuân Của Gia Ðình và Xã Hội, của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, 1998)

B. Truyền Thống Giáo Dục Văn Hóa Ðức Tin Trong Gia Ðình Việt Nam:

-  Ðối với truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, giáo dục gia đình còn gọi là "gia giáo" có vị trí quan trọng nhất trong gia đình. Ðó là công việc "dạy người nên người". Công việc này khởi đầu ngay từ khi con người được thành hình trong lòng mẹ gọi là "thai giáo". Ðây cũng là một lý do mà người Ðông phương chúng ta tính tuổi đời người trội hơn người Tây phương một năm. Cha ông ta rất trọng gia giáo và quan niệm rằng: Nước có muôn nhà, nhưng mỗi nhà có một nền giáo dục riêng. Nước có một mục đích giáo dục chung nhưng không thừa nhận một khuôn mẫu chung, vì thế mỗi gia đình phải xây dựng gia giáo cho riêng mình, đặc biệt là lễ giáo, đạo hiếu.

-  Trong đời sống hằng ngày, cha mẹ chính là thầy cô giáo đầu tiên và cũng là người mẫu đời thường của con. Vì thế, trong việc giáo dục Ðức Tin, giáo dục giới tính, giáo dục lòng hiếu thảo trong gia đình đều thông qua gương sống của cha mẹ. Tất cả tâm tình, thái độ, lời nói, việc làm tích cực hay tiêu cực của cha mẹ đều ảnh hưởng đến con ngay từ khi còn ở trong thai cho đến khi con chào đời và qua từng chặng đường lứa tuổi của con, tạo nên nếp nghĩ, nếp cảm, nếp sống, nếp nhà, hình thành nên gia đạo, gia cương, lễ nghĩa gia phong của từng gia đình.

-  Nếu con cái được lớn lên trong bầu khí Ðức Tin sống động của gia đình: thường xuyên nghe những lời cầu nguyện của cha mẹ, được cha mẹ dậy cầu nguyện, được nhắc nhở về những ơn lành và sự hiện diện của Chúa, được động viên học hỏi Giáo Lý, tham dự Thánh Lễ, sinh hoạt Hội Ðoàn, được chứng kiến đời sống Ðức Tin cụ thể của cha mẹ qua những chọn lựa sống yêu thương và hy sinh cho nhau mỗi ngày, con cái sẽ nhập tâm lối sống Ðức Tin đó vào cuộc sống của riêng nó trong xã hội.

Nhiều người trưởng thành hiện nay rất xúc động khi nhớ về những kỷ niệm thời thơ ấu của mình được mẹ dạy cúi đầu trước Bàn Thờ, bắt tay dạy làm Dấu Thánh Giá: "Khi con đặt tay trên trán, con hãy nghĩ đến Trời là Cha dựng nên con, khi con đặt tay trên ngực là chỗ trái tim con hãy dục lòng mến Chúa Chúa Giê-su là Thiên Chúa làm người, khi con đặt tay bên trái và bên phải, con nghĩ đến Chúa Thánh Thần xin Ngài ban sức mạnh phù hộ con. Khi đọc Amen, con xếp tay hình Thánh Giá và hôn lấy Ơn cứu độ của con."

Lòng đạo đức bình dân đã tạo nên bầu khí Ðức Tin bao trùm cả một ngày sống của gia đình: đọc kinh sáng "dâng mình cho Chúa", đọc kinh tối "xin ơn chết lành", rồi khi hắt hơi mẹ ân cần xoa và cầu: "Ðức Bà chữa con", khi gặp đau khổ mẹ khuyên "bằng lòng chịu khó cho nên", ngay cả khi chơi thì cũng được răn dạy: "Thiên đàng hỏa ngục hai bên,..." Nhờ đó, đời sống của họ hiện nay không bị ảnh hưởng cơn lốc vật chất, trái lại, họ rất nhiệt thành làm chứng Ðức Tin cho những người chung quanh.

C. Những Khó Khăn Trong Giáo Dục Gia Ðình Việt Nam Hiện Nay:

-  Trong nền văn hóa công nghiệp khi tất cả mọi thành viên trong gia đình đều phải chạy đua với học hành, nghề nghiệp để khẳng định bản thân và ổn định kinh tế, không còn thời giờ dành cho nhau, nên vấn đề giáo dục gia đình đang gặp rất nhiều khó khăn và bế tắc. Mỗi thành viên trong gia đình tự hội nhập và bị lệ thuộc vào những nguồn văn hóa đa dạng trong môi trường sống của mình: học đường, văn hóa phẩm, ti-vi, phim ảnh, internet... Bên cạnh những nguồn văn hóa lành mạnh, cũng có những văn hóa hưởng thụ, văn hoá "tình yêu tự do" hay "tự do tính dục"... Vì thế, nếu cha mẹ không có những chọn lựa ưu tiên cho vấn đề giáo dục con cái thì cái giá phải trả sẽ như thế nào?

-  Ðặc biệt là vấn đề giáo dục giới tính, trong khi con cái mình đang tiếp cận với nhiều hình thức "giáo dục sức khỏe sinh sản", "giáo dục ngừa thai an toàn", cha mẹ sẽ dạy con cái như thế nào để chúng không cho rằng "phương pháp tiết dục" hay "Ðức Khiết Tịnh Hôn Nhân" của Giáo Hội thật "lạc điệu" với văn hóa quần chúng? Cha mẹ có ý thức đảm nhận bổn phận giáo dục giới tính và giúp con cái nhận từ chính mình những nguyên tắc cơ bản và những khuôn mẫu sống thích hợp thông qua những tương quan tin tưởng và chân thật không? Cha mẹ có linh động, tế nhị và khôn ngoan để giải thích cho con từng bước hiểu về tâm sinh lý của chúng để chúng không phải tự khám phá nơi những văn hóa phẩm sex?

Ðồng thời cha mẹ có giúp cho con cái biết phân định những hình thức giáo dục giới tính không thích hợp với sự hướng dẫn của Giáo Hội không? Nếu chính cha mẹ cũng đang hòa nhập vào lối sống "tự nô lệ hóa" của nền "văn hóa ngừa thai" ấy thì còn có thể giáo dục Ðức Tin cho con cái được không?

-  Một số không ít bạn trẻ do không được giáo dục tối thiểu về nền Văn Hóa Ðức Tin tôn trọng tình yêu và sự sống nên đã gặp nhiều khó khăn để nhận diện và chọn lựa một tình yêu chân chính, xây dựng một gia đình yêu thương, tôn trọng và trung thành với nhau suốt đời. Vấn đề là mỗi ngày một nhiều hơn những gia đình không tự chu toàn được bổn phận giáo dục "đạo đức tính dục Công Giáo". Cuộc sống của họ bị tác động của nền văn hóa xã hội hơn được ảnh hưởng những lời giáo huấn của Giáo Hội.

Vậy ai sẽ là người hỗ trợ cho các gia đình nếu không phải là những "Gia Ðình Ðức Tin" đã ý thức được sứ mạng loan báo Tin Mừng Sự Sống và Tình Yêu của mình?


II. Sự Hỗ Trợ Của Gia Ðình Giáo Xứ Và Giáo Phận:

A. Hợp Tác Xây Dựng Một Nền Nhân Bản Ðích Thực Về Gia Ðình:

Theo Linh Mục Giáo Sử Học Ðỗ Quang Chính: "Nếu văn hóa Tin Mừng chưa thấm nhập vào văn hóa gia đình Việt Nam, thì phải chăng Tin Mừng mới tiếp nhận ở cái vỏ hay cái ngọn, chứ chưa chui vào trong, chưa tiếp cận với cái gốc của xã hội Việt Nam. Quả thật, nhờ việc Giáo Hội đã hòa nhập được phần nào vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, nên trải qua bao thăng trầm, Tin Mừng ở xứ này vẫn đứng vững và sống động."

Vì thế, sự hợp tác để "xây dựng một nền nhân bản đích thực về gia đình" phải là một trong những bổn phận mục vụ ưu tiên cấp bách của các Giám Mục, các Linh Mục, các Nam Nữ Tu Sĩ, các Giáo Dân chuyên môn trong các Giáo Xứ Và Giáo Phận (x. FC 73 - 76).

Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia đình đã ghi nhận như sau: "Công tác mục vụ nầy triển khai rất nhanh. Như Ðức Gio-an Phao-lô 2 đã nói với Ðại Hội chúng tôi. "sau khi công bố Tông Huấn FC, thì sự quan tâm trong Giáo Hội đối với các gia đình được củng cố hẳn lên; nhiều giáo phận và các giáo xứ đặt mục vụ gia đình lên mục tiêu hàng đầu" (x. Thông Ðiệp ngày 21.11.2001 của Ðức Thánh Cha).

B. Ðường Hướng Cụ Thể Của Giáo Hội Việt Nam:

Trong thư Mục Vụ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam 2002, các vị Chủ Chăn đã chọn hôn nhân gia đình như mục tiêu ưu tiên trong năm 2003 và đề nghị những việc làm cụ thể như:

- Cấp Giáo Phận nên có Văn Phòng Mục Vụ về Hôn Nhân và Gia Ðình.

- Cấp Giáo Xứ nên tổ chức lớp học hỏi về hôn nhân gia đình dựa trên Tông Huấn FC, thành lập bộ phận chuyên trách về gia đình trong Ban Mục Vụ Giáo Xứ với sự cộng tác của các Hội Ðoàn, và tổ chức những dịp lễ kỷ niệm thành hôn, những dịp giao lưu giữa các gia đình...

- Cần soạn thảo một chương trình Giáo Lý Hôn Nhân, đào tạo một đội ngũ giáo viên vững vàng, kêu gọi sự hợp tác của Giáo Dân có khả năng chuyên môn và kinh nghiệm...

C. Một Vài Ðề Nghị Giáo Dục Văn Hóa Sự Sống Và Tình Yêu:

1. Giáo dục sinh sản có trách nhiệm

Theo mục đích của đề tài, chúng tôi xin gợi ý về nội dung giáo dục văn hóa sự sống và tình yêu trong chương trình Giáo Lý Hôn Nhân, cũng như những hình thức sinh hoạt Mục Vụ khác: các lớp Giáo Lý Ðức Tin cơ bản, Hội Ðoàn, nhóm Chia Sẻ Lời Chúa, những câu lạc bộ: tình bạn, tình yêu, gia đình hạnh phúc, điểm phim, điểm sách,... Một trong những nội dung đó là vấn đề: "Sinh sản có trách nhiệm" vì nó liên quan đến Ðức Tin một cách trực tiếp và có ảnh hưởng sâu sắc đến tình yêu chung thủy và hạnh phúc gia đình.

Dựa vào những bản văn Kinh Thánh, Hiến Chế GS, Tông Huấn FC, Sách Giáo Lý Công Giáo FD, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi mở cho các bạn trẻ, và các gia đình trẻ trao đổi, thắc mắc về vấn đề này một cách tự nhiên theo những suy nghĩ, hiểu biết và quan điểm mà họ đang có. Nhờ đó chúng ta có thể chia sẻ cho họ thông điệp:

"Ngừa thai đã biến sự phối hợp tính dục từ một nhiệm tích thánh, thành ra một sự phạm thánh" và "Các biện pháp ngừa thai đã không được phát minh ra nhằm mục đích tránh có thai. Ðã có cách thức thực hiện hiệu quả: đó là phương pháp tiết dục... Các biện pháp ngừa thai đã được phát minh ra là để làm thỏa mãn bản năng tính dục. Như người ta thường nói: nhu cầu là mẹ của phát minh. Cái nhu cầu đẻ ra các biện pháp ngừa thai ấy chính là "nhu cầu đòi hỏi tính dục của chúng ta." (Christopher West, Good News about sex and marriage - giải đáp thắc mắc dựa trên giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo).

Tiếp đến chúng ta cũng nên mời những chuyên gia đến hướng dẫn về phương pháp "tự quan sát" theo thời gian không thể thụ thai của phụ nữ để các gia đình có thể sống an bình và hạnh phúc thực sự khi giữ đức khiết tịnh trong hôn nhân.

Thiết nghĩ, "sinh sản có trách nhiệm" theo hướng dẫn của Giáo Hội là vấn đề giáo dục giới tính rất quan trọng cho người trưởng thành. Ðây là vấn đề tế nhị nhưng lại rất bức xúc trong các gia đình. Nếu chúng ta đọc báo Công Giáo và Dân Tộc số 1380, trang 21 về vấn đề ngừa thai thì 90% những người được hỏi (27 / 30) cho rằng đó là vấn đề thuộc lương tâm cá nhân. Nhưng đâu là lương tâm chân chính vì phần lớn những người sử dụng phương pháp ngừa thai nhân tạo cũng cho rằng họ "muốn sinh sản có trách nhiệm".

Như thế là cùng dùng một cụm từ nhưng hai thái độ chọn khác nhau: tin Thiên Chúa hay tôn thờ mình? Vì thế, các Giáo Lý Viên trong những lớp Giáo Lý Hôn Nhân Gia Ðình cần nắm vững và giải thích vấn đề đó một cách rõ ràng dưới ánh sáng Ðức Tin và trong tinh thần cầu nguyện, sống Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Vì nếu không giải quyết được vấn đề then chốt này thì không thể có một tình yêu chân chính và chung thủy trong các gia đình.

Trái lại khi niềm tin được củng cố, các gia đình Công Giáo sẽ là những chứng nhân rất hiệu quả cho nền văn hóa sự sống và tình yêu của Thiên Chúa giữa trào lưu văn hóa ngừa thai đang tràn ngập trong xã hội. Hội Ðồng Giáo Hoàng về gia đình đã ghi nhận: "Hoạt động của mục vụ gia đình qua các chứng tá cho thấy rất nhiều gia đình Ki-tô hữu được trở nên sinh động nhờ tình yêu và chân lý về gia đình. Họ hăng hái làm chứng cho Tin Mừng như Ðức Thánh Cha nói: Trong sự khiêm tốn và đơn sơ, chứng tá đời sống gia đình có thể là phương tiện hàng đầu cho công tác Phúc Âm hóa "

2. Giáo dục Ðức Tin và nhân bản

Thực tế, nhiều vị Mục Tử đã than phiền rằng: thật không dễ để có thể giúp giới thanh niên và trưởng thành sống Ðức Tin: yêu mến, tôn trọng văn hóa sự sống và tình yêu theo ý Thiên Chúa và Giáo Hội. Thiết nghĩ đây là một lý do mời gọi chúng ta suy nghĩ lại việc giảng dậy Giáo Lý, nội dung chương trình Giáo Lý và lối sống đạo của các Ki-tô hữu hiện nay.

Nếu người tín hữu: các em thiếu nhi, các bạn trẻ, các gia đình chưa nhận ra hạnh phúc được làm con Thiên Chúa, được sống dưới sự hiện diện của Ngài, và chưa cảm nghiệm được tình yêu cứu độ của Ðức Ki-tô thì sứ vụ của các Giáo Lý Viên và các vị Mục Tử thực sự chưa hoàn thành. Quả thực chỉ có Ðức Tin mới có thể giúp người ta từ bỏ chính mình để chọn lựa trở nên môn đệ của Ðức Ki-tô (x. Lc 14, 33).

Chỉ có Ðức Tin mới giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ để sống trong tinh thần tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Vì thế cần đẩy mạnh chương trình Giáo Lý Ðức Tin các cấp: 1, 2, 3, 4, 5..., giúp mọi tín hữu ý thức tham gia vào sứ mạng cứu độ của Chúa Ki-tô, đồng thời cần thêm về giáo dục nhân bản để mọi người biết sống vui và thể hiện Ðức Tin một cách trưởng thành.

3. Một vài đề nghị cụ thể:

1. Chương trình Giáo Lý các cấp cần được soạn theo sát sách Giáo Lý Công Giáo (FD). Ðây là một kho tàng Ðức Tin mà Giáo Hội đã cập nhật hóa sau Công Ðồng Vatican ba mươi năm. Vì thế, nó phải là cuốn sách cẩm nang của tất cả các Giáo Lý Viên vì những vấn đề về văn hóa Ðức Tin sự sống và tình yêu liên quan đến gia đình đều tìm thấy ở nguồn phong phú đó.

2. Nên có một chương trình Giáo Lý hôn nhân thống nhất. Hiện nay có một số nhóm đã và đang soạn nội dung chương trình học theo Tông Huấn FC và Sách Giáo Lý Công Giáo FD. Ðề nghị Ban Mục vụ về hôn nhân gia đình nên tham khảo lấy ý kiến và soạn một chương trình thống nhất trong từng giáo phận và có thể trong toàn Giáo Hội Việt Nam. Ðây là công việc rất cần thiết vì hai nguồn tài liệu trên sẽ giúp người tín hữu thể hiện Ðức Tin của mình trong đời sống phái tính (FD 2332), đức khiết tịnh (FD 2337) và tình yêu vợ chồng (FD 2361) một cách hiệu quả.

3. Nội dung giáo dục nhân bản có thể xen kẽ vào các tiết học Giáo Lý hoặc tổ chức riêng trong những buổi nghe nói chuyện chuyên đề, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của từng giới để giúp các bậc cha mẹ ý thức giáo dục giới tính cho con. Ngoài ra, một nét đẹp văn hóa khác nên khuyến khích và duy trì đó là bữa ăn tối và giờ kinh tối trong gia đình, nó mang tính giáo dục Ðức Tin và nhân bản rất cụ thể và hiệu quả cao.

4. Khuyến khích sự hợp tác của Giáo Dân. Theo hướng dẫn của Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, và đường hướng cụ thể của Hội Ðồng Giáo Mục Việt Nam, thiết nghĩ Văn Phòng Mục Vụ về Hôn Nhân Gia Ðình, cấp Giáo Phận và Giáo Xứ nên có sự hợp tác rất chặt chẽ của mọi thành phần Dân Chúa. Nên phát hiện tiềm năng của người Giáo Dân, trân trọng, mời gọi sự hợp tác của họ không chỉ trong chuyên môn nhưng cả trong vai trò lãnh đạo để họ ý thức đẩy mạnh sứ vụ rao giảng trong lãnh vực riêng của họ nơi đời sống gia đình.

Phần Kết Luận

Nhìn lại 40 năm dấu ấn Công Ðồng Vatican 2, Giáo Hội mở ra với thế giới, hội nhập vào các nền văn hóa để nhân bản hóa con người theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, trở nên một người con trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa. Ðó là điều làm cho cho con người vượt trên mọi nền văn hóa, trở nên thước đo của văn hóa và không bị giam hãm trong bất cứ một nền văn hóa nào.

Thiết nghĩ, hai nét Văn Hóa Sự Sống và Tình Yêu mà Công Ðồng đề cập đến trong hôn nhân gia đình là chính tiếng nói của Chúa Thánh Thần đã tác động để canh tân các nền văn hóa hiện đại tôn thờ lợi nhuận vật chất và bản năng hưởng thụ. Do đó hướng Mục Vụ Văn Hóa của Giáo Hội là tìm ra được những điểm chung trong tâm thức con người hướng về nguồn sống và tình yêu, đồng thời thức tỉnh con người ra khỏi cơn cám dỗ lấy mình làm trung tâm, đối lập với Thiên Chúa. Nhờ đó, các gia đình sẽ có được hạnh phúc đích thực theo ý muốn của Thiên Chúa.

Ðức Giê-su Ki-tô luôn chúc lành cho các gia đình, vì từ nguồn cội sự sống và tình yêu trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, Ngài chính là Lời tác sinh sự sống cho toàn thể vũ trụ. Trong mầu nhiệm nhập thể, Ngài cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình để hoàn tất Ơn Cứu Ðộ ban lại sự sống cho con người. Ðặc biệt hơn là Ngài đã yêu nhân loại đến nỗi nhận Giáo Hội là hiền thê của Ngài để sinh ra các tín hữu và sai đi loan báo về tin mừng sự sống và tình yêu.

Ðứng trước nền Văn Hóa Tự Do Tính Dục đang phá đổ tình yêu và hạnh phúc nơi các gia đình, Chúa Giê-su tiếp tục kết hợp với từng Giáo Phận, Giáo Xứ, làm thành những Gia Ðình Ðức Tin và sai các Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ, các Ki-tô hữu thiện chí tới phục vụ các gia đình và mời gọi các thành viên trong gia đình tham gia vào Chương Trình Cứu Ðộ của Thiên Chúa.

"Hãy cứu lấy gia đình", giúp các gia đình giữ được vẻ đẹp bản chất của mình. Vì chính sự sống và tình yêu thiêng liêng cao quý của gia đình có sức chữa lành mọi vết thương, đem lại sự bình an và niềm vui đích thực cho mỗi người. (Kinh nghiệm tư vấn những trường hợp thất tình, tuyệt vọng).

Ngoài ra hình ảnh gia đình trong tinh thần Kinh Lạy Cha chính là nguồn động lực hỗ trợ sứ vụ truyền giáo của chúng ta và cũng là cội nguồn mọi khát vọng tâm linh của con người hướng về (Kinh nghiệm truyền giáo cho lương dân và tiếp xúc với các bệnh nhân ung thư đang hấp hối).

Tin tưởng nơi Ðức Giê-su Ki-tô, chúng ta cùng hợp tác giúp các gia đình thắp sáng niềm tin và hy vọng để làm chứng cho sự hiện diện yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa đang ở giữa con người.


5. Gia Ðình Ki-tô Và Mầu Nhiệm Vượt Qua

Ðức Cha LUIS ANTONIO G. TAGLE, Giám Mục Imus, Philippines 

(Ephata Việt Nam vừa nhận được bài giảng của Ðức Cha Luis Antonio G. Tagle, Giám Mục Imus, Philippines, trong Ðại Hội Quốc Tế các Gia Ðình lần thứ 4 tổ chức tại Philippines những ngày đầu năm 2003 này, bản dịch của độc giả Hoàng Thiên Ân. Ðược biết đã có khoảng 1.000 các vị Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục và hàng trăm ngàn Giáo Dân về tham dự. Riêng đoàn Việt Nam gồm 30 người, gồm 6 vị Giám Mục (các Ðức Cha Phạm Minh Mẫn, Nguyễn Như Thể, Bùi Văn Ðọc, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Hòa và Ngô Quang Kiệt. Ðoàn Giáo Phận Sài-gòn có 22 anh chị em và Giáo Phận Kontum có 2 Giáo Dân đại diện...)

Chiều hôm nay, chúng ta sẽ suy tư về chủ đề Gia Ðình Ki-tô Và Mầu Nhiệm Vượt Qua. Dựa theo chương trình chính thức của Ðại Hội, một tiêu đề phụ được thêm và tôi cho rằng nó cũng quan trọng không kém, vì nó chỉ ra cách thức mà chúng ta sẽ triển khai chủ đề này. Tiêu đề phụ là Ðối Thoại Và Tinh Thần Của Thập Giá. Do đó chúng ta sẽ suy tư về gia đình Ki-tô như một cộng đồng được hình thành trong đối thoại và làm thế nào mà Mầu Nhiệm Vượt Qua lại trở thành sức mạnh tinh thần thúc đẩy cho việc đối thọai chân thành.

Mầu Nhiệm Vượt Qua Là Gì? Ðối Thoại Là Gì?

Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng mỗi người Ki-tô hay môn đệ của Ðức Giê-su "phải mang trong thân xác mình cái chết của Ðức Giê-su ngõ hầu sự sống của Ngài được tỏ hiện" (2 Cr 4, 10). Một người Ki-tô là một người mang trong con người và cuộc đời mình dấu ấn của Mầu Nhiệm Vượt Qua, sự chết của Ðức Giê-su và sự Phục Sinh vào đời sống mới. Ðây không phải là một dấu ấn thể lý nhưng là một đường hướng tinh thần xác định rõ lối sống của ta trên thế gian. Nếu quả thật một người Ki-tô sống nhờ sức mạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua, tôi nghĩ chúng ta cũng có thể nói rằng điều này cũng áp dụng cho một cộng đoàn tự xưng mình là Ki-tô, bao gồm luôn gia đình. Một gia đình Ki-tô phải sống bởi Mầu Nhiệm Vượt Qua.

Nhưng chúng ta phải hỏi một cách chính xác Mầu Nhiệm Vượt Qua là gì? Các nhà thần học, các mục tử và các nhà trước tác thiêng liêng qua các thời đại đã cho chúng ta những tầm nhìn sâu xa vào trong Mầu Nhiệm Vượt Qua. Ðể phù hợp với mục đích của chúng ta, tôi muốn trình bầy Mầu Nhiệm Vượt Qua như là một ước muốn của Thiên Chúa, phát xuất từ tình yêu tinh ròng, để trao ban cho thế gian sự sống dồi dào. Món quà sự sống này được dâng hiến qua Ðấng chịu đóng đinh và đã Phục Sinh. Sự sống được yêu mến trao ban nhưng không trong cái chết của Ngài đã làm nẩy sinh cuộc sống mới dồi dào cho thế giới. Tôi cho rằng đây là một cái nhìn chấp nhận được về Mầu Nhiệm Vượt Qua. Chúng ta sẽ dùng cái nhìn này để suy tư về cuộc đối thoại trong gia đình Ki-tô.

Chúng ta cũng phải tìm hiểu về đối thoại. Các triết gia, tâm lý gia và các nhà linh hướng đã khảo sát thực chất của đối thoại. Trong hội nghị này, tôi định nghĩa đối thoại là một tương giao giữa các nội tâm, là cái sâu kín nhất có thể được trao đổi giữa hai hay nhiều người. Ðối thoại xẩy đến khi món quà của chính bản thể ta được trao ban và nhận lãnh một cách nhưng không. Tôi sẽ cố gắng minh họa làm thế nào trong Mầu Nhiệm Vượt Qua, "bi kịch" của Thập Giá Ðức Giê-su và Phục Sinh của Ngài, chúng ta tìm thấy một hình thức đối thoại tối thượng.

Mầu Nhiệm Vượt Qua: Mầu Nhiệm Tối Thượng

Tôi xin đề cập đến vài khía cạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua, đặc biệt về ba điểm được diễn giải qua khía cạnh của đối thoại.

Thứ nhất, Mầu Nhiệm Vượt Qua nói về tình yêu đời đời của Ðức Giê-su dành cho Ðức Chúa Cha, một tình yêu đưa Ngài vào trong cuộc đối thoại liên lỉ với Cha và mang đậm nét sẵn sàng. Ðức Chúa Cha có một hoài bão cho thế gian. Ðó là hoài bão của Ðấng yêu mến. Nó là một kế hoạch mang sự sống và tình yêu đến cho mọi thụ tạo ngõ hầu mọi thụ tạo được nên một với Thiên Chúa và với nhau. Chúng ta có thể tưởng tượng hoài bão thần linh này như là tình yêu tuôn chảy ra từ con tim Thiên Chúa đến mọi tạo vật ở mọi ngóc ngách của thế gian, tới từng khoảng khắc của lịch sử, và tới từng thân phận con người. Vì tình yêu thế gian, Thiên Chúa "không buông tha Con Một nhưng ban Ngài cho hết thảy chúng ta" (Rm 8, 32).

Không phải Thiên Chúa ép buộc Con như kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu. Không phải như thế, Ðức Giê-su đã làm cho chính mình trở thành sẵn sàng đối với Abba để hoàn thành hoài bão này. Ngài nói rằng không ai lấy đi được mạng sống của Ngài nhưng Ngài tự nguyện dâng hiến nó đi một cách nhưng không (Ga 10, 18).

Ðây là sự vâng phục của Ðức Giê-su phát xuất từ con tim thực sự yêu mến Cha, do bởi lòng ngưỡng mộ Cha và kế hoạch của Cha. Vì thế, Ðức Giê-su làm cho chính mình được tự do vô điều kiện và sẵn sàng với sứ mạng Cha trao phó. Từ khi nhập thể cho tới lúc Phục Sinh, Ðức Giê-su đã hoàn toàn hiến mình cho yêu cầu, sự chỉ đạo, và thôi thúc của Chúa Thánh Thần cho sứ mạng, ngõ hầu Người Con có thể trở nên một với dòng chảy tình yêu mà Cha dành cho thế gian và nhân loại. Cuộc "đối thoại sẵn sàng này", sự hiến mình để hoàn thành ý của Cha được kiên trì nơi Ðức Giê-su ngay cả khi Ngài khó bề hiểu được ý nghĩa của sứ mạng của Ngài.

Chúng ta hãy nhớ lại cơn thống khổ của Ngài trong vườn Cây Dầu (Mc 14, 32 - 42). Ở đó ý nghĩa của sứ mạng của Ngài trở nên mờ mịt. Nó vượt xa khỏi tầm hiểu biết của Người. Người bị ném vào trong hoang mang, cô đơn và đơn độc. Thê thảm hơn, Người van nài các môn đệ ở lại với Ngài để trấn áp cõi lòng hoang mang của mình bằng sự hiện diện của họ. Ðó là lời mời đối thoại của Người dành cho họ, nhưng họ không đáp ứng. Tuy nhiên vào lúc đó khi tất cả ý nghĩa xem ra u tối, cái làm cho Ðức Giê-su tiếp tục đi tới chính là lựa chọn của Ngài quyết tâm hoàn thành hoài bão của Cha. Chỉ có tình yêu mới thúc bách Người kiên trì dù cho sứ mạng đã trở nên vô nghĩa và hão huyền.

Và trên Thập Giá, khi Ðức Chúa Cha có vẻ như đã bỏ rơi Người, Ðức Giê-su đã phó thác linh hồn của Người cho Cha (Lc 23, 46). Ngay cả giữa sự thinh lặng của Cha, Ðức Giê-su vẫn tiếp tục đối thoại với tất cả sự sẵn sàng hoàn toàn - tất cả cho tình yêu, tất cả cho sứ mạng. Ta có thể gọi đây là độc thoại không? Ðối với Ðức Giê-su, Thập Giá không phải là độc thoại nhưng là một cuộc đối thoại chờ đợi sự thành toàn. Ðối thoại không bao giờ bị cắt ngang ở nơi vẫn có tình yêu.

Thứ hai, Mầu Nhiệm Vượt Qua chiếu sáng tình yêu của Ðức Giê-su dành cho nhân loại, nó mang hình thức một cuộc đối thoại liên đới và xót thương dành cho các tội nhân lầm lạc. Một đàng, Mầu Nhiệm Vượt Qua nói về sự vâng phục yêu mến của Ðức Giê-su đối với Cha. Ðàng khác, nó cũng là món quà sự sống năng động của Ðức Giê-su dành cho nhân loại tội lỗi chúng ta. "Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ cho đến cùng" (Ga 13, 1).

Tình yêu dành cho chúng ta cũng dạt dào như sự vâng phục Cha của Ðức Giê-su đã thôi thúc Ngài chịu đau khổ và chịu chết trên Thập Giá. Tình yêu dành cho nhân loại này, một tình yêu chân thật, bao hàm một lựa chọn tự nguyện bởi Con Thiên Chúa, khước từ vinh quang và huy hoàng của Thần tính để chia sẻ thân phận hèn hạ của nhân loại (Pl 2, 5 - 11). Như thể trở nên con người thôi cũng chưa đủ, Con Thiên Chúa còn đi xa hơn bằng cách tự hạ chịu chết vốn là tột đỉnh của nỗi cô đơn của con người. Hơn nữa, như thể cho rằng hành vi khiêm hạ này còn chưa đủ, Con Thiên Chúa còn chọn một cái chết ô nhục trên thập giá.

Qua tất cả việc tự hạ, có một hàm ý rằng cái yếu đuối đó chính là một cách thức thiết lập nên một đối thoại liên đới với nhân loại. Người hoàn toàn tự hủy ra hư không để hoàn toàn hiến dâng chính mình cho các tội nhân. Qua cuộc đối thoại này, Ðức Giê-su đã hủy diệt mọi khoảng cách tách biệt phẩm giá và vận mệnh của Người với các tội nhân. Người tự nguyện đón chịu nỗi sợ hãi, cô độc và khó nghèo mà đầy tràn nơi nhân loại chúng ta bởi vì tội lỗi của chúng ta, nhưng Người không phạm tội. "Ðấng chẳng biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta" (2 Cr 5, 21).

Ðây là một khía cạnh khác của cuộc đối thoại liên đới, còn gọi là lòng thương xót. Qua liên đới, Ðấng không phạm tội trở nên người cùng chịu đau khổ với các tội nhân, những người phải chịu đau khổ vì phạm tội. Lòng thương xót xô đẩy Người đi vào cõi chết như một người cùng chung số phận phải chết như bạn hữu mình. Mầu Nhiệm Vượt Qua nói nên Ðức Giê-su đã yêu thương chúng ta biết bao qua việc tự nguyện ôm ấp lấy đau khổ mà chúng ta đáng phải chịu do phạm tội. Tội lỗi đã chắn đường không cho ta đối thoại với Ðức Giê-su. Nhưng Người theo đuổi cuộc đối thoại bằng cách đau khổ cái đau khổ của ta và chết cái chết của ta. Ðối với Người, Thập Giá không phải là một cuộc độc thoại nhưng là một cuộc đối thoại trong chờ đợi mà tràn đầy hi vọng. Ðối thoại không bao giờ bị cắt đứt nhờ có thương xót và liên đới.

Cuối cùng, Mầu Nhiệm Vượt Qua được hoàn tất trong cuộc Phục Sinh của Ðấng chịu đóng đinh. Chúa Cha đón nhận sự sống của Chúa Giê-su dâng hiến trên Thập Giá, hậu qủa là Cha thông ban sự sống đó cho nhân loại như là một sung mãn tột cùng của sự sống. Nơi cuộc Phục Sinh, Cha và Con đã đi vào một cuộc đối thoại mà hai bên cùng đón chịu lấy nhau, điều này dẫn tới một cuộc đối thoại chia sẻ sự sống với thế gian bằng cách tuôn tràn xuống Thần Khí của Ðức Giê-su. Cái chết của Ðức Giê-su không kết thúc trên Thập Giá nhưng là cuộc trở về với Cha để sống vô biên và vô cùng trong sự hiện diện và yêu thương của Cha. Vinh quang của Ðức Giê-su nghĩa là Cha đã chấp nhận sự sống mà con đã phú nộp bởi Con trên Thập Giá. Trong cuộc Phục Sinh, sau cùng Cha đã công bố cho thế gian "Ðây là Con của ta!"

Phục Sinh là, như đã là, một bối cảnh mà Cha long trọng tuyên bố cho thế gian Ðức Giê-su là Con Một của Cha. Phục Sinh là Cha ban cho Con Một danh xưng vượt trên mọi danh xưng, để cho khi nghe tên Giê-su mọi đầu gối phải qùy lạy (Pl 2, 9 - 10). Phục Sinh mạc khải ra khuôn mặt của Thiên Chúa như là Cha đấng luôn trung tín với con mình.

Cuộc đối thoại sẵn sàng của Con trên Thập Giá sau cùng đã nhận được một đáp trả từ Cha trong cuộc đối thoại chấp nhận. Cuộc đối thoại được lên đến tột đỉnh nơi Phục Sinh, là "tái hợp" giữa Cha và Con, không kết thúc khép kín giữa hai đấng nhưng lại tuôn tràn Thần Khí cho thế gian. Thần Khí đã dẫn đưa Ðức Giê-su từ nhập thể đến Thập Giá cũng chính là Thần Khí của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và thế gian.

Qua hành động và quyền năng của Thần Khí, nhiều người sẽ được dẫn dắt để đón nhận Ðức Giê-su, để đối thoại với Ðức Giê-su như các môn đệ ngày trước, và như thế được trở nên một với Cha. Thần Khí làm cho ta có thể đối thoại với Thiên Chúa và kêu lên "Abba" như Ðức Giê-su đã làm (Rm 8, 15). Cha ban cho chúng ta, qua Thần Khí, sự sống của Ðức Giê-su, Con của Cha. Và chúng ta được thay hình đổi dạng từ các tội nhận trở nên con cái. Với sự sống của Ðức Giê-su san sẻ cho chúng ta, chúng ta có thể hoàn tất cuộc đối thoại với Cha mà đã bị tội lỗi của ta làm cho đứt quãng. Thập Giá Ðức Giê-su kết thúc nơi cuộc đối thoại hai bên cùng đón chịu nhau giữa Cha và Con, đưa đến tột đỉnh là cuộc đối thoại vô tận trong Thần Khí giữa Thiên Chúa và nhân loại, một cuộc đối thoại của sự sống được chia sẻ.

Gia Ðình Ki-tô Và Mầu Nhiệm Vượt Qua

Cả ba góc cạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua như là một cuộc đối thoại có thể là nền tảng của gia đình Ki-tô.

Trước nhất, một gia đình Ki-tô phải mang dấu ấn của cuộc đối thoại sẵn sàng của Ðức Giê-su. Trong thời đại này, người ta có khuynh hướng chỉ quan tâm đến bản thân mình. Chao đảo giữa những bon chen, lo âu, thành công và lợi lộc, chúng ta dễ dàng hi sinh tinh thần đối thoại và sẵn sàng, ngay cả trong phạm vi gia đình. Chúng ta thấy sự phát triển một nền văn hóa toàn cầu đã mang lại rất nhiều loại hình giải trí, mua sắm và dịch vụ mà đã cướp mất đi những khoảnh khắc quý báu mà gia đình có thể tương tác và hiện diện bên nhau. Ðộc thoại đã trở thành một cách sống.

Các gia đình Ki-tô và xã hội nói chung có thể hưởng lợi rất nhiều bằng cách tái học hỏi từ sự sẵn sàng tuyệt đối của Ðức Giê-su đối với Thiên Chúa và sứ mạng. Chúng ta muốn thấy các người cha, người mẹ, con cái và ngay cả các anh chị em họ hàng có mặt bên nhau lúc thịnh vượng cũng như khó khăn. Chúng ta khao khát thấy các thành viên gia đình luôn sẵn sàng phục vụ nhau vì lợi ích chung mà không quản ngại hi sinh. Chúng ta muốn thấy các gia đình hân hoan thể hiện ý Chúa trong thế gian. Chúng ta hãy tái khám phá sự sẵn sàng của Ðức Giê-su trên Thập Giá.

Thứ nhì, một gia đình Ki-tô phải mang dấu ấn của cuộc đối thoại liên đới và thương xót của Ðức Giê-su được tỏ bầy trên Thập Giá. Thế giới này có quá nhiều đau khổ đến nỗi chúng ta chỉ muốn ngoảnh mặt đi. Ðang khi chúng ta hô hào: "Hãy toàn cầu hóa! Hãy liên đới! Hãy cảm thông!" chúng ta lại thấy toàn phân cực, bất khoan dung và chia rẽ chung quanh ta, ngay cả trong phạm vi gia đình. Có rất nhiều hiểu lầm bởi vì chúng ta không thể thông cảm với nhau và cho nhau.

Trong một gia đình, từng người nên đóng vai trò hình thành một cộng đồng thương cảm nhau, chịu lấy các khiếm khuyết và nỗi đau của nhau vì tất cả đều yếu đuối và đau khổ. Không có niềm vui hay nỗi buồn của người nào mà lại trở nên vô can với người khác. Từng người phải nói được rằng: "Lo âu của bạn cũng là của tôi. Ðau đớn của bạn là của tôi. Và thành công của bạn cũng là của tôi."

Khi sự liên đới và thương cảm trở nên mờ nhạt, gia đình không còn đối thoại và đang đứng trên bờ vực tan vỡ. Các gia đình Ki-tô hãy tái khẳng định sự liên đới và lòng thương xót của Ðức Giê-su trên Thập Giá.

Và sau cùng, một gia đình Ki-tô phải mang dấu ấn của cuộc đối thoại cùng đón chịu và chia sẻ như được mạc khải ra qua Phục Sinh. Trong một thế giới cạnh tranh, ca tụng và khẳng định trở thành tai họa. Chia sẻ được hiểu một cách tầm thường là tặng quà cho nhau, vì đó là một hình thức chia sẻ an toàn nhất. Các gia đình còn trở nên nghèo nàn và mong manh hơn vì thiếu sự đồng trân trọng và chia sẻ cuộc sống với nhau. Một gia đình Ki-tô thực sự nuôi dưỡng sự sống nơi từng người qua việc khẳng định mỗi người đều là một món quà của Chúa dành cho nhau. Nhưng sự đồng trân trọng nhau này phải thúc bách họ chia sẻ sự sống của họ như món quà của Thiên Chúa dành cho sự sống của thế gian.

Ðây chính là khía cạnh được sai đi hay là loan báo Tin Mừng của Mầu Nhiệm Vượt Qua và mỗi gia đình phải sống nó. Chia sẻ sự sống bên trong gia đình phải sinh ra hoa trái trong việc chia sẻ cùng một sự sống đó cho người nghèo, người đau khổ, người sống bên lề, những người được Ðức Giê-su ưu ái. Một gia đình Ki-tô phải có tầm nhìn vượt qua nhu cầu của mình, thấy được nhu cầu của xã hội và thế giới. Không phải là khoe khoang khi tỏa lan ra bên ngoài sự sống mà ta đã khám phá, để cho người khác có thể nhìn thấy. Các gia đình Ki-tô hãy tái lập sự cùng đón nhận nhau và chia sẻ sự sống của một dân tộc Phục Sinh.

Sẵn sàng, liên đới và thương xót, cùng đón nhận nhau và chia sẻ - ba dấu hiệu của Thập Giá và sự sống Phục Sinh của Ðức Giê-su. Mỗi người môn đệ sống nhờ chúng, và mỗi gia đình Ki-tô cũng vậy. Chúng ta cầu xin cho việc tham gia vào cuộc đối thoại sẵn sàng, đối thoại liên đới và thương xót, đối thoại cùng đón nhận nhau và chia sẻ, gia đình Ki-tô có thể, giống như Ðức Giê-su, là một món quà chân thật của sự sống và tình yêu dành cho thế giới trong thiên niên kỷ thứ ba.


6. Gia đình Ki-tô hữu (1): tiếp nhận và loan báo Tin Mừng

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề

Vào những ngày 23 - 26.01.2003, tại Manila (Philippines) sẽ có cuộc gặp gỡ quốc tế lần thứ 4 của các gia đình trên toàn thế giới. Lần gặp gỡ quốc tế đầu tiên của các gia đình là vào năm 1994 tại Roma (Italia) nhân dịp Liên Hiệp Quốc và Giáo Hội Công Giáo chọn năm 1994 là Năm Gia Ðình. Lần gặp gỡ quốc tế lần thứ 2 của các gia đình là vào năm 1997 tại Rio de Janeiro (Brazin). Lần gặp gỡ quốc tế lần thứ 3 của các Gia Ðình là vào tháng 10.2000 trong khuôn khổ Năm Thánh 2000 tại Roma (Italia). Và lần gặp gỡ quốc tế lần thứ 4 của các gia đình vào ngày 23-26/01/2003 tại Manila Philippines. Chủ đề của lần gặp gỡ này là: "Gia đình Ki-tô hữu là Tin Mừng cho Thiên Niên Kỷ thứ ba".

Ðể chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ quan trọng này, trong năm 2002 Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình đã cho phổ biến một tài liệu hướng dẫn gồm 12 đề tài về Gia Ðình cho việc Suy Tư Vào Trao Ðổi trong các cộng đoàn và tổ chức Giáo Hội như sau:

01.  Gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng.

02.  Gia đình Ki-tô hữu là chứng nhân của Giao ước Vượt Qua.

03.  Gia đình Ki-tô hữu là trung tâm của Phúc Âm hóa.

04.  Gia đình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia.

05.  Sự thánh thiện của Gia đình Ki-tô hữu nhằm phục vụ Tin Mừng.

06.  Thánh Thể là dấu chỉ và lương thực cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn.

07.  Thứ tha và hòa giải trong gia đình Ki-tô hữu.

08.  Gia đình Ki-tô hữu là cộng đoàn cầu nguyện.

09.  Gia đình Ki-tô hữu là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội.

10.  Gia đình và tình yêu Ki-tô hữu đối với những người yếu kém nhất.

11.  Gia đình Ki-tô hữu chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ.

12.  Gia đình Ki-tô hữu là cung thánh của sự sống.

Vậy "Gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng" là đề tài đầu tiên trong số 12 đề tài về Gia Ðình; vì thế được chọn làm đề tài của buổi sinh hoạt đầu tiên về gia đình của năm 2003 của chúng ta. Vậy chúng ta cùng nhau lần lượt tìm hiểu 3 vấn đề: Tin Mừng nghĩa là gì? Thế nào là "gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng"? Ðể tiếp nhận và loan báo Tin Mừng, các gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

II. Trình Bày

1. "Tin Mừng" nghĩa là gì?

Trong Bài Phúc Âm mà Giáo Hội đọc trong Thánh Lễ (đêm) Giáng Sinh, có đoạn sau đây:

"Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ða-vít, Người là Ðấng Ki-tô Ðức Chúa." (Lc 2, 6 - 11).

Vậy Tin Mừng mà các thiên thần loan báo cho những người chăn chiên trên cánh đồng Bê-lem xưa là Tin Mừng về Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cách đây hai ngàn năm. Nói đúng hơn thì chính Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng Cứu Ðộ là Tin Mừng.

2. Thế nào là "Gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng"?

a. Thế nào là "gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận Tin Mừng"?

Giáo Hội Công Giáo đã đón nhận Tin Mừng là chính Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa mà Chúa Cha gửi đến để mặc khải Thiên Chúa Tình Yêu và chỉ đường vạch lối cho con người được Ơn Cứu độ. Khi đón nhận Tin Mừng ấy Giáo Hội không giữ riêng cho mình mà có trách nhiệm loan báo cho muôn dân, muôn người.

Bên giếng Rửa Tội hay trong thánh đường mỗi người (dù lớn hay bé) đều nói lên điều mình ước xin nơi Giáo Hội: "đức tin". Xin đức tin, tức xin Giáo Hội trao ban Tin Mừng.

Trong Thánh lễ Hôn Phối, hai người phối ngẫu Công Giáo đều là những người đã đón nhận Tin Mừng và có trách nhiệm loan báo Tin Mừng ấy cho người khác lại một lần nữa đón nhận Tin Mừng một cách đặc biệt: Họ đón nhận Tin Mừng về Tình Yêu "Phu Thê" của Chúa Giê-su Ki-tô đối với Giáo Hội. Họ được mời gọi là phản ảnh, là minh họa của Tình Yêu và Mầu nhiệm cao cả ấy. Tình yêu và cuộc sống hôn nhân của hai người được nâng lên bậc Bí Tích là vì thế. Tình yêu và cuộc sống hôn nhân của hai người mang một ý nghĩa cao vời và được Thiên Chúa chúc phúc như Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng đã khẳng định:

"Chúa Ki-tô ban dồi dào ơn phúc cho tình yêu muôn hình muôn vẻ của vợ chồng, một tình yêu phát xuất từ Nguồn Mạch Tình Yêu Thiên Chúa và được tác thành theo gương kết hiệp của Chúa Ki-tô và Hội Thánh. Thực vậy, như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ Dân Ngài bằng một Giao Ước yêu thương và trung thành, ngày nay Ðấng Cứu Thế, Bạn Trăm Năm của Hội Thánh cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí Tích Hôn Phối. Người còn ở lại với họ để hai vợ chồng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau, như Người đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh.

Tình Yêu vợ chồng đích thực được hòa nhập trong Tình Yêu Thiên Chúa, được hướng dẫn và thêm phong phú nhờ quyền năng cứu chuộc của Chúa Ki-tô và hoạt động cứu rỗi của Hội Thánh, để hai vợ chồng được dẫn dắt cách hữu hiệu đến cùng Thiên Chúa, cũng như được nâng đỡ và kiên cường trong nhiệm vụ cao cả làm cha làm mẹ" (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay, số 48).

b. Thế nào là "gia đình Ki-tô hữu loan báo Tin Mừng"?

Một khi đã đón nhận Tin Mừng, mọi Ki-tô hữu có trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho người khác, như lệnh truyền của Chúa Giê-su trước khi về Trời: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19 - 20).

Trước hết hai vợ chồng có trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho nhau: chồng loan báo Tin Mừng cho vợ; vợ loan báo Tin Mừng cho chồng. Kế tiếp hai vợ chồng có trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho những người trong gia đình và nhất là cho con cái của mình. Sau nữa hai người có trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho những người khác cùng môi trường sinh sống hay lao động và ngoài xã hội.

3. Ðể tiếp nhận và loan báo Tin Mừng các gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

"Không ai cho cái mình không có" (Nemo dat quod non habet) câu châm ngôn của người Rô-ma xưa có thể áp dụng vào trường hợp của chúng ta. Muốn loan báo Tin Mừng cho người khác thì trước hết chúng ta phải đón nhận Tin Mừng trước đã.

a. Ðể tiếp nhận Tin Mừng các gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

Thật ra khi lãnh Bí Tích Thánh Tẩy là ai nấy chúng ta đã đón nhận Tin Mừng về Chúa Giê-su, là chính Chúa Giê-su rồi. Nhưng việc đón nhận Chúa, chúng ta phải tiếp tục luôn mãi, vì không ai có thể cho rằng mình đã đón nhận Chúa một cách trọn vẹn, đầy đủ. Chúa càng vào sâu trong tâm hồn và cuộc sống của chúng ta, thì chúng ta càng nên giống Chúa và do đó càng có khả năng loan báo Chúa cho người khác. Muốn đón nhận Chúa vào sâu trong tâm hồn và cuộc sống của mình, chúng ta phải nỗ lực vun trồng đời sống cầu nguyện và nội tâm sâu sắc. Các giờ thờ phượng, tham dự bí tích, tĩnh tâm, học hỏi và suy niệm Lời Chúa, dấn thân phục vụ, kiểm điểm đời sống là các phương thế hữu hiệu giúp chúng ta càng ngày càng sống mật thiết hơn với Chúa và sống yêu thương phục vụ hơn đối với tha nhân.

b. Ðể loan báo Tin Mừng các gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

Khi đã có Chúa trong tâm hồn và cuộc sống của mình rồi, chúng ta chỉ cần thể hiện Chúa ra bên ngoài, qua lời nói, việc làm, cách sống của chúng ta là Tin Mừng ấy được người khác nhận ra. Nhưng như thế chưa đủ, chúng ta còn phải chủ động tìm cơ hội, nắm bắt dịp may để loan báo Tin Mừng cho những người chúng ta gặp gỡ, quen biết. Chúng ta còn phải biết sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội (bích chương, sách báo, tài liệu, phim ảnh, hội họa, thi ca, âm nhạc, internet...) để loan báo Tin Mừng cho người thời nay.

Cách cụ thể, trong gia đình, chúng ta quan tâm thực hiện 5 điều Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã nêu trong Thư Mục Vụ về Hôn Nhân Và Gia Ðình ngày 11.10.2002:

Trong Giáo Xứ, các gia đình quan tâm đến việc tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo Xứ để xây dựng Giáo Xứ thành một đại gia đình của Thiên Chúa.

Trong xã hội, các gia đình quan tâm đến việc xây dựng và phát triển xã hội về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, môi sinh, tôn giáo, tâm linh... sao cho nền Văn Minh Tình Thương và Công Lý được thực hiện, nhằm lợi ích chính đáng và đa dạng của đại đa số dân chúng, nhất là của tầng lớp nghèo.

III. Kết Luận

Nếu các gia đình Công Giáo biết đón nhận Tin Mừng mỗi ngày một sâu sắc hơn và đồng thời biết loan báo Tin Mừng một cách tích cực và có phương pháp hơn, thì chắc chắn Giáo Hội và xã hội sẽ được canh tân, đổi mới, con người - nhất là người nghèo - sẽ được yêu thương và phục vụ như Chúa mong muốn. Có như thế thì gia đình Ki-tô giáo mới có thể là Tin Mừng cho thiên niên kỷ thứ ba được.

IV. Chia Sẻ

1. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi giai đoạn quan trọng trong đời sống gia đình, gia đình ông bà anh chị đón nhận Tin Mừng như thế nào? gặp thuận lợi và khó khăn gì? phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn như thế nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm với các gia đình khác.

2. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi giai đoạn quan trọng trong đời sống gia đình, gia đình ông bà anh chị loan báo Tin Mừng như thế nào? gặp thuận lợi và khó khăn gì? phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn như thế nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm với các gia đình khác.

V. Thực Hành

Mỗi người, mỗi gia đình chọn một hai việc cụ thể làm quyết tâm thực hành (nói rõ ra là việc gì) cho đời sống đạo của mình trong tuần, trong tháng này.


7. Gia đình Ki-tô hữu (2): là Chứng Nhân của Giao Ước Vượt Qua

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Trong lần sinh hoạt đầu tiên về gia đình, chúng ta đã cùng nhau học hỏi, suy nghĩ, chia sẻ về đề tài "Gia đình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng". Ðề tài thứ hai trong loạt 12 đề tài do Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình đề nghị là "Gia đình Ki-tô hữu là chứng nhân của Giao ước Vượt qua".

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu 3 vấn đề:

II. Trình Bày:

1. Thế nào là "Giao Ước Vượt Qua"?

Muốn hiểu thế nào là Giao Ước Vượt Qua, thiết tưởng chúng ta phải nhắc lại Giao Ước Xi-nai (Xh 24, 1 - 18) mà Thiên Chúa Gia-vê đã ký kết với dân Ít-ra-en. Theo tinh thần của Giao Ước này thì Thiên Chúa là Chúa của dân và dân Ít-ra-en là "dân riêng" của Chúa. Chúa là Chúa của dân thì Chúa bảo vệ, che chở dân khỏi mọi kẻ thù và yêu thương chăm sóc dân. Là dân riêng của Chúa thì Ít-ra-en không được tôn thờ một chúa nào khác mà chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi và phải tuân giữ các mệnh lệnh của Chúa là 10 giới răn. Dân mà bất trung với lời cam kết ấy thì bị coi là phản bội, là ngoại tình. Giao Ước thời Cựu Ước được ký kết bằng việc sát tế một con bò làm lễ dâng lên Thiên Chúa và máu con bò ấy được rẩy trên bàn thờ và trên toàn dân.

Thế nhưng Giao Ước ấy chỉ là hình bóng của Giao Ước mới mà chúng ta gọi là Giao Ước Vượt Qua. Giao Ước Vượt Qua được Thiên Chúa ký kết không phải chỉ với một dân tộc theo huyết nhục mà với toàn thể nhân loại là dân tộc mới. Giao Ước mới được ký kết trong hy tế đẫm máu trên thập giá của Ðức Giê-su, Con Một Thiên Chúa nhập thể làm người. Trong Giao Ước Vượt Qua, Ðức Giê-su đã tự nguyện chấp nhận cuộc Thương Khó và cái chết trên thập giá để phục sinh vinh quang đem ơn cứu độ và sự giải thoát cho toàn thể nhân loại. Ðộng cơ khiến Ðức Giê-su thực hiện việc đó là lòng hiếu thảo vâng phục đối với Chúa Cha và tình yêu thương đối với mọi người là anh em của Chúa trong gia đình nhân loại.

2. Tại sao lại khẳng định… "Gia đình Ki-tô hữu là chứng nhân của Giao Ước Vượt Qua"?

Khi nói về tình yêu mà người chồng Ki-tô hữu phải có đối với vợ mình, Thánh Phao-lô đã lấy Tình yêu của Ðức Ki-tô đối với Hội Thánh để soi giọi và so sánh:

"Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Ðức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và bằng lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Ðức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Ki-tô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng" (1 Cr 5, 25 - 33):

Trong đoạn văn trên, Thánh Phao-lô đã khẳng định tính chất độc đáo và đặc thù của hôn nhân Ki-tô giáo: tình yêu vợ chồng Ki-tô hữu phải là phản ảnh của Tình yêu có một không hai của Ðức Ki-tô dành cho Hội Thánh là Hôn Thê, là Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Ðể thể hiện Tình yêu đó, Ðức Ki-tô đã trải qua con đường Thương Khó và Phục Sinh, nghĩa là Chúa đã chấp nhận bỏ mình, hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu, làm tất cả cho hạnh phúc của người mình yêu, như Thánh Phao-lô đã đúc kết trong thư gửi tín hữu Phí-líp-phê:

"Ðức Giê-su Ki-tô,

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự" (Pl 2, 6 - 8).

3. Ðể làm chứng nhân của Giao Ước Vượt Qua, các gia đình Ki-tô hữu phải sống như thế nào?

Ðức Giê-su đã khẳng định: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13).

Ðó là chuẩn mực mà mọi Ki-tô hữu phải theo. Cách riêng vợ chồng Ki-tô hữu phải lấy câu nói đó làm châm ngôn cho đời sống hôn nhân gia đình của mình. Vì trong đời sống gia đình, từ miếng ăn, miếng uống cho đến các nhu cầu cao hơn, vợ chồng đều có thể thể hiện lòng yêu thương của mình đối với người bạn đời.

Và trong đời sống gia đình, nếu chỉ dựa vào những lý lẽ tự nhiên, rất nhiều khi họ không thể vượt qua được những khó khăn thử thách do tính tình, sở thích và tập quán khác nhau, do sức ép của cuộc sống cơm-áo-gạo-tiền đè nặng trên vai và trên trái tim của mỗi người. Cần phải có một yếu tố vượt các giới hạn tự nhiên vợ chồng mới có thể yêu thương và chung thủy với nhau trọn đời, như lời họ cam kết trong Thánh Lễ Cưới. Cụ thể, vợ chồng thể hiện sự quan tâm đối với nhau và giúp đỡ lẫn nhau để ai nấy được phát triển trong mọi lãnh vực:

III. Kết Luận:

Ðể yêu Hội Thánh và nhân loại và để đem hạnh phúc thật cho Hội Thánh và con người, Ðức Ki-tô đã chấp nhận "hủy mình ra không" qua con đường Thương Khó và Phục Sinh. Vợ chồng Ki-tô hữu cũng chỉ có thể chứng minh tình yêu chân thực và siêu nhiên của mình bằng những hy sinh từ bỏ cụ thể vì người mình yêu. Một người chồng, một người vợ càng hy sinh từ bỏ vì và cho người bạn đời của mình, thì người ấy càng trở thành chứng nhân của Giao Ước Vượt Qua, của hiến tế Thập Giá của Chúa Giê-su Ki-tô.

IV. Chia Sẻ:

1. Trong cuộc sống đời thường của gia đình, ông bà anh chị đã hy sinh cho vợ, chồng, con cái mình như thế nào?

2. Làm thế nào để ông bà anh chị dẹp được lòng ích kỷ, tính tự ái và sự ươn lười của mình mà hy sinh cho vợ, chồng và con cái mình?

V. Thực Hành:

Trong giờ kinh kết thúc một ngày sống của gia đình, ông bà anh chị hãy tự hỏi: "Ngày hôm nay, tôi đã làm hết sức mình cho vợ, chồng và con cái tôi được sung sướng hạnh phúc ấm no chưa? Tôi đã thiếu sót những gì? Ngày mai tôi phải làm gì hơn để bù đắp lại sự thiếu sót của ngày hôm nay?"


7. Gia đình Ki-tô hữu (3): là trung tâm của Phúc Âm hóa

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

"Gia Ðình Ki-tô hữu là trung tâm của Phúc Âm hóa" là đề tài thứ ba trong loạt 12 đề tài mà Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình đề nghị cho chúng ta suy tư và trao đổi về Gia Ðình. Có thể nói chủ đề này tiếp nối đề tài thứ nhất: "Gia Ðình Ki-tô hữu tiếp nhận và loan báo Tin Mừng" mà chúng ta đã học hỏi, suy nghĩ, chia sẻ, cầu ngyện và thực hành.

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau lần lượt tìm hiểu 3 vấn đề: Thế nào là "Phúc Âm hóa"? Tại sao lại khẳng định "Gia Ðình Ki-tô hữu là trung tâm của Phúc Âm hóa"? Ðể trở thành trung tâm của Phúc Âm hóa, Gia Ðình Ki-tô hữu phải thực hiện những gì?


II. Trình Bày:

1. Thế nào là "Phúc Âm hóa"?

Trong ngôn ngữ Việt Nam có ba từ đồng nghĩa mà trong ngôn ngữ Tây Phương chỉ là một chữ: "Evangélisation": "Phúc Âm hóa", "Rao Giảng Phúc Âm", "Loan Báo Tin Mừng". Cũng đồng nghĩa với từ "Truyền giáo". Vậy, một cách đơn giản chúng ta có thể hiểu "Phúc Âm hóa" là làm cho con người và cơ chế (của Giáo Hội cũng như xã hội) thấm nhuần tinh thần Phúc Âm.

Chúng ta biết rằng mục đích của Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể làm người, chịu chết trên thập giá và phục sinh là để cứu chuộc nhân loại bằng cách giải hòa con người với Thiên Chúa và đem ơn tha thứ của Thiên Chúa đến cho con người. Nhưng kế hoạch cứu độ ấy còn bao hàm việc làm cho cả thế giới và vũ trụ này trở nên Vương quốc của Thiên Chúa là Vương Quốc của Công Lý và Tình Thương. Như thế Phúc Âm hóa có nghĩa là biến đổi xã hội và thay đổi con người, chứ không chỉ giới hạn trong việc làm cho người ta gia nhập đạo như nhiều người Giáo Dân Việt Nam thường lầm tưởng.

2. Tại sao lại khẳng định "Gia Ðình Ki-tô hữu là trung tâm của Phúc Âm hóa"?

Trong Tông Huấn "Ðời Sống Gia Ðình" Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 xác định:

"Gia Ðình Ki-tô hữu được mời gọi góp phần tích cực và có trách nhiệm vào sứ mạng của Giáo Hội với một tư thế riêng biệt và độc đáo, bằng cách tự đặt mình phục vụ Giáo Hội và xã hội cả trong yếu tính lẫn trong hành động của mình, với tư cách là một cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu" (số 50)

Khẳng định "Gia Ðình là trung tâm của Phúc Âm hóa", có nghĩa là Gia Ðình nhận sứ mạng Phúc Âm hóa từ kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa về Gia Ðình, như Tông Huấn về "Ðời Sống Gia Ðình" khẳng định: "Bởi vì "Ðấng Tạo Hóa đã đặt Gia Ðình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người: nên Gia Ðình trở thành "tế bào dầu tiên và sống động của xã hội" (Sắc Lệnh Tông Ðồ Giáo Dân, 11; ÐSGÐ, 42)

Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng Gia Ðình được phát triển dưới dự thúc đẩy và hướng dẫn của luật "cho không" bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người, ý thức về phẩm giá con người như nguồn giá trị duy nhất, cụ thể hóa trong sự đón tiếp nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại, quảng đại sẵn sàng phục vụ vô vị lợi và tương trợ sâu xa...

"Như vậy, phát huy sự hiệp thông đích thực giữa những ngôi vị có trách nhiệm trong Gia Ðình trở thành việc thực tập căn bản và không thề thay thế được cho đời sống xã hội, một gương mẫu và là một khích lệ cho các tương quan cộng đồng mở rộng, được đánh dầu bằng các đức tính: kính trọng, công bằng, ý thức đối thoại, tình yêu... Bằng cách ấy Gia Ðình làm nên cái nôi và phương tiện hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và ngôi vị hóa xã hội: chính Gia Ðình hoạt động cách độc đáo và sâu xa cho công cuộc kiến tạo thế giới, giúp đem lại một đời sống thực sự nhân đạo, cách riêng là bảo tồn và truyền đạt các nhân đức và các "giá trị" (số 43).

Khẳng định "Gia Ðình là trung tâm của Phúc Âm hóa" còn có nghĩa là công cuộc Phúc Âm hóa phải bắt đầu từ Gia Ðình vì "cha mẹ chính là những nhà giáo đầu tiên; sách giáo khoa đầu tiên chính là những quan hệ trong Gia Ðình, giữa cha mẹ với nhau, giữa cha mẹ với con cái, giữa Gia Ðình này với Gia Ðình khác" và "những bài học đầu tiên về cầu nguyện, về mến Chúa yêu người đều được học và được dạy trong Gia Ðình" (xem Thư Chung Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam năm 1998, trích dẫn Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, số 7)

3. Ðể trở thành trung tâm của Phúc Âm hóa, các Gia Ðình Ki-tô hữu phải thực hiện những gì?

Ðể trở thành "trung tâm của Phúc Âm hóa", điều đầu tiên Gia Ðình Ki-tô hữu phải có là ý thức mạnh mẽ và sâu sắc về vai trò và trách nhiệm Phúc Âm hóa của mình. Vai trò và trách nhiệm ấy, một đàng do chính Thiên Chúa đã trao cho Gia Ðình khi đặt Gia Ðình là nguồn gốc và nền tảng của xã hội, đàng khác được Giáo Hội cậy nhờ vì không có Gia Ðình, Giáo Hội không thể thâm nhập vào môi trường đặc biệt này và biến nó thành tác nhân của công cuộc Phúc Âm hóa. Mỗi thành viên và cả Gia Ðình phải tạo ý thức cho mình và cho nhau bằng việc lắng nghe Lời Chúa, học hỏi Giáo Lý và quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh, nhất là của người nghèo.

Tiếp đến Gia Ðình Ki-tô hữu hải mỗi ngày một đón nhận Tin Mừng sâu sắc hơn và trưởng thành hơn trong đời sống Ðức Tin, để được Phúc Âm hóa và có sức Phúc Âm hóa người khác nhiều hơn, như Ðức Thánh Cha Phao-lô 6 và Gio-an Phao-lô 2 nhấn mạnh:

"Tùy mức độ Gia Ðình Ki-tô hữu đón nhận Tin Mừng và trưởng thành trong Ðức Tin mà nó trở thành một cộng đồng Phúc Âm hóa. Chúng ta hãy nghe lại lời của Ðức Phao-lô 6: "...Cũng như Giáo Hội, Gia Ðình có nghĩa vụ tạo môi trường cho Tin Mừng được truyền đạt tới và từ đó Tin Mừng được lan tỏa ra. Vậy trong một Gia Ðình ý thức về sứ mạng này, mọi phần tử Gia Ðình đều Phúc Âm hóa và dều được Tin Mừng hóa. Cha mẹ chẳng những truyền thụ Tin Mừng cho con cái mà còn có thể nhận lại chính Tin Mừng ấy đã được sống sâu sắc từ phía con cái. Và một Gia Ðình như thế sẽ có sức Tin Mừng hóa nhiều Gia Ðình khác và cả môi trường chung quanh" (Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, 71; ÐSGÐ, 52).

Ðể mỗi thành viên trong Gia Ðình Ki-tô hữu ý thức sâu sắc về vai trò và trách nhiệm loan báo Tin Mừng của Gia Ðình cũng như để Gia Ðình đón nhận Tin Mừng ngày một sâu sắc hơn và trưởng thành hơn trong đời sống Ðức Tin, Gia Ðình không thể không sử dụng các phương thế truyền thống của Giáo Hội trong lãnh vực tâm linh để gặp gỡ Thiên Chúa và trở nên thánh thiện. Ðó là: cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, tĩnh tâm, học hỏi, rèn luyện các nhân đức Ki-tô giáo (khiêm nhường, từ bỏ, hy sinh, yêu thương, phục vụ tha nhân vì Chúa), kiểm điểm đời sống, tham gia sinh hoạt các nhóm Chia Sẻ Lời Chúa, cầu nguyện hay các hội đoàn nhất là các hiệp hội Gia Ðình. Sử dụng các phương thế này, Gia Ðình sẽ như được tiếp thêm dầu, xăng, sức mạnh để đón nhận Tin Mừng sâu sắc hơn và sống Ðức Tin trưởng thành hơn.

Còn phải nhấn mạnh đến bổn phận của cha mẹ Ki-tô hữu trong việc giáo dục Ðức Tin cho con cái: "Các cha mẹ Ki-tô hữu có bổn phận đặc biệt phải giáo dục cho con cái họ biết cầu nguyện, phải đưa chúng tới chỗ dần dần khám phá ra mầu nhiệm Thiên Chúa và đối thoại cá nhân với Ngài...; trẻ em phải được dạy dỗ để nhận biết và thờ kính Thiên Chúa cùng yêu mến tha nhân, theo như Ðức Tin chúng đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội" (Tuyên ngôn về giáo dục Ki-tô giáo, 3; ÐSGÐ, 60).

III. Kết Luận:

Nếu mỗi Gia Ðình Ki-tô hữu trở thành một trung tâm Phúc Âm hóa thì trước hết những người trong Gia Ðình và toàn Gia Ðình sẽ được Phúc Âm hóa và sau đó mỗi người và cả Gia Ðình sẽ là thừa tác viên của công cuộc Phúc Âm hóa. Trong viễn tượng tốt lành ấy, công cuộc Phúc Âm hóa chắc chắn sẽ có kết quả nhanh chóng và sâu rộng hơn nhiều. Chúng ta hãy nỗ lực và cầu nguyện để Gia Ðình mình và các Gia Ðình thân nhân bạn bè trở thành các trung tâm của Phúc Âm hóa.

IV. Chia Sẻ:

1. Hãy chia sẻ với nhau việc giáo dục Ðức Tin cho con cái trong Gia Ðình: ông bà anh chị dùng những phương thế nào? kết quả ra sao? rút được kinh nghiệm gì?

2. Hãy chia sẻ với nhau việc cả Gia Ðình thực hiện nhiệm vụ Phúc Âm hóa: trong Gia Ðình, trong khu xóm, trong Giáo Xứ, trong xã hội: ông bà anh chị dùng những phương thế nào? kết quả ra sao? rút được kinh nghiệm gì?

V. Thực Hành:

Mỗi ngày, mỗi tuần Gia Ðình tôi thực hiện một công việc (xác định một việc làm cụ thể, ví dụ: đọc và suy niệm Lời Chúa 15 phút, học hay dạy Giáo Lý, thăm người nghèo, giúp đỡ người túng thiếu v.v...) để chu toàn trách nhiệm Phúc Âm hóa của Gia Ðình tôi trong môi trường Gia Ðình tôi đang sống.


8. Gia đình Ki-tô hữu (4): là Hội Thánh Tại Gia

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Có nhiều định nghĩa về Gia Ðình Ki-tô hữu. Nhưng có một định nghĩa gây xốc mạnh nhất và gây xốc cả những người sống đời sống Gia Ðình, những người xưa nay vẫn đề cao và bênh vực Gia Ðình. Ðó là định nghĩa: "Gia Ðình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia, là Hội Thánh nhỏ" Không phải Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 là người đầu tiên có sáng kiến gọi Gia Ðình Ki-tô hữu như thế (xem Tông huấn "Ðời sống Gia Ðình" tức Familiaris Consortio, 21) mà chính là Công Ðồng Vatican 2 đã ví Gia Ðình Ki-tô hữu như một Hội Thánh nhỏ (xem Hiến Chế "Ánh Sáng Muôn Dân", 11).

Chúng ta có thể coi đề tài "Gia Ðình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia" là chóp đỉnh của 12 đề tài về Gia Ðình mà Hội đồng Giáo Hoàng về Gia Ðình đề nghị chúng ta suy tư và trao đổi.

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau lần lượt tìm hiểu 3 vấn đề sau đây:

-          Thế nào là "Hội Thánh Tại Gia"?

-          Xác định "Gia Ðình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia" là có ý nói gì?

-          Ðể trở thành Hội Thánh Tại Gia, Gia Ðình Ki-tô hữu phải thể hiện mình như thế nào?

II. Trình Bày:

1. Thế nào là "Hội Thánh Tại Gia" (Ecclesia domestica)?

Trước hết chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa nói về sự kiện có một không hai trong lịch sử: Thiên Chúa đầu thai làm người trong lòng Trinh nữ Ma-ri-a, trong khung cảnh của một Gia Ðình:

"Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giu-se. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà". Nghe lời ấy, bà rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao, Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ða-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận" (Lc 1, 26 - 33).

Vậy, thế nào là Hội Thánh? - Hội Thánh thường được hiểu là cộng đoàn những kẻ tin vào Chúa Giê-su Ki-tô là Ngôi Lời và là Con Một Thiên Chúa đã được gửi đến trần gian để bộc lộ Thiên Chúa là Tình Yêu Cứu Ðộ và đưa con người vào mối hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và với nhau. Vì thế Hội Thánh được hiểu là cộng đoàn hiệp thông, xuất phát từ Mầu Nhiệm Hiệp Thông của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ðồng thời Hội Thánh còn được hiểu là Cộng Ðoàn Dân Chúa, có một lịch sử riêng bắt nguồn từ lịch sử Ít-ra-en là dân riêng của Gia-vê Thiên Chúa thời Cựu Ước trải dài suốt lịch sử nhân loại. Hội Thánh ấy có một đời sống riêng biệt và đặc thù là đời sống Tin Cậy Mến được thể hiện trong việc cử hành phụng vụ và Bí Tích và việc bác ái phục vụ. Hội Thánh ấy có sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng, là dấu chỉ và công cụ của Nước Trời.

Còn thế nào là Hội Thánh Tại Gia? - Hội Thánh Tại Gia là Hội Thánh thu nhỏ về mặt số lượng, về thời gian và không gian hoạt động của các thành viên, nhưng không thu nhỏ hay giảm thiểu về bản chất và sứ mạng. Thật vậy Hội Thánh có đời sống thế nào thì Gia Ðình Ki-tô hữu có đời sống thế ấy; Hội Thánh có sứ mạng gì thì Gia Ðình Ki-tô hữu cũng có sứ mạng y như thế. Ngoài ra Gia Ðình Ki-tô hữu là trường học Ðức Tin đầu tiên, là môi trường sống các Bí Tích và thực hành các nhân đức Ki-tô Giáo.

Ðoạn Thánh Kinh trên cho thấy Chúa Giê-su Ki-tô đã sinh ra và lớn lên trong Gia Ðình Na-da-rét của Thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a. Hội Thánh không gì khác hơn là "Gia Ðình của Thiên Chúa". Trong lịch sử Ki-tô Giáo ngay từ đầu, hạt nhân của các cộng đoàn tín hữu đầu tiên thường được cấu thành bởi những người "cùng với tất cả nhà mình" trở thành các tín hữu (xem CV 18, 8).

2. Khẳng định "Gia Ðình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia" là có ý nói gì?

Khẳng định "Gia Ðình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia" có nhiều ý nghĩa:

-          Gia Ðình là cộng đoàn hiệp thông và liên đới chặt chẽ giữa các ngôi vị:

Theo Tông huấn "Ðời sống Gia Ðình" thì một trong bốn bổn phận trọng yếu của Gia Ðình Ki-tô hữu là đào tạo một cộng đồng hiệp thông giữa các ngôi vị, tức giữa các thành viên của Gia Ðình với nhau, được coi là bình đẳng về phẩm giá và ơn gọi trước mặt Chúa và trước mặt nhau. Sự hiệp thông mẫu của Gia Ðình cũng như của Hội Thánh là Mầu Nhiệm Thông Hiệp của Thiên Chúa Ba Ngôi là Ðấng thượng trí, toàn năng, cực thánh và yêu thương tột cùng (ÐSGÐ, 18 - 27). Vì thế nét nổi bật của Gia Ðình Ki-tô hữu phải là một cuộc sống thuận hòa, yêu thương, đầm ấm, san sẻ, giúp đỡ, hy sinh, quên mình vì nhau và vì hạnh phúc của nhau.

-          Gia Ðình là cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa:

Nhờ Bí Tích Phép Rửa mà mọi người trong Gia Ðình được chia sẻ chức vụ Tư Tế Cộng Ðồng của Chúa Ki-tô, và Gia Ðình trở thành cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa thông qua đời sống cầu nguyện và lãnh nhận các Bí Tích. Một Gia Ðình như thế sẽ tỏa sáng sự bình an, phó thác, cách sống siêu thoát, không chạy theo danh vọng, của cải, lạc thú mà luôn tìm kiếm những giá trị nhân bản và tâm linh chân chính.

-          Gia Ðình là cộng đoàn đón nhận, sống và làm chứng Tin Mừng:

Nhờ Bí Tích Thêm Sức, Thánh Thể và Hôn Phối mà các thành viên của Gia Ðình được kết hợp mật thiết hơn với Chúa Ki-tô và được mời gọi đón nhận, sống và làm chứng cho Tin Mừng Tình Yêu cũng là Tin Mừng Thập Giá. Gia Ðình sống như thế sẽ thể hiện tính sinh động, lạc quan, sáng tạo và luôn luôn đổi mới, tạo nên sự thu hút mạnh mẽ đối với những ai gần gũi tiếp xúc.

-          Gia Ðình là cộng đoàn phục vụ con người và xã hội:

Bí Tích Truyền Chức Thánh và Hôn Phối là hai Bí Tích có mục đích phục vụ cộng đoàn tức phục vụ xã hội và cộng đồng nhân loại. Chính vì thế mà Ðức Gio-an Phao-lô 2 đã xác định Gia Ðình Ki-tô hữu có bổn phận phải tham gia vào việc phát triển xã hội và Gia Ðình là cộng đoàn phục vụ con người (ÐSGÐ, 42 - 48 và 63 - 64). Như vậy Gia Ðình Ki-tô hữu không chỉ biết lo cho bản thân mình mà còn phải biết lo cho người khác và cho xã hội được phát triển hài hòa và đúng đắn theo ý muốn yêu thương của Thiên Chúa.

3. Ðể trở thành Hội Thánh Tại Gia, các Gia Ðình Ki-tô hữu phải thể hiện mình như thế nào?

Ðể trở thành "Hội Thánh Tại Gia", điều đầu tiên Gia Ðình phải có là ý thức mạnh mẽ và sâu sắc về căn tính cao cả và chức năng trọng đại của mình. Căn tính và chức năng ấy xuất phát từ Kế hoạch Tạo Dựng và Cứu Ðộ của Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì thế mỗi thành viên và cả Gia Ðình phải biết trân trọng căn tính cao cả và chức năng trọng đại của mình và phải nỗ lực hết sức mình để bảo vệ căn tính và thực thi chức năng ấy.

Tiếp đến, Gia Ðình phải mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn những tính chất căn bản của một Hội Thánh Tại Gia là một cộng đoàn hiệp thông liên đới trong yêu thương, một cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa, một cộng đoàn gắn bó chặt chẽ với Lời Chúa (đón nhận, sống và làm chứng) và một cộng đoàn vì người khác, vì xã hội và vì thế giới cũng như Hội Thánh được Chúa Giê-su lập nên để phục vụ Ơn Cứu Rỗi của con người và sự hoàn thành của Nước Trời nơi trần gian.

Nhất là trong bối cảnh của xã hội và thế giới hôm nay, trong đó con người đang có xu hướng hạ thấp phẩm giá của Hôn Nhân và Gia Ðình, coi thường đời sống và các giá trị tâm linh, sống theo chủ nghĩa cá nhân ích kỷ mà quên đi tình liên đới giữa người với người, giữa cộng đồng với cộng đồng, thì Gia Ðình Ki-tô hữu càng phải nêu cao căn tính cao cả và chức năng trọng đại của mình là một Gia Ðình của Chúa, là một Hội Thánh Tại Gia. Cũng trong bối cảnh xã hội và thế giới hôm nay, tính cộng đoàn được đề cao hơn bao giờ hết ở ngoài đời cũng như trong Ðạo, thì Gia Ðình Ki-tô hữu càng phải làm nổi bật tính "tập thể Gia Ðình" trong mọi chọn lựa và dấn thân. Không phải chỉ một cá nhân của Gia Ðình mà cả Gia Ðình chọn lựa và dấn thân theo Tin Mừng: sống trong sạch, thanh bần, siêu thoát, bác ái, yêu thương và phục vụ.

III. Kết Luận:

Nếu các Gia Ðình Ki-tô hữu thực sự là Hội Thánh nhỏ, Hội Thánh Tại Gia thì con người, Giáo Hội và xã hội sẽ mau chóng được đổi mới, không chỉ cách hời hợt bên ngoài mà cách thâm sâu bên trong. Vì chưng, khi các Gia Ðình Ki-tô hữu ý thức về căn tính cao cả và chức năng trọng đại của mình và nỗ lực thể hiện sự ý thức ấy bằng lời nói việc làm cụ thể, thì các Gia Ðình sẽ tạo nên một thế giới mới trong một nhân loại mới.

IV. Chia Sẻ:

1. Nhìn vào Gia Ðình của ông bà anh chị, bạn bè và người xung quanh có đánh giá như thế nào? Bản thân ông bà anh chị có dám cho rằng Gia Ðình mình đã xứng danh là một Hội Thánh nhỏ, Hội Thánh Tại Gia không?

2. Ðể Gia Ðình ông bà anh chị thực sự là một Hội Thánh nhỏ, Hội Thánh Tại Gia, ông bà anh chị thấy Gia Ðình mình cần phải làm gì hơn nữa?

V. Thực Hành:

Ngày hôm nay, trong tuần này Gia Ðình tôi quyết tâm thực hiện việc này... (nói rõ việc ấy) để thể hiện Gia Ðình tôi là một Hội Thánh nhỏ, Hội Thánh Tại Gia.


8. Gia đình Ki-tô hữu (5): nhằm phục vụ Tin Mừng

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Trong thư gửi các tham dự viên Hội Nghị Giáo Dân Châu Á lần thứ hai, họp tại Trung Tâm Mục Vụ Baan Phu Waan, Sampran, Bangkok (Thái Lan) từ ngày 19 đến 24.3.2001, Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 có lời nhắn nhủ ân cần tha thiết như sau:

"Với lòng nhiệt thành mới các con phải tái khám phá ơn gọi nên thánh của hết mọi Ki-tô hữu là yếu tố nền tảng của sứ điệp mà Công Ðồng Vatican 2 đã ban tặng các con (Xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội "Ánh sáng muôn dân", chương 5). Ðòi hỏi nên thánh phải là mục tiêu hàng đầu trong chương trình sống đời Ki-tô hữu. Ðòi hỏi ấy bắt nguồn từ các Bí Tích Khai Tâm Ki-tô giáo. Các con ý thức về thách đố phải sống ơn gọi đặc thù của Giáo Dân trong Giáo Hội và trong thế giới với tinh thần trách nhiệm cao hơn bao giờ hết (Xem Tông Thư "Khởi đầu thiên niên kỷ mới", 46). Do bản chất, ơn gọi ấy có liên quan với hoàn cảnh của Ki-tô hữu trong thế giới: trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc, học hành, bạn bè và giải trí (Xem Tông Huấn "Ki-tô hữu Giáo Dân", 15). Ðối với các tín hữu Giáo Dân đời sống "thường ngày" trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt - có sức thánh hóa - với tình yêu của Ðức Ki-tô... Năm Thánh 2000 đã đánh dấu sự khởi đầu của một Mùa Rao Giảng Tin Mừng Mới là một Công Trình đòi hỏi phải có đời sống thánh thiện trọn vẹn nếu muốn thành công. Châu Á cần những người Giáo Dân thánh thiện!"

Theo văn mạch của bức thư thì sự thánh thiện của Giáo Dân và của gia đình Ki-tô hữu là hết sức cần thiết cho việc loan báo Rao Giảng Tin Mừng ở Châu Á cũng như ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Hôm nay chúng ta sẽ xem xét đề tài thứ năm trong loạt 12 đề tài về Gia Ðình là: "Sự thánh thiện của gia đình Ki-tô hữu nhằm phục vụ Tin Mừng". Vậy chúng ta sẽ cùng nhau lần lượt tìm hiểu các vấn đề sau đây: Gia đình Ki-tô hữu có thể nên thánh được không? Thế nào là một gia đình Ki-tô hữu thánh thiện"? Làm thế nào để gia đình Ki-tô hữu trở nên thánh thiện? Sự thánh thiện của gia đình Ki-tô hữu phục vụ Tin Mừng như thế nào?

II. Trình Bày:

1. Gia đình Ki-tô hữu có thể nên thánh được không?

Quan niệm thông thường của Giáo Dân nói chung và của các người làm chồng làm vợ, làm cha làm mẹ nói riêng:

Hầu hết Giáo Dân Việt Nam đều cho rằng sự thánh thiện chỉ dành riêng cho bậc tu trì là các linh mục và tu sĩ nam nữ, chứ Giáo Dân làm sao mà nên thánh cho nổi? Theo họ, đời sống Giáo Dân và nhất là đời sống gia đình với trăm thứ nhiêu khê, trần tục... chẳng có chút gì là cao sang, là thánh thiện cả. Vì thế những lời nhắn nhủ của Chúa Giê-su trong Phúc Âm như "Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Ðấng trọn lành" hay giáo huấn của Công Ðồng Vatican 2 trong chương 5 Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, liên quan đến ơn gọi nên thánh của mọi Ki-tô hữu, dường như chưa thâm nhập sâu vào nhận thức và tâm hồn người Giáo Dân.

Ngoài ra người Giáo Dân còn thêm định kiến và mặc cảm về bổn phận và khả năng nên thánh của người sống đời gia đình vì thấy trong lịch phụng vụ của Giáo Hội, chẳng mấy khi nghe đến Lễ Kính Thánh Giáo Dân, nhất là thánh đã từng làm chồng làm vợ, làm cha làm mẹ. Toàn là các Thánh Ðồng Trinh và các Thánh Hiển Tu. Thế thì làm thế nào mà người làm chồng làm vợ có thể nên thánh hiển tu và đồng trinh cơ chứ? Phải chăng vì ý thức về thực trạng "không bình thường" ấy trong Giáo Hội mà ngày Chúa Nhật 21.10.2001 vừa qua, Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 đã long trọng nâng cặp vợ chồng người Ý là Ông Luigi và Bà Maria Beltrame Quattrocchi lên hàng Chân Phước? Lễ nghi tôn phong Chân Phước trùng với dịp kỷ niệm 20 năm ban hành Tông Huấn "Ðời Sống Gia Ðình" và cũng là Ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 75.

Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, một đôi vợ chồng được nâng lên hàng Á Thánh vào cùng một ngày. Họ nên thánh vì đã chu toàn tới mức độ anh hùng cuộc sống hôn nhân thường nhật. Ba trong số bốn người con của Ông Bà đã hiện diện trong thánh lễ tôn phong Chân Phước. Ðó là Linh mục Tarcisio, trưởng nam, 96 tuổi và Linh Mục Paolino. Dòng Trappist, là người con thứ ba, 93 tuổi, và người con gái út, bà Enrichetta, 88 tuổi. Chỉ thiếu người con thứ hai là Nữ Tu Maria Cecilia, qua đời năm 1993, hưởng thọ 85 tuổi).

Lắng nghe và tìm hiểu Lời Chúa:

"Sau đó, Người (Ðức Giê-su) đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Ðức Giê-su thì ngày càng khôn lớn và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến" (Lc 2, 51 - 52).

Hai câu Phúc Âm ngắn ngủi hé mở cho chúng ta thấy đời sống thánh thiện của gia đình Na-da-rét: Ðức Ma-ri-a và Thánh Giu-se (tuy không được nhắc đến, nhưng chúng ta có thể hiểu như thế mà không sợ sai) sống một đời nội tâm sâu sắc, luôn biết chiêm niệm những việc kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm cho gia đình mình và cho dân tộc Ít-ra-en.

Ðức Mẹ và Thánh Giu-se chu toàn trách nhiệm làm mẹ làm cha đối với con là Chúa Giê-su tức bổn phận nuôi nấng và giáo dục con nên người con thảo của Thiên Chúa và hữu ích cho xã hội. Còn Chúa Giê-su thì sống trọn đạo làm con trong vâng phục cha mẹ.

Trong quá trình trưởng thành, nhờ công cha mẹ, Chúa Giê-su đã phát triển cách hài hòa: vừa về thể xác (lớn), vừa về tinh thần (khôn: theo nghĩa Thánh Kinh: nghĩa là có khả năng phân biệt điều nào đẹp lòng Thiên Chúa và điều nào không mà thực thi), vừa về mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa và mối giao hảo tốt đẹp với mọi người xung quanh (được Thiên Chúa và mọi người thương mến). Ðó là sự thánh thiện của gia đình Na-da-rét là gương mẫu cho tất cả mọi gia đình.

2. Thế nào là gia đình Ki-tô hữu thánh thiện?

Gia đình Ki-tô hữu thánh thiện là gia đình có mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa và đồng thời có mối tương quan yêu thương hài hòa với tha nhân và môi trường xung quanh. Muốn có hai mối tương quan ấy, gia đình phải dành nhiều yêu thương, sự quan tâm và thời gian cho Chúa cũng như cho tha nhân, phải lấy Chúa và tha nhân làm đối tượng yêu thương và phục vụ của mình. Gia đình ấy không sống khép kín, ích kỷ mà mở rộng và quảng đại theo tinh thần Chúa Ki-tô.

Nói cách khác, gia đình Ki-tô hữu thánh thiện là gia đình chu toàn bổn phận của mình trong Giáo Hội và trong xã hội. Cụ thể và quan trọng nhất là bổn phận bênh vực và phát triển Sự Sống và Tình Yêu là quà tặng lớn nhất mà Thiên Chúa ban cho gia đình mình và các gia đình khác. Kế đến vợ, chồng, cha mẹ và con cái: ai nấy chu toàn bổn phận làm vợ, làm chồng, làm cha mẹ, làm con cái của mình, theo gương Mẹ Ma-ri-a, Thánh Giu-se và Chúa Giê-su ở Na-da-rét.

Cũng có thể hiểu một cách khác là gia đình Ki-tô hữu thánh thiện là gia đình sống với Chúa và sống theo Chúa. Một gia đình sống với Chúa và sống theo Chúa thì sẽ không chạy theo tiền bạc, giầu sang, quyền lực, lạc thú và không làm nô lệ cho các thế lực đen tối của ma quỷ, thế gian và xác thịt. Trái lại gia đình ấy sẽ sống yêu thương, khiêm nhường, đơn sơ, thanh thoát, tin tưởng phó thác vào Chúa như Chúa Giê-su đã dạy trong Phúc Âm.

3. Làm thế nào để gia đình Ki-tô hữu trở nên thánh thiện?

Trước chủ đề thứ năm này, chúng ta đã suy nghĩ, cầu nguyện, chia sẻ và thực hành theo bốn chủ đề:

-          Gia đình tiếp nhận và loan báo Tin Mừng,

-          Gia đình Ki-tô hữu là chứng nhân của Giao Ước Vượt Qua,

-          Gia đình là Trung tâm của Phúc Âm hóa,

-          Gia đình Ki-tô hữu là Hội Thánh Tại Gia.

Nếu chúng ta đã nỗ lực thể hiện những tính chất của gia đình theo bốn chủ đề trên là chúng ta đã làm cho gia đình mình nên thánh thiện. Nghĩa là nếu gia đình dùng mọi phương thế để đón nhận Tin Mừng cách sâu sắc và loan báo Tin Mừng cách tích cực, nếu hai vợ chồng, cha mẹ và con cái sống và làm chứng cho Tình Yêu Thập Giá, nếu mọi người và cả gia đình là "thừa tác viên" của công cuộc Phúc Âm hóa, hay nếu gia đình thể hiện đầy đủ tính Giáo Hội trong đời sống của mình, thì gia đình đã và đang trở nên thánh thiện.

Muốn gia đình nên thánh thì gia đình Ki-tô hữu phải chăm lo việc học hỏi và sống theo Luật Phúc Âm và giáo huấn của Giáo Hội. Luật Phúc Âm là Mến Chúa yêu người: Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như yêu chính bản thân mình. Giáo huấn của Giáo Hội là siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận các Bí Tích và sống các Bí Tích ấy trong gia đình và ngoài xã hội tức sống yêu thương, phục vụ và làm gương sáng cho nhau và cho người xung quanh. Ðể nên thánh, gia đình Ki-tô hữu không thể không coi trọng các phương thế truyền thống của Giáo Hội sau đây:

-          Siêng năng cầu nguyện (chứ không chỉ là đọc kinh),

-          Tích cực tham dự và sống các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và Hôn Phối,

-          Chuyên chăm học hỏi, suy niệm và thực hành Lời Chúa,

-          Tĩnh tâm,

-          Thực hành bác ái phục vụ tha nhân.

4. Sự thánh thiện của gia đình Ki-tô hữu phục vụ Tin Mừng như thế nào?

"Hữu xạ tự nhiên hương", câu nói ấy nói lên tính lây lan, tỏa sáng của đời sống thánh thiện của một người hay một gia đình. Như Ðức Gio-an Phao-lô 2 đã nhắn nhủ các tham dự viên Hội Nghị Giáo Dân châu Á lần thứ hai tại Thái Lan vào tháng 3 năm 2001 sự thánh thiện của Giáo Dân và của gia đình Ki-tô hữu là tối cần thiết cho công cuộc Loan Báo Tin Mừng tại Châu Á ngày nay.

-          Phục vụ Tin Mừng trong chính gia đình mình:

Trước hết sự thánh thiện của gia đình phục vụ Tin Mừng ở trong chính gia đình mình. Tin Mừng không còn là lý thuyết, là nguyên tắc giáo điều nữa mà là thực tế ai nấy cảm nhận được. Khi đó mọi người sống trong bình an, hạnh phúc và thuận hòa với nhau. Mọi người giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ với nhau vừa như những người ruột thịt vừa như những con cái của Chúa.

-          Phục vụ Tin Mừng tại địa bàn dân cư và xã hội:

Kế đến, sự thánh thiện của gia đình phục vụ Tin Mừng tại địa bàn dân cư trong đó gia đình sinh sống vì "Lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn". Những người xung quanh sẽ nhận ra ở gia đình Ki-tô hữu thánh thiện một nét gì độc đáo, rất khác với các gia đình khác. Khi đó mọi người sống xung quanh sẽ thân thiện cởi mở và thích kết thân với gia đình. Và Tin Mừng Chúa được thẩm thấu vào các tâm hồn những người sống gần và có dịp tiếp cận với gia đình Ki-tô hữu thánh thiện.

-          Phục vụ Tin Mừng trong cộng đoàn giáo xứ và Giáo Hội:

Sau cùng, sự thánh thiện của gia đình sẽ tác động đến các gia đình khác trong cộng đoàn giáo xứ. Các thành viên của gia đình, khi tham gia sinh hoạt hội đoàn hay giới sẽ đóng góp vào việc nâng cao chất lượng Phúc Âm nơi những người cùng hội, cùng giới. Ngoài ra các Ơn Gọi Linh Mục, Tu Sĩ và Tông Ðồ Giáo Dân cũng thường chi xuất phát từ các gia đình đạo đức thánh thiện. Nên một gia đình Ki-tô hữu thánh thiện còn có thể đóng góp cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo Hội một cách hiệu quả nữa.

III. Kết Luận:

Một đàng nên thánh không cốt ở việc thực hiện những việc phi thường mà chỉ cốt ở việc thực hiện những việc bình thường, nhưng một cách phi thường, như Thánh Tê-rê-xa Hài Ðồng Giê-su đã sống và đã truyền bí quyết đơn giản ấy lại cho chúng ta. Ðàng khác người hay gia đình Ki-tô hữu nên thánh không phải vì hay cho mình mà là vì hay cho người khác, vì hay cho Tin Mừng của Thiên Chúa nơi Ðức Giê-su Ki-tô.

IV. Chia Sẻ:

1. Mỗi ngày ông bà anh chị đều nỗ lực sống tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Hãy chia sẻ với nhau những nỗ lực ấy để cảm tạ Thiên Chúa và nâng đỡ khích lệ nhau.

2. Cách sống của gia đình ông bà anh chị chắc đã đóng góp vào việc thăng tiến cộng đoàn và những người sống gần gũi, xung quanh. Hãy chia sẻ với nhau những "biến đổi" ấy để cảm tạ Thiên Chúa và học hỏi kinh nhiệm lẫn nhau trong việc phục vụ Tin Mừng.

V. Thực Hành:

Mỗi ngày trong tuần lễ này, gia đình tôi quyết định làm một hai việc sau đây (kể ra cụ thể) để giúp gia đình tôi đạo đức, thánh thiện hơn và có ích hơn cho tha nhân.


9. Gia đình Ki-tô hữu (6): Thánh Thể là dấu chỉ và lương thực cho Tình Yêu

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Nếu ông bà anh chị đến Phòng Tư Vấn về Tình Yêu và Hôn Nhân Gia Ðình để đặt hai câu hỏi này với các chuyên viên của Phòng: "Làm thế nào để nhận ra Tình Yêu đôi bạn không giới hạn?" và "Làm thế nào để nuôi dưỡng Tình Yêu đôi bạn không giới hạn?" thì chắc chắn ông bà anh chị sẽ được các chuyên gia tâm lý gia đình mách cho nhiều bí quyết giá trị.

Còn nếu ông bà anh chị tìm đến với Giáo Hội để đặt hai câu hỏi ấy thì Giáo Hội sẽ trả lời ông bà anh chị một cách không chút do dự: "Thánh Thể là dấu chỉ và lương thực cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn" Có lẽ ông bà anh chị sẽ há miệng ngạc nhiên về câu trả lời ấy và không khỏi thắc mắc khi ra về.

Vậy chúng ta phải hiểu ý nghĩa của đề tài thứ 6 này như thế nào đây? Cụ thể chúng ta phải tìm cách trả lời các câu hỏi sau: Thánh Thể là gì? Làm sao mà Thánh Thể lại là "dấu chỉ" cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn? Làm sao mà Thánh Thể lại là "lương thực" cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn? Vậy những người sống tình yêu đôi bạn phải làm gì với Thánh Thể?

II. Trình Bày:

1. Thánh Thể là gì?

Thánh Thể là cách biểu lộ Tình Yêu và Quyền Năng vô biên của Thiên Chúa làm người, chết cho loài người được sống:

Có một cách rất đơn giản có thể giúp chúng ta hiểu một cách dễ dàng hơn về Thánh Thể. Ông bà anh chị có thể tự hỏi: "Những người yêu nhau thường làm gì cho nhau? thường sống với nhau như thế nào?" Chắc chắn ông bà anh chị sẽ đồng ý với tôi về câu trả lời đơn sơ này: "Những người yêu nhau thì luôn nghĩ tới nhau, luôn muốn ở gần nhau và muốn ở gần nhau càng lâu càng tốt, luôn muốn chia sẻ mọi điều cho nhau". Ðiều này có thể áp dụng vào tình bằng hữu chân chính, tình yêu đôi bạn, tình yêu vợ chồng.

Nhưng chúng ta cũng có thể áp dụng vào Tình Yêu của Thiên Chúa, cách riêng của Ðức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa Ngôi Hai làm Người. Thánh Gio-an, Tông Ðồ được Chúa Giê-su ưu ái nhất đã nói về Tình Yêu ấy của Thầy: "Trước Lễ Vượt Qua, Ðức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng" (Ga 13, 1).

Vì yêu những người thuộc về mình "đến cùng" nên Ðức Giê-su mới lập Bí Tích Thánh Thể, lấy bánh rượu làm Thịt Máu mình cho môn đệ được sống. Chúng ta hãy nghe những lời Ðức Giê-su nói về Thánh Thể, cũng trong Tin Mừng Gio-an và đọc lại tường thuật về việc Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể trong Tin Mừng Mát-thêu.

Lắng nghe và tìm hiểu Lời Chúa:

"Ðức Giê-su nói với họ: Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt Tôi thật là của ăn, và máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Ðấng hằng sống đã sai tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy. Ðây là bánh từ Trời xuống, klhông phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời" (Ga 6, 53 - 58).

"Cũng đang bữa ăn, Ðức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy." Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội." (Mt 26, 26 - 28).

Hai đoạn Phúc Âm trên có liên quan trực tiếp đến Thánh Thể. Thánh Thể là bí tích thật tuyệt vời, vì trong đó Chúa Ki-tô đã để lại cho chúng ta chính mình Người như của ăn của uống, như nguồn mạch Ơn Cứu Ðộ, để chúng ta được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Sự sống ở trong Người, Người đã thông truyền cho chúng ta. Nhờ Thánh Thể Chúa Ki-tô trở thành Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Thể mời gọi các Ki-tô hữu và các gia đình Ki-tô hữu hãy thể hiện tình yêu hy sinh đối với nhau như Chúa Ki-tô đã thể hiện Tình Yêu Hiến Tế của Người đối với chúng ta.

2. Làm thế nào mà Thánh Thể lại là "dấu chỉ" cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn?

Cốt yếu Thánh Thể là biểu hiện của Tình Yêu Hiến Tế. Chúa Giê-su đã "phó nộp mình", đã chịu tra tấn, đánh đập, nhục mạ, kết án và chết oan trên thập giá để nói lên Tình Yêu tột cùng của Người đối với nhân loại nói chung và đối với Hội Thánh nói riêng. Tình yêu ấy được thể hiện bằng Giao Ước Mới nối kết Chúa Ki-tô với Hội Thánh. Và hôn ước của vợ chồng Ki-tô hữu được Thiên Chúa ấn định là dấu chỉ và là phản ảnh của Giao Ước Mới giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh, giữa Chúa Ki-tô và nhân loại. Trong cụ thể tình yêu đôi bạn hay vợ chồng chỉ trọn vẹn ý nghĩa khi tình yêu ấy mang dáng dấp của Tình Yêu Thập Giá của Chúa Giê-su Ki-tô: vợ chồng hy sinh cho nhau, cha mẹ và con cái hy sinh cho nhau để đem hạnh phúc đời này và đời sau cho nhau. Hy sinh đến mức không còn có thể hy sinh hơn được nữa.

Chính đó là cái đẹp của gia đình Ki-tô hữu, của tình yêu vợ chồng Ki-tô hữu. Nhìn vào cách vợ chồng, cha mẹ con cái Ki-tô hữu yêu thương và hy sinh cho nhau, người khác dễ dàng hiểu về Chúa Giê-su, về Thánh Thể, về Thiên Chúa. Thánh Thể là "dấu chỉ" cho tình yêu đôi bạn không giới hạn là như thế!

3. Làm thế nào mà Thánh Thể lại là "lương thực" cho Tình Yêu đôi bạn không giới hạn?

Bất cứ tình yêu nào cũng phải được nuôi dưỡng một cách đầy đủ mới có thể tồn tại và phát triển được. Tình yêu trần tục thì được dưỡng nuôi bằng của ăn của uống trần tục. Còn tình yêu tâm linh thì phải được nuôi dưỡng bằng của ăn của uống tâm linh. Tình yêu đôi bạn Ki-tô hữu có thể khởi đi từ tình yêu trần tục hay pha trộn với tình yêu trần tục, nhưng không được dừng lại ở cấp độ trần tục mà phải được thanh luyện dần dần để trở thành tình yêu tâm linh, tình yêu bác ái.

Nói thế không có nghĩa là sau một khoảng thời gian chung sống, giữa vợ chồng Ki-tô hữu không còn mối quan hệ sinh thể lý và vật chất nữa. Các mối quan hệ ấy vẫn còn, có khi còn mạnh mẽ và thâm sâu hơn lúc ban đầu, nhưng phải được thanh luyện, phải được biến đổi tự bên trong, phải được nâng cao thành một Tình Yêu Ki-tô hữu đích thực là Ðức Ái: "Ðức Ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức Ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả" (1 Cr 13, 4 - 7).

Vậy của ăn của uống thiêng liêng của tình yêu đôi bạn Ki-tô hữu chính là Thánh Thể, lương thực thần linh mà Chúa Ki-tô đã ban cho con cái loài người, cho những người là anh em chị em của Người. Một khi vợ chồng, cha mẹ con cái sống bằng lương thực thần linh ấy thì tình yêu gia đình (tình phụ tử, mẫu tử và phu thê) mới phát triển, mở rộng và vươn cao được.

4. Những người sống tình yêu đôi bạn phải làm gì với Thánh Thể?

Do Bí Tích Rửa Tội, Hôn Phối và Thánh Thể, vợ chồng Ki-tô hữu có dư điều kiện để sống quên mình và hy sinh trọn vẹn cho nhau. Bí Tích Rửa Tội và Hôn Phối chúng ta chỉ lãnh nhận một lần, nhưng chúng ta phải sống hai Bí tích ấy mỗi ngày. Bí Tích Thánh Thể chúng ta có thể lãnh nhận mỗi ngày và chúng ta phải sống mỗi giây phút trong ngày. Sống Bí tích Rửa Tội là sống tư cách là chi thể của Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô, là sống thân phận cành nho ghép vào thân cây nho (Ga 15).

Sống Bí Tích Hôn Phối là sống Tình Yêu và Giao Ước Thập Giá, là sống quên mình và hy sinh "đến cùng" cho người mình yêu. Sống Bí Tích Thánh Thể là đón nhận lương thực thần linh là chính Chúa Ki-tô để trở thành bánh, thành rượu, thành lương thực nuôi sống vợ chồng, cha mẹ con cái mình. Vậy thì chúng ta không còn cách nào khác là siêng năng tham dự Thánh Lễ và Rước Lễ một cách ý thức và sốt sáng rồi thể hiện Ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày của gia đình từ những việc nhỏ mọn, tầm thường nhất cho đến những việc lớn lao và khó khăn, đòi nhiều hy sinh từ bỏ nhất.

III. Kết Luận:

Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Ki-tô hữu, vì nhờ Thánh Thể, con người hèn mọn, yếu đuối, tội lỗi của chúng ta có thể nên thánh, nên con cái Thiên Chúa. Ðời sống và tình yêu vợ chồng Ki-tô hữu chỉ có đầy đủ ý nghĩa theo ý định đời đời của Thiên Chúa khi đời sống và tình yêu ấy nối kết chặt chẽ với Thánh Thể, để Thánh Thể là dấu chỉ và là lương thực cho tình yêu đôi bạn không giới hạn của chúng ta.

IV. Chia Sẻ:

Xin chia sẻ với các gia đình khác: Mỗi ngày ông bà anh chị đều có thể tham dự Thánh Lễ và Rước Lễ tại giáo xứ mình. Ông bà anh chị quan tâm đến hai việc ấy như thế nào? Trong đời sống gia đình ông bà anh chị chắc đã gặp những lúc khó khăn, bế tắc. Thánh Thể có giúp gì ông bà anh chị trong những hoàn cảnh ấy không?

V. Thực Hành:

Vợ chồng và gia đình tôi quyết tâm tham dự Thánh Lễ và Rước Lễ: mỗi ngày, 2 hay 3 hay 4 hay 5 lần mỗi tuần (chọn mức mà phấn đấu có thể thực hiện được) để Thánh Thể trở thành dấu chỉ và lương thực cho tình yêu vợ chồng và gia đình tôi.


10. Gia đình Ki-tô hữu (7): Thứ Tha và Hòa Giải

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. NHẬP ĐỀ

Trong Thư Mục vụ ngày 11.10.2002 về Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu lên những nét đẹp truyền thống của gia đình Việt Nam như sau:

“Nói đến gia đình Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới một nề nếp gia phong rất gần gũi với giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi chữ HIẾU làm đầu nên rất sẵn sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm, trong đó điều răn phải thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau ba điều răn qui định việc thờ phượng Thiên Chúa. Gia dình ấy xem chữ TÍN làm trọng nên dễ dàng gặp thấy nơi điều răn thứ sáu và thứ chín tiếng nói chung nhằm bảo vệ đời sống hôn nhân một vợ một chồng bất khả phân ly. Gia đình ấy gồm có ông bà cha mẹ con cái trên THUẬN dưới HÒA trong một mái nhà đầm ấm, được xem như một môi trường tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển đức tin, nhất là cho việc xưng tụng Thiên Chúa là Cha và coi mọi người như anh chị em.” (Số 2).

Thế nhưng trong thực tế không phải gia đình công giáo nào cũng thể hiện được những nét đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. Trở ngại lớn nhất là sự bất hòa và xúc phạm thường xẩy ra trong gia đình: giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái.

Vậy chúng ta thử hỏi: (1) Do đâu mà thường xẩy ra bất hòa và xúc phạm trong gia đình? (2) Tại sao những người trong gia đình Kitô hữu phải thứ tha và hòa giải với nhau? Thứ tha và hòa giải với nhau sẽ đem lại lợi ích gì? (3) Để thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu, cần có những điều kiện gì?

II. TRÌNH BÀY

1. Nguyên nhân gây bất hòa và xúc phạm trong gia đình.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới bất hòa và xúc phạm trong gia đình. Có nguyên nhân gần và nguyên nhân sâu xa. Nguyên nhân gần là do giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái có nhiều cái khác nhau về tuổi tác, tính tình, sở thích, tập quán, cảm nhận, sức khỏe, áp lực của trách nhiệm và công việc. Nguyên nhân sâu xa là do giới hạn tự nhiên “nhân vô thập toàn” của con người và do hậu quả của tội nguyên tổ, khiến mỗi người đều có những giới hạn, yếu đuối và tội lỗi trong đời sống nhân linh.

2. Lý do và kết quả của sự thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu.

2.1 Lý do tại sao phải thứ tha và hòa giải giữa những người trong gia đình và kết quả của việc thứ tha và hòa giải, xét về mặt tự nhiên, là một cuộc sống thuận hòa đem lại hạnh phúc, bình an và thành công cho gia đình. Ca dao Việt Nam có câu:

“Vợ chồng là nghĩa Tào Khang,

Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui,

Sinh con mới ra thân người,

Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm vui”

Hay “Thuận vợ thuận chồng, tát Bể Đông cũng cạn”

2.2 Còn xét về mặt siêu nhiên, thì gia đình thuận hòa, đầm ấm là điều mà Thiên Chúa mong muốn cho con người. Trong Tám Mối Phúc mà Chúa Giêsu công bố trong bài giảng trên núi, thì đã có những Bốn Mối Phúc có liên quan tới cuộc sống thuận hòa ấm êm giữa người với người ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội:

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thươngï. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,3-4.7.9).

Hơn nữa trong Kinh Lạy Cha, chúng ta “xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.” (Mt 6,12), có nghĩa là việc chúng ta thứ tha cho những người mắc lỗi, xúc phạm đến chúng ta là điều kiện để chúng ta được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, yếu hèn và phản bội xúc phạm đến Người.

3. Các điều kiện cần có để thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu.

3.1 Muốn có sự thứ tha và hòa giải trong gia đình thì trước tiên, xét về mặt tự nhiên, chúng ta phải có:

(1) Lòng yêu thương chân thực:

“Yêu nhau trăm sự chẳng nề,

Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”

”Thương thì củ ấu cũng tròn,

Không thương quả bồ hòn cũng méo”

(Củ ấu vốn méo còn quả bồ hòn vốn tròn)

(2) Sự nhường nhịn lẫn nhau:

“Chồng giận thì vợ bớt lời,

Cơm sôi nhỏ lửa mấy đời mà khê”

Hay “Chồng giận thì vợ bớt lời,

Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng”

Hay “Chồng giận thì vợ làm lành,

Miệng cười hớn hở thưa anh giận gì?

Thưa anh, anh giận em chi?

Muốn cưới vợ lẽ, em thì cưới cho”

(Câu cuối chỉ là kế hoãn binh để chồng bớt giận, bớt nóng mà thôi)

3.2 Còn về mặt siêu nhiên thì chúng ta cần có

(1) Tâm hồn khiêm nhường, tinh thần hy sinh, lòng bao dung quảng đại, và nhất là Đức Ái Kitô giáo:

“Đức Ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).

(2) Nỗ lực sống theo Phúc Âm:

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,3-4.7.9).

(3) Đời sống cầu nguyện:

sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chúng ta vượt thắng chính mình. Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta “xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.” (Mt 6,12), có nghĩa là việc chúng ta thứ tha cho những người mắc lỗi, xúc phạm đến chúng ta là điều kiện để chúng ta được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, yếu hèn và phản bội xúc phạm đến Người.

(4) Siêng năng đón nhận các Bí tích nhất là Bí tích Thống Hối Hòa Giải và Thánh Thể.

Bí tích Thống Hối Hòa Giải chẳng những sẽ xóa tan mọi tội lỗi và đem lại bình an thâm sâu cho tâm hồn chúng ta mà còn cho chúng ta cơ hội cảm nghiệm lòng thương xót bao la của Thiên Chúa đối với mỗi người đầy tội lỗi và yếu hèn. Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm sâu sắc về tình thương tha thứ ấy của Thiên Chúa, chúng ta mới dễ dàng tha thứ cho vợ hay chồng, cho cha mẹ hay con cái của mình. Còn Bí tích Thánh Thể sẽ đưa chúng ta vào mối hiệp thông yêu thương với Thiên Chúa và với tha nhân, trước hết là với những người thân trong gia đình của chúng ta.

III. KẾT LUẬN

Một gia đình yêu thương đầm ấm là Thiên Đường dưới thế. Một gia đình bất hòa, chia rẽ, ghen ghét nhau thì quả là địa ngục trần gian. Ai cũng muốn sống trong Thiên Đường và chẳng ai thích sống trong địa ngục. Cho nên điều tối quan trọng là làm thế nào để gia đình mình thành Thiên Đường dưới thế. Việc ấy không vượt quá khả năng của chúng ta, miễn chúng ta biết tận dụng những điều kiện thuận lợi tự nhiên và những ơn trợ lực siêu nhiên mà Thiên Chúa TÌNH YÊU sẵn sàng ban cho chúng ta.

IV. CHIA SẺ

1. Trong đời sống gia đình, ông bà anh chị đã giải quyết những lần xẩy ra bất hòa, xung khắc, xúc phạm như thế nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm với các gia đình khác.

2. Từ kinh nghiệm sống của gia đình mình, ông bà anh chị thấy những yếu tố nào là quan trọng nhất để có thể thứ tha và hòa giải trong gia đình? Hãy chia sẻ đúc kết kinh nghiệm ấy với các gia đình khác.

V. THỰC HÀNH

Mỗi người, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình chọn một hai việc cụ thể về thứ tha và hòa giải làm quyết tâm thực hành trong tuần, trong tháng.


11. Gia đình Ki-tô hữu (8): là cộng đoàn cầu nguyện

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Ðề tài thứ 4 "Gia đình Ki-tô hữu là Hội Thánh tại gia" đã hàm chứa tính chất của "Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện". Vì Hội Thánh là một cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa và cầu nguyện không ngừng. Nên trong đề tài thứ 8 là: "Gia đình là Cộng Ðoàn Cầu Nguyện" chúng ta sẽ đi sâu hơn vào hoạt động quan trọng này của đời sống gia đình Ki-tô hữu. Các vấn đề cần tìm hiểu là:

-          Khẳng định "Gia đình Ki-tô hữu là Cộng Ðoàn Cầu Nguyện" là có ý nói gì?

-          Ðể trở thành "Cộng Ðoàn Cầu Nguyện", các gia đình Ki-tô hữu phải làm những gì?

-          Ðức Giê-su thực hành và dạy về cầu nguyện thế nào?

-          Thế nào là cầu nguyện Ki-tô giáo?

-          Tầm quan trọng của cầu nguyện đối với Ki-tô hữu và gia đình Ki-tô hữu?

-          Những cách cầu nguyện thích hợp với gia đình Ki-tô hữu hiện nay?

-          Không gian và thời gian thích hợp cho cầu nguyện trong gia đình Ki-tô hữu.

II. Trình Bày:

1. Khẳng định "gia đình Ki-tô hữu là cộng đoàn cầu nguyện" là có ý nói gì?

Có nghĩa là mọi người trong gia đình đều biết, yêu mến và thực hành việc cầu nguyện, không chỉ riêng từng người (cầu nguyện riêng tư, cá nhân) mà là chung với mọi người trong nhà (cầu nguyện chung, cầu nguyện cộng đoàn).

2. Ðể trở thành "Cộng đoàn cầu nguyện", các gia đình Ki-tô hữu phải làm những gì?

Ðể trở thành "Cộng đoàn cầu nguyện", điều đầu tiên gia đình phải có là ý thức mạnh mẽ và sâu sắc về tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống tâm linh của mỗi cá nhân và của cả gia đình. Cầu nguyện nói lên việc con người nhìn nhận mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Ðấng Tạo Thành, Chúa Cứu Ðộ và Quan Phòng, là Cha hằng yêu thương quan tâm săn sóc đến con cái mình.

Tiếp đến, mỗi người trong gia đình phải biết cách cầu nguyện riêng và chung, và cả gia đình phải thực hành việc cầu nguyện chung mỗi ngày để thờ phượng, cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa, xin Thiên Chúa thứ tha mọi tội lỗi và thiếu sót của mình và xin Người ban cho những ơn cần thiết khác cho gia đình mình và các gia đình khác, cho Giáo Hội và xã hội. Nhất là trong bối cảnh của xã hội và thế giới hôm nay, trong đó con người có đang xu hướng coi thường đời sống và các giá trị tâm linh, gạt Thiên Chúa ra ngoài lề cuộc sống, cho rằng bằng kỹ thuật khoa học, mình có thể làm được tất cả, giải quyết được mọi vấn đề thì đời sống cầu nguyện trở nên tối cần thiết.

3. Chúa Giê-su với cầu nguyện

Nếu đọc kỹ các trang Phúc Âm, trước hết chúng ta thấy Ðức Giê-su dành cho việc cầu nguyện một chỗ ưu tiên trong đời sống của Người. Ngoài việc cầu nguyện chung trong gia đình, Hội Ðường và Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su cầu nguyện trước những giai đoạn và công việc quan trọng, như thời gian ở trong hoang địa 40 ngày, như trước khi lập Nhóm Mười Hai, như trước khi bước vào Cuộc Thương Khó. Người cũng thường cầu nguyện trước khi làm phép lạ cứu người như trước khi làm cho La-da-rô sống lại. Người rất ưa thích cầu nguyện sáng sớm hay chiều tối nơi thanh vắng, trên sườn đồi hay bên bờ hồ yên tịnh.

Kế đến chúng ta thấy Chúa Giê-su dạy dỗ các môn đệ khá kỹ càng về cầu nguyện:

-          Về tính hiệu quả của việc cầu nguyện chung giữa hai ba người:

"Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18, 19 - 20).

-          Về sự tin tưởng và kiên trì cần thiết khi cầu nguyện:

"Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ được mở cho. Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Ðấng ngự trên Trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người" (Mt 7, 7 - 11).

-          Về động cơ, tinh thần và cách cầu nguyện:

"Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh em, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh."

"Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Ðừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin." (Mt 6, 5 - 8):

-          Về lời và ý cầu nguyện đẹp lòng Thiên Chúa nhất:

"Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này:

Lạy Cha chúng con là Ðấng ngự trên trời,

xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,

triều đại Cha mau đến,

ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;

xin tha tội chúng con như chúng con cũng tha

cho những người có lỗi với chúng con;

xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,

nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ" (Mt 6, 9 - 13)

Kinh Lạy Cha dạy chúng ta rằng Thiên Chúa thực sự là Cha của chúng ta và trong tình con thảo trước hết chúng ta phải biết quan tâm tới/và cầu nguyện cho những gì liên quan tới Người; rồi chúng ta mới quan tâm và cầu xin những điều cần thiết cho sự sống (thể lý, tâm linh) của chúng ta.

Những điều liên quan tới Cha là: Danh Cha được vinh hiển - Triều đại Cha ngự trị - Ý Cha được mọi người thực hiện.

Những nhu cầu chính đáng của chúng ta là: Lương thực hằng ngày - Ơn tha tội - Không nghe theo cám dỗ - Thóat khỏi sự dữ.

4. Thế nào là cầu nguyện Ki-tô giáo?

"Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên tới Chúa", tức là nghĩ tưởng đến Chúa trong tâm tình chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ, sám hối, quyết tâm và cầu xin. "Cầu nguyện là sống thân mật với Chúa", tức là nói chuyện với Chúa (nghe Chúa nói và nói với Chúa), là đón nhận ánh sáng và sức mạnh của Chúa, là hiệp thông với Chúa.

5. Tầm quan trọng của cầu nguyện đối với Ki-tô hữu, nhất là gia đình Ki-tô hữu

Cầu nguyện rất quan trọng đối với Ki-tô hữu vì đó là cách sống thân mật với Chúa, và giúp chúng ta đón nhận được ánh sáng và sức mạnh của Chúa. Cầu nguyện được ví như hơi thở đối với một cơ thể: hơi thở đem dưỡng khí cho cơ thể thế nào thì cầu nguyện cũng đem sức sống thiêng liêng cho cá nhân và gia đình như thế.

Cầu nguyện rất quan trọng đối với gia đình vì Thiên Chúa không cứu chuộc từng người riêng lẻ mà Chúa muốn qui tụ con người thành cộng đoàn và liên kết họ với nhau. Khi vợ chồng, cha mẹ con cái cùng nhau cầu nguyện thì nói lên mối liên kết, hiệp thông, đồng tâm, đồng nguyện giữa những người thân trong gia đình. Khi vợ chồng cha mẹ con cái cùng cầu nguyện cho nhau thì thể hiện tình yêu thương tinh thần trách nhiệm và tình liên đới đối với nhau.

Cầu nguyện trong gia đình còn là một phương cách tối hảo để Rao Giảng Tin Mừng, nhất là khi việc cầu nguyện ấy tạo nên một gia đình Ki-tô hữu yêu thương, thuận hòa, quan tâm đến những người chung quanh, cởi mở với mọi người, nhất là với người nghèo.

6. Những cách cầu nguyện thích hợp với gia đình Ki-tô hữu ngày nay

Ngày nay tâm trí con người bị chi phối rất nhiều bởi chuyện "cơm áo gạo tiền" nên khó tập trung. Cuộc sống lại bon chen, xô bồ nên có rất ít thời gian. Vì thế cha mẹ phải biết cách tổ chức việc cầu nguyện trong gia đình sao cho vừa ngắn gọn vừa có chất lượng mà lại không làm cho con cái ngán ngại. Sau đây là những cách thích hợp cho việc cầu nguyện trong gia đình:

-          Ðọc một ít kinh: miệng đọc chậm rãi, tâm trí tập trung vào lời kinh, lòng suy gẫm... Ðọc một đoạn Kinh Thánh, nhất là Phúc Âm: một người đọc, cả nhà cùng lắng nghe, tìm hiểu, đón nhận sứ điệp của Chúa, để Lời Chúa chất vấn và đáp trả bằng hành động cụ thể. Cha mẹ hay anh chị lớn nên có lời hướng dẫn, gợi ý giúp người khác hiểu và đón nhận Lời Chúa.

-          Cha mẹ con cái lần lượt nói với Chúa những tâm tình thật của mình: chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ, xin lỗi, quyết tâm, cầu xin... bằng những câu nói tự phát, đơn sơm vắn gọn. Ví dụ: "Lạy Chúa, con yêu Chúa, con chúc tụng, ngợi khen Chúa, vì...", "Lạy Cha, con dâng ngày hôm nay, công việc này cho Cha", "Xin Cha chúc lành cho ngày hôm nay, cho công việc này. Xin cho con biết sống đẹp lòng Cha", "Cha ơi, con sung sướng được làm con của Cha", "Xin Chúa giúp con sống hy sinh quên mình, bác ái", "Xin Chúa chúc lành cho tình yêu của con, cho người yêu của con", "Xin Chúa thứ tha sự ươn lười, tội lỗi của con" v.v...

7. Không gian và thời gian thích hợp cho cầu nguyện trong gia đình Ki-tô hữu:

-          Không gian: Những nơi chốn thích hợp: phòng khách, phòng ăn...

-          Thời gian: Trước bữa ăn chung, trước khi đi ngủ... (Vào những ngày, những dịp đặc biệt của gia đình: ngày có bầu, sinh con, đầy tháng, thôi nôi của các con, kỷ niệm thành hôn, sinh nhật của vợ chồng, con cái, khi gặp khó khăn, hoạn nạn cũng như trong các niềm vui lớn của gia đình thì nên có những buổi cầu nguyện đặc biệt hoặc ở nhà hoặc ở ngoài trời).

III. Kết Luận:

Một nghiên cứu cho thấy ơn gọi linh mục và tu sĩ của Giáo Hội Pháp tỷ lệ thuận với việc các gia đình thực hành việc cầu nguyện trong gia đình. Ðiều đó nói lên tầm quan trọng của cầu nguyện trong gia đình đối với Giáo Hội và xã hội. Xã hội Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng và sâu rộng, các gia đình Việt Nam cũng đang chịu tác động tiêu cực từ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, từ luồng văn hóa thực dụng, duy vật, vô thần... Phương thế hữu hiệu là cầu nguyện trong gia đình như lời nhắn nhủ và kêu gọi của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam trong Thư Mục Vụ năm 1998:

"Việc cầu nguyện trong gia đình và việc kiểm điểm đời sống hằng ngày giúp gia đình yêu thương và sống hiệp nhất"... "Vậy các gia đình hãy canh tân việc đọc kinh cầu nguyện, đặc biệt dành thời giờ cho việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa như Thượng Hội Ðồng Giám Mục về Châu Á nhắc nhở: Lời Chúa cần có chỗ trung tâm trong đời sống chúng ta và phải nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta (số 7).

IV. Chia Sẻ:

Ông bà anh chị tổ chức việc cầu nguyện trong gia đình mình như thế nào? Gặp thuận lợi khó khăn gì? Có kết quả gì trên đời sống gia đình và hàng xóm không? Làm thế nào để việc cầu nguyện trong gia đình vừa ngắn gọn vừa có chất lượng vừa được con cái chấp nhận, ông bà anh chị chia sẻ kinh nghiệm và suy nghĩ của mình để giúp các gia đình khác.

V. Thực Hành:

1. Thực hiện việc cầu nguyện trong gia đình với nhau và cho nhau bằng nhiều cách khác nhau.

2. Thỉnh thoảng chia sẻ giữa những người trong gia đình với nhau về những khó khăn, kết quả, cảm nhận, thay đổi của riêng mình nhờ cầu nguyện.


12. Gia đình Ki-tô hữu (9): là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

"Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" là đề tài thứ 9 trong loạt 12 đề tài mà Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình đề nghị cho chúng ta suy tư và trao đổi về Gia đình. Có lẽ cách đặt tên đề tài hơi khó hiểu. Ý muốn nói là gia đình có mối tương quan chặt chẽ với xã hội.

Chúng ta biết Tông Huấn "Ðời Sống Gia Ðình" của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 đã đưa ra bốn bổn phận của gia đình Ki-tô hữu thì bổn phận thứ ba là "Gia đình Ki-tô hữu tham gia vào việc phát triển xã hội" (ÐSGÐ, 43 - 48).

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu:

-          Thế nào là "Thiện hảo xã hội"?

-          Nói "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" là có ý nói gì?

-          Gia đình Ki-tô hữu có thêm động lực và ý nghĩa gì mới để trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội?

-          Ðể trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội, gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

-          Ðể gia đình trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội, Giáo hội và xã hội phải làm gì cho gia đình?

II. Trình Bày:

1. Thế nào là "Thiện hảo xã hội"?

"Thiện hảo xã hội" hay "thiện ích xã hội" đồng nghĩa với một từ được nhiều người dùng hơn, là "công ích" (bien commun). Ðó là tất cả mọi điều kiện, mọi tiện nghi về vật chất và tinh thần (văn hóa, xã hội, giáo dục, chính trị, môi sinh và tôn giáo) mà một xã hội con người có được nhờ sự đóng góp của mọi công dân, mọi gia đình và mọi tổ chức trong xã hội ấy. Thí dụ: đường xá, cầu cống, điện nước, các ngành nghệ thuật, các phương tiện truyền thông (báo chí, phim ảnh, phát thanh truyền hình), bệnh viện, trường học, nhà máy...

Các thành phần xã hội đóng góp vào việc xây dựng công ích bằng nhiều cách khác nhau: trước hết là bằng sự cống hiến lao động và tài năng, kế đến là bằng việc nộp thuế qua lao động, sản xuất, dịch vụ, buôn bán sau cùng là bằng sự dâng hiến của cải tiền bạc của những con người có lòng hảo tâm, từ thiện.

2. Nói "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" có ý nói gì?

Trước hết, nói "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" có nghĩa là: giữa gia đình và xã hội, có mối tương quan chặt chẽ: "Gia đình được Ðấng Tạo hóa đặt làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người", nên gia đình trở thành "tế bào đầu tiên và sống động của xã hội". (Sắc Lệnh về Tông Ðồ Giáo Dân, 11; ÐSGÐ, 42).

Và "Gia đình có những liên hệ chặt chẽ và sống động với xã hội vì gia đình làm nền tảng cho xã hội và không ngừng tiếp sức cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống: chính giữa lòng gia đình đã sinh ra các công dân, và chính trong gia đình mà các công dân ấy lần đầu tiên thực tập các nhân dức xã hội, là sinh hồn cho sinh hoạt và sự phát triển xã hội" (ÐSGÐ, 42)

Kế đến, nói "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" có nghĩa là: thiện hảo xã hội gắn liền với gia đình và xuất phát từ đó. Thật vậy thiện hảo xã hội là do con người tạo nên. Mà gia đình là trường học đầu tiên giáo dục con người và cung cấp cho con người kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, làm nền tảng cho sự đóng góp của con người vào thiện hảo xã hội sau này, như Tông huấn Ðời sống gia đình khẳng định:

"Chính kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ phải là đặc điểm cho đời sống thường nhật của gia đình, và tạo nên phần thiết yếu và căn bản mà gia đình đóng góp cho xã hội... Các tương quan giữa những phần tử trong cộng đồng gia đình được phát triển dưới dự thúc đầy và hướng dẫn của luật "cho không" bằng cách kính trọng và vun trồng nơi mọi người cũng như nơi mỗi người, ý thức về phẩm giá con người như nguồn giá trị duy nhất, cụ thể hóa trong sự đón tiếp nồng nhiệt, gặp gỡ và đối thoại, quảng đại sẵn sàng phục vụ vô vị lợi và tương trợ sâu xa... Như vậy, phát huy sự hiệp thông đích thực giữa những ngôi vị có trách nhiệm trong gia đình trở thành việc thực tập căn bản và không thề thay thế được cho đời sống xã hội, một gương mẫu và là một khích lệ cho các tương quan cộng đồng mở rộng, được đánh dầu bằng các đức tính: kính trọng, công bằng, ý thức đối thoại, tình yêu.

"Bằng cách ấy gia đình làm nên cái nôi và phương tiện hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và ngôi vị hóa xã hội: chính gia đình hoạt động cách độc đáo và sâu xa cho công cuộc kiến tạo thế giới, giúp đem lại một đời sống thực sự nhân đạo, cách riêng là bảo tồn và truyền đạt các nhân đức và các "giá trị" (ÐSGÐ, 43).

Sau cùng nói "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" còn có nghĩa là đối với xã hội, gia đình chẳng những có vai trò xã hội: "Gia đình dù biệt lập hay kết thành hiệp hội, đều có thể và phải dấn thân cho nhiều công cuộc phục vụ xã hội, cách riêng la lo cho những người nghèo và cho những người và hoàn cảnh mà các tổ chức từ thiện và cứu tế công cộng không thể lo hết được" mà còn có vai trò chính trị nữa: "Vai trò xã hội của gia đình còn được mời gọi diễn tả đưới hình thức can thiệp chính trị: chính các gia đình là những kẻ đầu tiên phải làm sao để các luật lệ và cơ chế của nhà nước không những không làm tổn thương các quyền lợi và bổn phận của gia đình, nhưng cón nâng đỡ bảo vệ chúng một cách tích cực" (ÐSGÐ, 44).

Chúng ta đã biết: mục đích chính của chính trị là xây dựng thiện hảo xã hội hay công ích. Mỗi khi gia đình đóng vai trò chính trị của mình đối với xã hội là để giúp xã hội đạt được thiện hảo lớn hơn và đích thực hơn.

3. Gia đình Ki-tô hữu có thêm động lực và ý nghĩa gì mới để trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội?

Mô hình kiểu mẫu của mọi cộng đoàn là Cộng đoàn tín hữu đầu tiên trong Công vụ Tông đồ, trong đó mọi người yêu thương, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để cùng nhau phụng sự Thiên Chúa: "Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng..." "Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu..." "Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Ðền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ" (Cv 2, 42. 44 - 47).

Ân sủng và trách nhiệm của gia đình Ki-tô hữu đem lại động lực và ý nghĩa mới cho gia đình Ki-tô hữu trong việc trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội: "Vai trò xã hội độc đáo của mọi gia đình cũng là vai trò xã hội của gia đình Ki-tô hữu, nhưng theo một danh hiệu mới mẻ và đặc biệt hơn, vì gia đình này được bí tích Hôn phối thiết lập. Khi đảm nhận thực tại nhân loại của tình yêu vợ chồng trong mọi chiều kích, Bí tích Hôn phối làm cho đôi bạn và cha mẹ Ki-tô hữu có klhả năng sống ơn gọi Giáo Dân -và đó là trách nhiệm của họ- và do đó có khả năng "tìm kiếm Nước Thiên Chúa cách chính xác qua việc quản trị các thực tại trần thế mà họ đang xếp đặt theo ý Thiên Chúa" (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, 31; ÐSGÐ, 47)

4. Ðể trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội, các gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

Ðể trở thành "trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội", điều đầu tiên gia đình phải có là ý thức mạnh mẽ và sâu sắc về vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của mình. Vai trò và trách nhiệm ấy, một đàng do chính Thiên Chúa đã trao cho gia đình khi đặt gia đình là nguồn gốc và nền tảng của xã hội, đàng khác được Giáo Hội cậy nhờ vì không có gia đình, Giáo Hội không thể thâm nhập vào môi trường đặc biệt này và làm cho xã hội trở thành Vương Quốc của Thiên Chúa được.

Mỗi thành viên và cả gia đình phải tạo ý thức cho mình và cho nhau bằng việc lắng nghe Lời Chúa, học hỏi Giáo Lý và Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội và quan tâm đến nhu cầu của những người chung quanh, nhất là của người nghèo.

Tiếp đến gia đình phải mỗi ngày một dấn thân hơn vào việc biến đổi và thăng tiến xã hội về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tôn giáo, tâm linh và môi sinh, bằng lao động chân tay và trí óc, bằng cách làm cho các luật lệ, cơ chế xã hội có nhiều tính nhân bản và dân chủ hơn. Làm như thế là gia đình đóng vai trò làm muối men và ánh sáng của gia đình Ki-tô hữu và xây dựng Nước Thiên Chúa trên trần gian vậy. Vì vấn đề xã hội là của mọi người và vì những nỗ lực cá nhân không thể đem lại kết quả mong muốn, nên gia đình Ki-tô hữu phải liên kết với các gia đình khác - lương cũng như giáo - và với các tổ chức xã hội có mục đích bênh vực quyền con người và phát triển xã hội để tạo nên sức mạnh cần thiết.

Còn phải nhấn mạnh đến bổn phận của cha mẹ Ki-tô hữu trong việc giáo dục con cái về vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của mình, về ý thức công dân và những nhân đức xã hội theo tinh thần Ki-tô giáo.

5. Ðể gia đình trở thành trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội, Giáo Hội và xã hội phải làm gì cho các gia đình?

a. Vai trò và trách nhiệm của Giáo hội toàn cầu:

Chúng ta thấy Giáo Hội Công Giáo Rô-ma và cách riêng Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 luôn đi tiên phong trong việc bênh vực các gia đình. Chúng ta kể ra đây một số sự việc nổi bật: tại giáo triều Vatican có Hội Ðồng Giáo Hoàng về Gia Ðình (như một Bộ của Giáo Hội Trung Ương) đặc trách về các vấn đề gia đình; Thượng Hội Ðồng Giám Mục về Gia Ðình (1980); Tông Huấn Ðời sống Gia đình (1981); các hội nghị và các cuộc gặp gỡ của các gia đình; các tài liệu về gia đình; các phát biểu của Ðại Diện Giáo Hội ở Vatican, ở Diễn Ðàn Liên Hiệp Quốc và ở các hội nghị quốc tế khác. Ðặc biệt ngày 25.11.1983, Tòa Thánh đã công bố Bản Hiến Chương về Những Quyền của Gia Ðình, trong đó nêu 14 quyền mà những quyền quan trọng nhất được kể ra dưới đây:

-          Quyền được hiện hữu và được phát triển trong tư thế của gia đình (quyền lập gia đình).

-          Quyền được tự do kết hôn với người mình yêu.

-          Quyền quyết định về số con cái.

-          Quyền được sống từ giây phút đầu tiên cho đến giây phút cuối cùng.

-          Quyền giáo dục con cái.

-          Quyền tồn tại và phát triển.

-          Quyền sống theo xác tín tôn giáo.

-          Quyền thi hành chức năng xã hội và chính trị.

-          Quyền được hưởng một chính sách gia đình thỏa đáng.

-          Quyền được hưởng một chế độ xã hội và kinh tế xứng đáng.

-          Quyền có một chỗ ở thích hợp.

-          Quyền được di trú và được đối xử tốt đẹp. (ÐSGÐ, 46).

b. Vai trò và trách nhiệm của Giáo hội Việt Nam:

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng về gia đình trong những dịp hội nghị thường niên những năm vừa qua. Cách riêng trong hội nghị thường niên năm nay, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã công bố Thư Mục Vụ về Hôn Nhân và Gia Ðình, ngày 11.10.2002. Việc mà mọi người mọi gia đình có quyền trông chờ là các Giáo Phận và các Giáo Xứ thực hiện những điều đã được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam hoạch định trong Thư Mục Vụ nói trên. Cụ thể:

Ở cấp Giáo Phận có 5 công việc như sau:

1.      Xác định Hôn Nhân và Gia Ðình là ưu tiên trong đường hướng Mục Vụ 2003 của Giáo Phận.

2.      Hình thành Văn phòng Mục Vụ về Hôn Nhân và Gia Ðình trong Giáo Phận.

3.      Soạn thảo một chương trình Giáo Lý hôn nhân.

4.      Ðào tạo một đội ngũ Giáo Lý viên vững vàng.

5.      Kêu gọi sự cộng tác của Giáo Dân có khả năng chuyên môn về các ngành có liên quan tới đời sống Hôn Nhân và Gia Ðình.

Ở cấp Giáo Xứ cũng có 5 công việc như sau:

1.      Tổ chức các lớp học hỏi về Hôn Nhân và Gia Ðình, không chỉ cho những người sắp bước vào đời sống hôn nhân gia đình mà cho cả những người đang sống đời sống gia đình. Lý do là nội dung và thời gian dành cho lớp / khóa Chuẩn Bị Hôn Nhân Gia Ðình rất hạn chế, không thể coi đó là đủ cho sự giáo dục gia đình về các lãnh vực nhân bản và tâm linh.

2.      Mời gọi sự cộng tác của Giáo Dân chuyên môn các ngành có liên quan tới Hôn Nhân và Gia Ðình.

3.      Ðào tạo một đội ngũ Giáo Lý Viên vững vàng.

4.      Thành lập bộ phận chuyên trách về gia đình nằm trong Ban Mục Vụ Giáo Xứ.

5.      Tổ chức các sinh hoạt Mục Vụ Gia Ðình vào những dịp thuận lợi.

c. Vai trò và trách nhiệm của xã hội:

Nếu gia đình có vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị đối với xã hội thì xã hội cũng có trách nhiệm đối với gia đình. Trách nhiệm đó là gia đình phải phục vụ gia đình: "Tương quan chặt chẽ giữa gia đình và xã hội một đàng đòi hỏi gia đình phải mở rộng và tham tham gia vào xã hội cũng như tham gia vào việc phát triển xã hội, đàng khác lại đòi xã hội không được thiếu sót trong bổn phận của mình là tôn trọng va thăng tiến gia đình".

Cụ thể là: "Xã hội và đúng hơn nữa là quốc gia phải nhìn nhận rằng gia đình là "một xã hội được hưởng một quyền lợi riêng biệt và ưu tiên" do đó trong những gì liên hệ giữa quốc gia và gia đình, quốc gia có nghĩa vụ phải theo đúng nguyên tắc hỗ trợ gia đình... Quốc gia không được tước mất những trách nhiệm mà gia đình có thể tự mình chu toàn một cách tốt đẹp..., trái lại phải hết sức tạo điều kiện thuận lợi và khơi động những sáng kiến có trách nhiệm của gia đình..., phải cung ứng cho các gia đình mọi sự trợ giúp - về kinh tế, xã hội, giáo dục, chính trị, văn hóa - mà các gia đình cần để hoàn thành các nghĩa vụ một cách thật sự nhân bản" (ÐSGÐ, 45).

III. Kết Luận:

Có nhận xét là người và gia đình Công Giáo Việt Nam còn yếu kém trong ý thức về vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của mình đối với xã hội và trong xã hội. Tình trạng ấy do nhiều nguyên nhân, vừa chủ quan vừa khách quan. Nguyên nhân chủ quan là việc giáo dục đức tin chưa toàn bộ khi việc dạy Giáo Lý nhấn mạnh đến cách sống đạo trong nhà thờ nhiều hơn là cách sống đạo ngoài xã hội.

Thật ra thì việc dạy Giáo Lý nếu có nhắc đến vai trò và trách nhiệm xã hội của Ki-tô hữu thì lại chỉ đề cập đến những việc có tính xã hội như cứu trợ người nghèo, giúp đỡ người tàn tật... chứ chưa đề cao trách nhiệm thay đổi tình trạng và cơ chế xã hội bất công, đàn áp, bóc lột. Nguyên nhân khách quan là hoàn cảnh xã hội và chính trị không cho phép người và các gia đình Công Giáo chu toàn một số nhiệm vụ xã hội và chính trị của mình. Cả hai nguyên nhân đều thúc đẩy chúng ta phải dấn thân nhiều và tích cực hơn nữa để thay đổi tình trạng hiện nay.

IV. Chia Sẻ:

Ông bà anh chị hãy chia sẻ với nhau những nỗ lực mà gia đình mình đã thực hiện để chu toàn vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của gia đình mình... Ông bà anh chị hãy chia sẻ với nhau cách mình giáo dục con cái để giúp chúng trở thành những công dân gương mẫu.

V. Thực Hành:

Mọi thành viên và cả gia đình tích cực tham dự các sinh hoạt tổ dân phố, đoàn đội, giới, cứu trợ, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chống tệ nạn xã hội, xây dựng tình đoàn kết liên đới... trong khu vực sống của gia đình, để chu toàn vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của gia đình Ki-tô hữu của mình.


13. Gia đình Ki-tô hữu (10): đối với những người yếu kém nhất

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Trong đề tài thứ 9: "Gia đình là trung tâm và nguồn phát sinh thiện hảo xã hội" chúng ta đã thấy vai trò và trách nhiệm xã hội và chính trị của gia đình. Ðề tài thứ 10 này sẽ tiếp nối đề tài thứ 9 và tập trung vào một hạng người đặc biệt của xã hội: đó là những người yếu kém nhất trong xã hội. Những người yếu kém nhất này phải được các gia đình quan tâm chăm sóc và phục vụ như là đối tượng ưu tiên. Chính Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 cũng nói đến nhiệm vụ này của gia đình trong Tông Huấn Ðời Sống Gia Ðình:

"Gia đình dù biệt lập hay kết thành hiệp hội, đều có thể và phải dấn thân cho nhiều công cuộc phục vụ xã hội, cách riêng là lo cho những người nghèo và cho những người và những hoàn cảnh mà các tổ chức từ thiện và cứu tế công cộng không thể lo hết được." (ÐSGÐ, 44).

Và nền thần học của các Giáo Hội thuộc thế giới thứ ba, cách riêng của Giáo Hội Nam Mỹ và Á Châu đã mang đậm "một chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo" (Option préférentielle pour les pauvres).

Vậy hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu: Ai là những người yếu kém nhất trong xã hội ngày hôm nay? Tại sao những người yếu kém nhất ấy lại được coi là đối tượng ưu tiên của gia đình và tình yêu? Muốn dành ưu tiên cho những người yếu kém nhất trong xã hội gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

II. Trình Bày:

1. Ai là những người yếu kém nhất trong xã hội hôm nay?

-          Những người hèn mọn nhất theo Tin Mừng Mát-thêu, chương 25:

Trong câu chuyện kể về Cuộc Phán Xét Chung trong Mt 25, 31 - 46, chúng ta thấy Ðức Giê-su đã kể ra một loạt những người mà Người xem là những "anh em hèn mọn nhất" của Người. Ðó là những kẻ đói ăn, khát uống, bơ vơ không cửa không nhà, không đủ quần áo che thân, đau yếu bệnh tật, bị tù tội.

-          Những người cần được quan tâm nhất về mục vụ gia đình theo Tông Huấn Ðời Sống Gia Ðình:

Trong phần thứ ba nói về Mục Vụ Gia Ðình. Tông Huấn Ðời Sống Gia Ðình có nêu lên một số trường hợp đặc biệt mà Mục Vụ Gia Ðình cần quan tâm cách riêng. Phải chăng chúng ta cũng có thể coi đây là những người yếu kém nhất, không phải vì họ thế này thế nọ mà vì họ cần đến sự quan tâm của Giáo Hội. Ðó là: gia đình di dân; gia đình những người bị bó buộc phải vắng mặt lâu ngày như quân nhân, thủy thủ, du mục, tù nhân, tỵ nạn hay bị lưu đày; những gia đình giũa đô thị mà thực tế lại sống bên lề; các gia đình không nhà cửa; các gia đình không đầy đủ, chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ; những gia đình có con bị tàn tật hay nghiện ma túy; những gia đình có người nghiện rượu; những gia đình bị tách khỏi môi trường văn hóa và xã hội của họ hay có nguy cơ mất môi trường ấy; những gia đình bị kỳ thị vì chính trị hay vì những lẽ khác; những gia đình bị xâu xé vì ý thức hệ; những gia đình không thể dễ dàng tiếp xúc với Giáo Xứ; những gia đình bị bạo hành hay bị ngược đãi vì Ðức Tin; những gia đình vị thành niên; những người già cả cô đơn và túng thiếu (xem ÐSGÐ, 77).

Ngoài ra còn có những hoàn cảnh đặc biệt khác như hôn nhân hỗn hợp; hôn nhân trái qui tắc (hôn nhân thử, chung sống không hôn nhân, người Công Giáo chỉ kết hôn theo luật dân sự, ly thân và ly dị không tái hôn, ly dị tái hôn) và những người không có gia đình và các gia đình trẻ... (xem ÐSGÐ, 78 - 85).

-          Những người yếu kém nhất trong xã hội Việt Nam hôm nay:

Trong cuộc hội thảo "40 năm sau Vatican 2 nhìn lại" do Ủy Ban Giám Mục về Văn Hóa tổ chức tại Toà Tổng Giám mục Sài-gòn trong ba ngày 11,12 và 13.12.2002, Linh Mục Vũ Khởi Phụng, Dòng Chúa Cứu Thế đã trình bày đề tài: "Linh mục, con nợ đặc biệt của người nghèo và người yếu đuối". Ngoài những người sống trong các dưỡng lão, các trẻ của các Lớp Học Tình Thương, các trẻ khuyết tật, những người phong cùi, những nạn nhân các tệ nạn xã hội như phá thai, ma túy, HIV, AIDS,... ngài đã kể ra 5 loại đối tượng khác mà ngài cho là những người đang cần và đang tìm Ðức Tin. Ðó là: Anh chị em các dân tộc thiểu số; Các bạn trẻ, sinh viên, học sinh; Những người gốc Công Giáo, nhưng đã nhạt Ðức Tin; Những người có thành kiến, ác cảm hoặc lãnh đạm với đạo, nhưng sau đổi ý; Những nạn nhân của các gia đình tan vỡ.

Không ai cấm chúng ta xếp tất cả năm hạng người này vào hàng ngũ những người yếu kém nhất của xã hội hôm nay, tuy về một số mặt nào đó, họ không hề yếu kém.

2. Tại sao gia đình Ki-tô hữu phải dành tình yêu thương đặc biệt cho những người yếu kém nhất trong xã hội?

-          Trước hết, gia đình Ki-tô hữu phải dành tình yêu thương đặc biệt cho những người yếu kém nhất trong xã hội vì tình đồng loại, đồng bào. Cha ông ta đã nói: "Lá lành đùm lá rách" hay "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" để giáo dục chúng ta về tình liên đới, nghĩa đồng bào (người cùng trong một bọc theo truyền thuyết 100 trứng con Lạc cháu Hồng) phải biết đùm bọc lẫn nhau, nhất là trong cảnh khó khăn, hoạn nạn.

-          Kế đến, gia đình Ki-tô hữu phải dành tình yêu thương đặc biệt cho những người yếu kém nhất trong xã hội vì đó là tinh thần và Giáo Lý của Ðức Ki-tô:

"Ðức Giê-su đáp: Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các Sách Ngôn Sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy" (Mt 22, 37 - 40).

-          Sau cùng, gia đình Ki-tô hữu phải dành tình yêu thương đặc biệt cho những người yếu kém nhất trong xã hội vì chính Ðức Ki-tô:

Ðức Ki-tô đã nêu gương cho chúng ta trong việc yêu thương chăm sóc chữa trị những người bị thần ô uế nhập, đau ốm, bị quỷ ám, phong hủi và Người đã làm việc hết sức mình cho người nghèo ấy: "Ðức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết bệnh hoạn tật nguyền... "Ðức Giê-su thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt" (Mt 10, 35 - 36; đọc thêm Mc 1, 21 - 45).

Ðức Ki-tô đã dạy dỗ Ðức Thương Người: "Anh em phải có lòng nhân từ, như Cha anh em là Ðấng nhân từ. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại." (Lc 6, 36.39) và đưa ra cho chúng ta khuôn vàng thước ngọc làm tiêu chuẩn cho cách sống và hành động: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó." (M7 7, 13 - 14).

Nhất là Ðức Ki-tô đã đồng hóa mình với người nghèo, với những ai yếu kém nhất, coi những hành động làm cho và làm vì người nghèo là làm cho và làm vì chính Chúa: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy." - "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy." ( Mt 25, 40 và 45).

Chúng ta biết rất rõ: "làm hay không làm như thế" có nghĩa là cho hay không cho ăn, cho hay không cho uống, cho hay không cho mặc, thăm viếng hay không thăm viếng, đón tiếp hay không đón tiếp. Còn "cho những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây" là cho những người đang đói, đang khát, đang rét, đang bơ vơ, đang không cửa không nhà, đang đau yếu bệnh tật, đang bị tù tội, giam cầm!

3. Muốn dành ưu tiên cho những người yếu kém nhất trong xã hội, gia đình Ki-tô hữu phải làm gì?

Muốn dành ưu tiên cho những người yếu kém nhất trong xã hội gia đình Ki-tô hữu phải có ý thức sâu sắc và mãnh liệt về tình liên đới giữa người với người, về trách nhiệm của những người may mắn đối với những người kém may mắn trong cộng đồng xã hội, dân tộc và thế giới. Không chỉ là ý thức xuông, mà là ý thức được hiện thực hóa bằng hành động củ thể và thiết thực như giúp đỡ, ủi an, tạo công ăn việc làm, nâng cao giáo dục... hoặc đấu tranh dẹp bỏ gốc rễ của vấn đề (thờ ơ hay bất công của xã hội).

Muốn dành ưu tiên cho những người yếu kém nhất trong xã hội, gia đình Ki-tô hữu phải làm thấm nhuần giáo lý Ki-tô giáo và tinh thần Tin Mừng và phải học cùng Chúa Giê-su như Người mời gọi: "Hãy học cùng Ta vì Ta ..." Một người càng yêu Chúa thì càng thương yêu anh em đồng loại: Lịch sử Giáo Hội không thiếu những tấm gương thánh thiện và dấn thân của các Linh Mục, Tu Sĩ và Giáo Dân sống quên mình vì người nghèo.

Muốn có ý thức sâu sắc và mãnh liệt về tình liên đới giữa người với người, về trách nhiệm của người may mắn đối với người kém may mắn cũng như muốn thấm nhuần giáo lý Ki-tô giáo và tinh thần Tin Mừng và muốn học cùng Chúa Giê-su để biết yêu thương những người yếu kém nhất trong xã hội một cách ưu tiên, thì mỗi người và mỗi gia đình Ki-tô hữu không thể coi thường các phương thế truyền thống của Giáo Hội: cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, tham dự các Bí Tích, các buổi tĩnh tâm, học hỏi và rèn luyện các nhân đức Ki-tô giáo có tính xã hội như quảng đại, hy sinh, chia sẻ...

III. Kế Luận:

Trong Phúc Âm, có lần Ðức Giê-su đã nói với các môn đệ câu này: "Người nghèo thì lúc nào anh em cũng có với anh em" (Mt 26, 11). Quả đúng như lời Chúa nói. Loài người, nhờ cách mạng khoa học kỹ thuật, đã thực hiện được những điều vô cùng kỳ diệu (như phi thuyền con thoi lên vũ trụ, như vệ tinh thông tin, như các phương pháp và thuốc chữa bệnh...).

Nhưng thời đại nào cũng sản sinh ra thêm những hạng người nghèo mới. Vấn đề của chúng ta là có biết mở lòng, mở trí, mở túi tiền, mở cửa... để đón tiếp và nâng đỡ những người yếu kém của xã hội ngày nay hay không. Nếu gia đình chúng ta sống bo bo chỉ biết có mình, thì là tự mâu thuẫn với tính danh Ki-tô hữu của mình.

IV. Chia Sẻ:

Ông bà anh chị hãy chia sẻ những nỗ lực mà gia đình mình đã thực hiện để yêu thương chăm lo cho những anh chị em yếu kém nhất mà mình gặp.

Ông bà anh chị hãy chia sẻ về những cách có thể xoa dịu những nỗi đau thương và giảm bớt những thiệt thòi của những thành phần yếu kém nhất trong xã hội hiện nay nói chung và trong địa bàn dân cư của ông bà anh chị nói riêng.

V. Thực Hành:

Giả như Chúa Giê-su bước vào nhà chúng tôi hay bấm chuông ở cổng nhà chúng tôi, thì gia đình chúng tôi sẽ có phản ứng thế nào? Giả như chúng tôi đi ra đường, đi về miền quê gặp Chúa Giê-su, thì gia đình chúng tôi sẽ làm gì? Giả như có người báo cho gia đình chúng tôi biết Chúa Giê-su đang có mặt tại nhà dưỡng lão A, bệnh viện B, nhà mở C, nhà nuôi trẻ khuyết tật D, trại giáo dục lao động E, nhà ổ chuột G, nhà trọ công nhân H, trại cai nghiện L, thì gia đình chúng tôi có tin chuyện ấy không và có thu xếp mọi việc để chạy đến nơi đó gặp Chúa không?

Mỗi người và mỗi gia đình Ki-tô hữu đều biết chúng ta sẽ làm gì trong những trường hợp nêu trên. Chỉ khác là Chúa Giê-su không xuất hiện bằng xương bằng thịt như cách đây hơn hai ngàn năm, thời Người sống ở Na-da-rét, Ga-li-lê, Giu-đê và Sa-ma-ri mà nay Người có mặt một cách vô hình và trong những con người yếu kém nhất của xã hội chúng ta ngày nay thôi!


14. Gia đình Ki-tô hữu (11): chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. Nhập Ðề:

Qua 10 đề tài trước, chúng ta đã có dịp suy nghĩ, tìm hiểu, chia sẻ và thực hành nhiều chức năng nhiệm vụ của gia đình. Từ đó chúng ta có thể rút ra kết luận này: đời sống gia đình thật phong phú ý nghĩa nhưng cũng mang theo nhiều trách nhiệm nặng nề. Câu hỏi tự nhiên xuất hiện trong tâm trí chúng ta là: "Làm thế nào mà các gia đình, nhất là các gia đình trẻ, có thể hiểu biết và thể hiện được ý nghĩa phong phú và trách nhiệm nặng nề ấy?" Ðó chính là vấn đề của đề tài thứ 11 này: "Gia đình Ki-tô hữu chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ."

Vậy chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu các vấn đề: Thế nào là gia đình trẻ? Thế nào là chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ? Tại sao các gia đình Ki-tô hữu có trách nhiệm chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ? Muốn chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ, các gia đình Ki-tô hữu phải có những gì và phải làm gì?

II. Trình Bày:

1. Thế nào là gia đình trẻ?

Gia đình trẻ phải được hiểu là những gia đình mới được thiết lập, chứ không nhất thiết phải là những cặp vợ chồng trẻ tuổi, mà có thể là những cặp vợ chồng đã trưởng thành nhưng mới bước vào đời sống gia đình. Trẻ ở đây đồng nghĩa với "không thâm niên" trong đời sống hôn nhân gia đình.

2. Thế nào là chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ?

Chuẩn bị cho các gia đình trẻ: Chuẩn bị là giúp các bạn trẻ được thực hiện những việc cần thiết trước khi hai người nam nữ kết hôn với nhau theo phép đạo. Tông huấn "Ðời sống gia đình" của Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 nói rất đầy đủ về nội dung công việc và các giai đoạn chuẩn bị này (xa, gần, liền trước khi cử hành Bí Tích):

"Vào thời chúng ta, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào hôn nhân và đời sống gia đình càng cần thiết hơn bao giờ hết". Lý do: "Những thay đổi dồn dập trong lòng hầu hết các xã hội tân tiến đòi hỏi không những chỉ gia đình mà cả xã hội và Giáo Hội phải dấn thân vào nỗ lực chuẩn bị tương xứng, để các bạn trẻ có thể cáng đáng các trách nhiệm trong tương lai. Nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống gia đình mà ngày nay người ta than phiền, đã xuất phát từ sự kiện này là trong những hoàn cảnh mới, các bạn trẻ không còn nhận ra được phẩm trật đúng đắn các giá trị (bậc thang các giá trị) và vì không còn những tiêu chuẩn chắc chắn để xử thế, họ không còn biết làm sao đương đầu và giải quyết các khó khắn mới. Kinh nghiệm cho thấy: các bạn trẻ được chuẩn bị chu đáo cho đời sống gia đình, cách chung sẽ thành công hơn các bạn khác.

Ðiều đó còn đúng hơn nữa cho hôn nhân Ki-tô giáo, vốn có ảnh hưởng rất rộng đối với sự thánh thiện của biết bao người nam người nữ. Vì thế Giáo Hội cổ vũ những chương trình chuẩn bị hôn nhân phong phú và hữu hiệu, để hết sức loại trừ những khó khăn mà trong đó biết bao gia đình đang phải chiến đấu, và hơn nữa, để tích cực dẫn đưa các cuộc hôn nhân đến cho thành công và trưởng thành trọn vẹn. Việc chuẩn bị hôn nhân phải được xem xét và thực hiện theo một tiến trình tuần tự và liên tục, qua ba giai đoạn chính: chuẩn bị xa, chuẩn bị gần và chuẩn bị liền trước Bí Tích.

- Chuẩn bị xa: "Bắt đầu từ thời thơ ấu, khoa sư phạm khôn ngoan của gia đình phải nhằm đưa trẻ em tới chỗ khám phá ra rằng mình được phú ban một tâm lý vừa phong phú vừa phức tạp, được phú ban một nhân cách đặc thù, với những sức mạnh cũng như những yếu đuối riêng của mình. Ðây là giai đoạn mà trong đó người ta dần dần ghi khắc cho các em lòng quí chuộng đối với mọi giá trị nhân bản đích thực, trong đó tương quan liên vị cũng như các tương quan xã hội, với những gì hàm chứa trong đó để đào tạo tính tình, để biết tự chủ và biết sử dụng đúng đắn các xu hướng riêng của mình, để biết cách nhận xét và gặp gỡ những người khác phái, và những chuyện khác như thế. Ngoài ra, đặc biệt đối với các Ki-tô hữu, còn phải có sự đào tạo vững chắc về đời sống thiêng liêng và Giáo Lý, để hiểu được rằng hôn nhân là một ơn gọi và là một sứ mạng đích thực, nhưng vẫn không loại trừ khả năng tận hiến cho Thiên Chúa trong ơn gọi Linh Mục hoặc Tu Sĩ.

- Chuẩn bị gần: Sẽ dựa trên nền tảng ấy và là một công cuộc lâu dài: bắt đầu từ lứa tuổi thích hợp và với việc dạy Giáo Lý tương xứng, tương tự phần nào như hành trình dự tòng. Công việc này sẽ gồm việc chuẩn bị chuyên biệt về các Bí Tích, như để giúp các bạn trẻ tái khám phá các Bí Tích. Việc canh tân Giáo Lý theo chiều hướng đó cho tất cả những ai đang chuẩn bị hôn nhân Ki-tô giáo là một điều hết sức cần thiết, để Bí Tích sẽ được cử hành và được sống với những dữ kiện luân lý và thiêng liêng thích hợp.

Ðến lúc thích hợp và tùy theo những đòi hỏi cụ thể khác nhau, việc đào tạo tôn giáo cho những người đính hôn sẽ phải được bổ túc bằng một sự chuẩn bị cho đời sống lứa đôi: khi trình bày hôn nhân như một tương quan liên vị phải được phát triển liên tục giữa người nam và người nữ. Người ta phải khuyến khích họ đào sâu những vấn đề về tính dục hôn nhân và về vai trò cha mẹ có ý thức trách nhiệm, cùng với những hiểu biết cốt yếu gắn liền với các vấn đề ấy trong lãnh vực sinh lý và y học, và đưa họ tới chỗ làm quen với những phương pháp tốt để giáo dục con cái, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ có được những yếu tố cơ bản cho một nếp sống gia đình ổn định (việc làm chắc chắn, đủ điều kiện tài chánh, biết điều hành sáng suốt, có khái niệm về kinh tế gia đình v.v...)

Sau cùng, cũng sẽ không được coi thường việc chuẩn bị cho công cuộc tông đồ gia đình, cho tình huynh đệ và sự cộng tác với các gia đình khác, cho việc tích cực hội nhập vào các nhóm, các hiệp hội, các phong trào và các sáng kiến có mục đích đem lại thiện ích nhân bản và Ki-tô giáo cho gia đình"

- Chuẩn bị liền trước khi cử hành Bí Tích: "Phải diễn ra trong nhiều tháng và nhất là trong những tuần cuối trước lễ cưới để nhờ đó có thể đem lại một ý nghĩa mới, một nội dung mới và một hình thức mới cho việc quen gọi là điều tra hôn phối mà giáo luật đòi buộc. Một việc chuẩn bị như thế vốn cần thiết cho tất cả mọi trường hợp, lại càng khẩn cấp hơn cho những đôi hôn phối còn gặp nhiều thiếu sót và khó khăn về mặt Giáo Lý và thực hành Ki-tô giáo. Trong số các yếu tố phải truyền đạt trong tiến trình Ðức Tin này, tựa như ở thời kỳ dự tòng, cũng phải có việc đào sâu về Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô và Giáo Hội, về ý nghĩa của ân sủng và của trách nhiệm gắn liền với hôn nhân Ki-tô giáo. Ðó là chưa kể tới việc chuẩn bị để tham dự tích cực vào nghi lễ Phụng Vụ Hôn Phối" (FC 66).

- Ðồng hành với các gia đình trẻ: Ðồng hành là cùng đi, cùng sống, là sống gần gũi, là quan tâm theo dõi các gia đình trẻ trong khu vực, trong Giáo Xứ với chủ ý sẵn sàng giúp đỡ, cố vấn, ủi an, khích lệ như người anh người chị, người bạn.

3. Tại sao gia đình Ki-tô hữu có trách nhiệm chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ?

Gia đình Ki-tô hữu có trách nhiệm chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ vì đấy là sứ mạng (đồng hành) chung của Giáo Hội: "Như tất cả mọi thực tại sinh động, gia đình cũng được mời gọi phát triển và tăng trưởng. Sau khi trải qua sự chuẩn bị của thời kỳ đính hôn và việc cử hành Bí Tích hôn nhân, đôi bạn bắt đầu bước đường hằng ngày tiến tới việc thực hiện tuần tự các giá trị và bổn phận của hôn nhân.

"Vì thế, cần nhấn mạnh một lần nữa việc Giáo Hội phải cấp bách can thiệp mục vụ để nâng đỡ gia đình. Cần phải cố gắng hết sức để ngành Mục vụ Gia đình được củng cố và phát triển, trở thành một ngành thật ưu tiên, vì chắc chắn trong tương lai, việc loan báo Tin Mừng phần lớn tùy thuộc vào Hội Thánh Tại Gia là các gia đình" (x. Diễn văn tại Ðại Hội Giám Mục Nam Mỹ, khóa 3, ngày 28.1.1979, IV, a: AAS 71, 1979, t. 204; ÐSGÐ, 65).

Kế đến gia đình Ki-tô hữu phải chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ vì đấy là trách nhiệm tông đồ của các gia đình Ki-tô hữu: "Ngoài ra việc tông đồ gia đình còn được triển nở dưới hình thức những công tác bác ái về tinh thần cũng như vật chất đối với các gia đình khác, cũng như đối với những người đau ốm, già cả, tàn tật, mồ côi, góa bụa, những người chồng, những người vợ bị bỏ rơi, những người mẹ độc thân và những người mẹ trong tình huống khó khăn, đang bị cám dỗ loại bỏ đứa con còn trong bào thai, v.v..." (ÐSGÐ, 71).

Sau cùng gia đình Ki-tô hữu phải chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ vì đấy là nhu cầu thật sự của các gia đình trẻ: Trên thực tế các gia đình trẻ (mới được hình thành) gặp không ít khó khăn ở những năm đầu - nhất là hai năm đầu đời hôn nhân. Lý do rất dễ hiểu: Ðời sống lứa đôi của hai vợ chồng mới cưới về ở chung với nhau khác hẳn với đời sống độc thân lúc trước của hai người. Chủ yếu là do những khác biệt về tâm sinh lý, tính tình, sở thích, nền giáo dục, nếp sống cá nhân và truyền thống gia đình, trình độ văn hóa khác nhau của hai người.

Ngoài ra khi về sống chung hai vợ chồng phải thay đổi một số quan hệ bạn bè và gia đình và họ cũng có những quan hệ mới với bạn bè và gia đình hai bên. Khi về sống chung với nhau hai người phải thích ứng với nhau một cách triệt để. Và nếu một hoặc cả hai người không thích ứng kịp với đời sống mới, thì các khó khăn nẩy sinh.

Nếu đi sâu vào đời sống gia đình thì chỉ nguyên đời sống tính dục cũng thường tạo ra cho hai vợ chồng trẻ không biết bao nhiêu vấn đề và nỗi khó khăn. Ðây lại là lãnh vực hết sức tế nhị, thậm chí được coi là những vấn đề "cấm kỵ" theo quan niệm thông thường của người Việt Nam, nên nếu có gặp trục trặc, vợ chồng trẻ không biết hỏi ai, không dám hỏi ai. Thực ra thì về tính dục, vợ chồng có nhu cầu và cảm nhận khác nhau, nên cần phải được người lớn hướng dẫn, tư vấn.

Một vấn đề nữa thường xảy ra cho các gia đình non trẻ là việc thai nghén của người vợ và sự xuất hiện của đứa con đầu lòng, khiến gia đình bị đảo lộn một cách dữ dội đến mức người trong cuộc không biết đường nào mà đi! Ai là người sẽ giúp các gia đình non trẻ vượt qua những ngày tháng khó khăn này, nếu không phải là cha mẹ, bạn bè, nhân viên Mục vụ Gia đình của Giáo Xứ?

Ðức Thánh Cha đã chỉ đạo như sau: "Trong việc mục vụ dành với các gia đình trẻ, Giáo Hội phải quan tâm giáo dục cho họ biết sống tình yêu vợ chồng cách có trách nhiệm, trong tương quan với các đòi hỏi về hiệp thông và phục vụ sự sống, cũng như dạy cho họ biết hòa hợp tình thân mật của tổ ấm gia đình với trách nhiệm quảng đại chung của mọi người trong việc xây dựng Giáo Hội và xã hội nhân loại. Khi có con cái, đôi bạn trở thành một gia đình theo nghĩa tròn đầy và chuyên biệt. Lúc đó Giáo Hội vẫn còn phải gần gũi hai cha mẹ để giúp đỡ họ đón nhận con cái và yêu mến chúng như một ơn Chúa sự sống ban cho, vui vẻ chấp nhận vất vả để phục vụ cho chúng lớn lên về mặt nhân bản và Ki-tô giáo" (ÐSGÐ, 69).

4. Các gia đình Ki-tô hữu phải có những gì và phải làm gì để chuẩn bị và đồng hành?

Trước hết, muốn chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ, các gia đình Ki-tô hữu phải ý thức về trách nhiệm của mình: Ðể ý thức trách nhiệm của mình không có cách nào hay hơn là học hỏi tìm hiểu giáo huấn của Chúa và của Giáo Hội bằng cách tham dự các khóa học và đọc sách báo về lãnh vực này. Thứ đến, muốn chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ, các gia đình Ki-tô hữu phải có lòng yêu thương và muốn giúp đỡ các gia đình trẻ: Ðể có lòng yêu thương thực sự đối với các gia đình trẻ, không có cách nào hay hơn là tập sống thân mật với Thiên Chúa, nỗ lực sống giáo huấn của Phúc Âm mỗi ngày và quan tâm đến nhu cầu của giới trẻ và nhất là của các gia đình trẻ. Sau cùng, muốn chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ, các gia đình Ki-tô hữu phải biết cách giúp đỡ và đồng hành: Câu châm ngôn của chúng ta là: "Không ai cho cái mình không có".

Vậy để có khả năng chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ thì chúng ta chẳng những phải có ý thức về trách nhiệm của mình và lòng yêu thương đối với các gia đình trẻ, mà chúng ta còn phải biết cách chuẩn bị và đồng hành. Biết cách chuẩn bị và đồng hành có nghĩa là chúng ta phải có một mớ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và phương pháp tối thiểu về Giáo Lý, về tâm sinh lý và giới tính, về nghệ thuật giao tế và thuyết phục, về truyền thông, về các phương pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp với Giáo Lý Ki-tô giáo...

Muốn có được những thứ ấy, chúng ta phải học hỏi, tích lũy kinh nghiệm bằng nhiều phương thế khác nhau: nghe giảng, đọc sách báo, trao đổi với những người có chuyên môn, học hỏi qua các khóa chuyên đề v.v...

III. Kết Luận:

Hiện nay trong nhiều (có thể nói là hầu hết) Giáo Xứ, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ trước khi kết hôn được giao khoán cho các Linh Mục, Tu Sĩ. Lực lượng Giáo Dân, nhất là các gia đình tham gia vào công việc này còn rất mỏng, không đáng kể. Các đôi bạn trẻ khi về ở chung với nhau cũng không được ai gần gũi, theo sát, giúp đỡ, kể cả cha mẹ, vú bõ (người đỡ đầu), bạn bè và Linh Mục chánh xứ.

Hàng năm các Linh Mục phụ trách các Giáo Xứ thường báo cáo về Tòa Giám Mục con số những người được Rửa Tội và con số những gia đình trẻ mới được thành lập trong Giáo Xứ, nhưng các ngài không thể biết những người mới Rửa Tội, những gia đình mới được thành lập kia hiện đang sống đạo như thế nào. Chính vì thế mà các vợ chồng trẻ phải tự bương trải, tự giải quyết mọi vấn đề, có khi đúng và phù hợp, có khi sai và ngược với tinh thần Phúc Âm và Giáo Lý của Giáo Hội.

Con số hơn 90% phụ nữ Công Giáo Việt Nam trong thời gian có thể sinh nở đã dùng các phương pháp ngừa thai nhân tạo đang được quảng cáo trên thị trường tiêu thụ (xem bài "Gia đình chiếc nôi văn hóa Ðức Tin" của Nữ Tu Tê-rê-xa Phạm Thị Oanh) là một con số nhức nhối, đáng các Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ và gia đình Ki-tô hữu Việt Nam phải suy nghĩ về trách nhiệm của mình.

IV. Chia Sẻ:

Ông bà anh chị hãy cho biết trong Giáo Xứ của mình, công việc giúp các bạn trẻ nam nữ chuẩn bị kết hôn theo Lễ nghi Công Giáo được giao phó cho những ai và được thực hiện như thế nào?

Tại sao ông bà anh chị không tham gia vào việc giúp các bạn trẻ trong Giáo Xứ mình chuẩn bị kết hôn và không đồng hành với các gia đình trẻ mới hết hôn?

Các lý lẽ mà ông bà anh chị đưa ra có chính đáng và chấp nhận được không? Tại sao?

V. Thực Hành:

Mỗi người và mỗi gia đình Ki-tô hữu quyết tâm thực hiện một việc gì đó cụ thể (nói rõ ra) để tham gia vào việc chuẩn bị và đồng hành với các gia đình trẻ!


15. Gia đình Ki-tô hữu (12): là cung thánh của sự sống

Gs. Nguyễn Văn Nội 

I. NHẬP ĐỀ

Đề tài cuối cùng trong mười hai đề tài do Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình đề nghị cho toàn Giáo hội suy tư và trao đổi về gia đình chuẩn bị cuộc gặp gỡ quốc tế lần thứ tư của các gia đình tại Manila vào ngày 22-26.1.2003 tới đây là: “Gia đình Kitô hữu là cung thánh của sự sống.” Thật ra đề tài này đáng được xếp vào vị trí số 1 hoặc số 2 trong danh sách 12 đề tài, vì nhiệm vụ quan trọng nhất của gia đình là gì nếu không phải là đón nhận, bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống. Trong Tông huấn “Đời sống gia đình” Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đưa ra bốn bổn phận của gia đình Kitô hữu. Đó là: (1) Đào tạo một cộng đồng các ngôi vị (ĐSGĐ, 18-27); (2) Phục vụ sự sống (ĐSGĐ, 28-41), (3) Dự phần vào việc phát triển xã hội (ĐSGĐ, 42-48); (4) Dự phần vào đời sống và sứ mạng của Hội thánh (ĐSGĐ, 49-64). Như thế thì “Phục vụ sự sống” là bổn phận thứ 2 trong 4 bổn phận của gia đình Kitô hữu.

Đề tài này tự nó đã là rất quan trọng. Nhưng còn trở thành quan trọng hơn nữa khi chúng ta đang phải sống một môi trường văn hóa sự chết. Con số hơn 90% phụ nữ Công giáo Việt Nam trong thời gian có thể sinh nở đã dùng các phương pháp ngừa thai nhân tạo đang được quảng cáo trên thị trường tiêu thụ cũng như các con số 934.302 ca phá thai năm 1997, 861.353 ca năm 1998 của nước ta (xem bài “Gia đình chiếc nôi văn hóa đức tin” của NT Têrêxa Phạm Thị Oanh) là những con số nhức nhối, đáng các Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và các gia đình Kitô hữu Việt Nam phải suy nghĩ về trách nhiệm của mình.

Vậy chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu (1) Sự sống có giá trị thánh thiêng và bất khả xâm phạm như thế nào? (2) “Gia đình là cung thánh của sự sống” có ý nghĩa gì? (3) Muốn “là cung thánh của sự sống” các gia đình Kitô hữu phải làm gì?


II. TRÌNH BÀY

1. Sự sống có gía trị thánh thiêng và bất khả xâm phạm như thế nào?

Muốn hiểu sự sống con người có gía trị như thế nào, cách tốt nhất là chúng ta đọc lại Kế Hoạch và Công Trình Tạo Dựng của Thiên Chúa. Theo tác gỉa Sách Sáng thế ký, sau khi tạo dựng xong vũ trụ vạn vật, Thiên Chúa nghĩ tới việc tạo dựng con người:

“Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26).

Và rồi Thiên Chúa tạo dựng con người:

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.Thiên Chúa chúc lành cho ho,ï và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất” (St 1,27-28).

Trong sách Khôn ngoan có một câu vắn nhưng cho chúng ta biết lý do của việc Thiên Chúa tạo dựng con người:

“Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người.” (Kn 2,23).

Ta có thể kết luận: vì con người đã được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Người, giống như Người, để làm bá chủ mặt đất và để trường tồn bất diệt, nên con người (tức sự sống) có giá trị thánh thiêng và bất khả xâm phạm.

2. “Gia đình là cung thánh của sự sống” có ý nghĩa gì?

2.1 “Gia đình là cung thánh của sự sống”, trước hết, có nghĩa là gia đình đình là nơi cưu mang và phát sinh sự sống:

Tông huấn ĐSGĐ, sau khi nhắc lại việc Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ đã kết luận:

“Chính vì thế mà mục tiêu căn bản của gia đình là phục vụ cho sự sống, là thực hiện trong lịch sử lời chúc lành của Thiên Chúa lúc khởi nguyên, thực hiện bằng việc thông truyền hình ảnh Thiên Chúa từ người này sang người khác trong hành động truyền sinh” (HC Mục Vụ 50; ĐSGĐ, 28).

2.2 “Gia đình là cung thánh của sự sống”, kế đến, có nghĩa là gia đình là nơi nuôi dưỡng sự sống, làm cho sự sống ấy lớn lên và phát triển:

Trong việc nuôi dưỡng sự sống và làm cho sự sống lớn lên và phát triển thì giáo dục chiếm một vai trò quan trọng nhất:

“Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng phải giáo dục chúng, và vì thế, họ phải được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót sẽ khó lòng bổ khuyết được. Thật vậy chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện của con cái họ trong đời sống cá nhân xã hội được dễ dàng. Do đó gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được.”(Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, 3; ĐSGĐ, 36).

Sự giáo dục của cha mẹ bao gồm nhiều mặt: giáo dục nhân bản (nhân cách, tính tình, tình yêu, tính dục), đức tin, luân lý và cả xã hội nữa.

2.3 “Gia đình là cung thánh sự sống”, sau hết, có nghĩa là gia đình là nơi che chở và bảo vệ sự sống:

Ngày nay trong mọi xã hội đều có những nguy cơ to lớn khiến con em chúng ta không phân biệt được giá trị thật/giá trị giả. Các phương tiện thông tin đại chúng (sách báo, phim ảnh, truyền hình, internet…) nhiều khi tiếp tay cho những nhóm người chủ trương chống sự sống bằng cách tuyên truyền những cách suy nghĩ và hành động phản luân lý, chống lại con người. Vì thế gia đình phải là thành lũy bảo vệ sự sống trước sự tấn công của các luồng thông tin độc hại, các lối sống buông thả, các xu hướng hưởng thụ lạc thú với bất cứ giá nào. Che chở và bảo vệ sự sống không có nghĩa là chúng ta nhốt con cái trong nhà, cấm đoán chúng tiếp cận với sách báo, phim ảnh, bạn bè mà là phải giúp chúng biết phán đoán và chọn lựa theo tiêu chuẩn Kitô giáo khi hòa mình vào xã hội chung quanh.

3. Muốn là cung thánh của sự sống các gia đình Ktô hữu phải làm gì?

3.1 Muốn là cung thánh của sự sống, trước hết, các gia đình Kitô hữu phải hiểu biết về giá trị thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự sống:

“Vô tri bất mộ” cha ông ta đã đúc kết kinh nghiệm ngàn đời như thế! Sự hiểu biết bao giờ cũng cần thiết cho mọi lãnh vực nhân sinh và nhân linh của con người. Để trở thành cung thánh của sự sống thì người và gia đình Kitô hữu phải hiểu biết về giá trị thánh thiêng và bất cả xâm phạm của sự sống và phải biết tôn trọng sự sống theo Ý muốn của Thiên Chúa. Cách tốt nhất là học hỏi tìm hiểu giáo huấn của Chúa và của Giáo hội bằng cách tham dự các khóa học và đọc sách báo tài liệu của Giáo hội về lãnh vực này.

3.2 Muốn là cung thánh của sự sống, thứ đến, các gia đình Kitô hữu phải biết yêu thương và quí trọng sự sống như Chúa và Giáo hội mong muốn:

Khi đã có hiểu biết về giá trị của sự sống rồi thì điều kiện tiếp theo là có lòng yêu thương quí trọng sự sống như Thiên Chúa và Giáo hội mong muốn. Không phải là yêu thương và quí trọng xuông, mà phải thể hiện bằng hành vi cụ thể và thiết thực lòng yêu thương và quí trọng của mình, như vun trồng, dưỡng nuôi, uốn nắn chomsự sống phát triển hài hòa và tốt đẹp.

3.3 Muốn là cung thánh của sự sống, thứ đến, các gia đình Kitô hữu phải ý thức về trách nhiệm của mình là che chở và bảo vệ sự sống:

Dù các thế lực đen tối của thế giới và loài người có nỗ lực đến mấy để chống lại sự sống, thì Giáo hội Công giáo vẫn luôn luôn đứng về phía sự sống, tìm mọi cách bảo vệ và tôn vinh sự sống. Mọi người và mọi gia đình Kitô hữu phải chia sẻ quan điểm lập trường kiên định ấy của Giáo hội. Tại sao Giáo hội là kiên định như vậy? - Thưa vì:

” Hội thánh tin tưởng mạnh mẽ rằng, sự sống con người, dù có yếu ớt và đầy đau khổ, vẫn luôn luôn là một hồng ân tuyệt vời của Thiên Chúa tốt lành. Chống lại sự bi quan và ích kỷ đang che mờ thế giới, Hội Thánh đứng về phía sự sống, và trong mỗi sự sống con người, Hội Thánh biết khám phá nét cao đẹp của tiếng “THƯA VÂNG”, của tiếng “AMEN” là Đức Kitô (x. 2 Cr 1,19; Kh 3,14). Đối ngược với tiếng “KHÔNG” đang tràn ngập và làm cho thế giới ảm đạm, Hội Thánh đưa ra tiếng “THƯA VÂNG” sống động, bênh vực cho con người và thế giới, chống lại những kẻ đe dọa và làm hại sự sống” (ĐSGĐ, 30).

Về cả ba điều vừa trình bày trên, các bậc cha mẹ phải quan tâm truyền lại cho con cái mình, để chúng cũng hiểu biết về giá trị của sự sống, cũng yêu thương quí trọng, che chở và bảo vệ sự sống như mình. Có như thế cha mẹ mới chu toàn trách nhiệm của mình, trong lãnh vực tối quan trọng này.


III. KẾT LUẬN

Trong xã hội hôm nay, có điều khó hiểu là ai ai cũng hô hào ủng hộ sự sống, kể cả những người đang tìm mọi cách để hủy diệt sự sống. Con người đang lâm vào tình trạng lẫn lộn trầm trọng về những giá trị “thật” và những giá trị “dổm”. Giáo hội Công giáo, nhờ mặc khải của Thiên Chúa trong lịch sử Ítraen và nhất là nơi Đức Giêsu Kitô, có được hiểu biết chính xác, đầy đủ, toàn diện về con người và về sự sống. Vì thế Giáo Hội luôn là người đứng về phía sự sống, bảo vệ sự sống và rao giảng những giá trị thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự sống. Các gia đình Kitô hữu, trong phạm vi bé nhỏ của mình, được mời gọi trở nên “cung thánh của sự sống”.


IV. CHIA SẺ

1.      Oâng bà anh chị hãy cho biết trong địa bàn dân cư mình sinh sống, có những việc làm nào bênh vực sự sống? và đồng thời cũng có những hành động nào chống lại sự sống?

2.      Theo ông bà anh chị thì phải làm thế nào để mọi Kitô hữu đều là những người che chổ và bảo vệ sự sống và mọi gia đình Kitô hữu đều trở thành “cung thánh của sự sống”?


V. THỰC HÀNH

Mỗi người và mỗi gia đình Kitô hữu quyết tâm thực hiện một việc gì đó cụ thể và thiết thực (nói rõ ra) để đứng về phía sự sống và làm cho gia đình mình trở nên “cung thánh của sự sống”.


16. Hãy Cứu Lấy Gia Ðình Hãy Cứu Lấy Trẻ Thơ

Gm. Ngô Quang Kiệt, Giáo Phận Lạng Sơn 

Nhìn vào Máng Cỏ Noel, ai cũng phải chạnh lòng. Một trẻ thơ mới sinh ra đời đã phải vất vả lầm than. Không có nhà cửa giường chiếu đã đành. Lại còn phải ở chung với súc vật. Ðối với một con người bình thường như thế đã là khốn khổ quá mức. Ðối với Thiên chúa làm người thì lại càng thê thảm biết chừng nào.

Chịu cảnh lầm than khốn khổ trước sự vô tình của đồng loại chưa đủ, Ðức Chúa Giê-su bé thơ còn phải chịu cảnh khốn khổ vì sự độc ác của bạo vương Hê-rô-đê. Hê-rô-đê nghe tin có Ðấng Cứu Thế ra đời, sợ mất chức quyền nên đã cho quân đội truy tìm để tiêu diệt. Thánh Giu-se và Ðức Mẹ Ma-ri-a đã phải bồng bế Hài Nhi Giê su còn non nớt chạy trốn sang Ai-cập.

Tuy khung cảnh nơi chuồng bò có thô sơ đạm bạc, nhưng nhìn vào vẫn thấy ấm cúng. Một bầu không khí thương yêu toả ra bao trùm cảnh tối tăm nghèo khổ hôi hám. Ánh mắt thánh Giu-se, ánh mắt Ðức Mẹ, ánh mắt Ðức Giê-su bừng lên tình thương yêu, sự quên mình, sự quan tâm. Ðó là bầu khí gia đình yên vui đầm ấm. Hạnh phúc vẫn dâng đầy dù trong cảnh khó khăn túng thiếu.

Ta không mường tượng được Ðức Giê-su sẽ vượt qua những hoàn cảnh khó khăn thế nào nếu không có gia đình. Chính gia đình tốt đẹp đã đưa hài nhi Giê-su vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Chính gia đình vui tươi đầm ấm đã giúp hài nhi Giê-su triển nở nên người, hoàn thành sứ mạng cứu nhân độ thế.

Gia đình là chiếc nôi êm ái nhất nâng niu giấc ngủ trẻ thơ. Gia đình là lương thực bổ dưỡng nhất giúp phát triển trẻ thơ. Gia đình là thành trì vững chắc nhất để bảo vệ trẻ thơ.

Nhìn ngắm Ðức Giê-su sơ sinh ra trong máng cỏ nghèo hèn, ta không thể không nghĩ tới biết bao trẻ thơ sinh ra hôm nay đang phải chịu cảnh đói nghèo thiếu thốn. Không chỉ là thiếu thốn vật chất mà còn thiếu thốn tình thương. Không chỉ thiếu thốn nhà cửa mà còn thiếu một mái gia đình. Không chỉ bị giá lạnh của thời tiết mà còn bị giá lạnh vì thiếu vòng tay ôm ấp vỗ về.

Không có cảnh nghèo nào khốn cùng hơn cảnh trẻ thơ thiếu tình thương. Không có mái nhà nào rách nát hơn cảnh gia đình tan vỡ. Không có mùa đông nào giá lạnh hơn mùa đông của trái tim. Muốn cứu lấy trẻ thơ phải cứu lấy gia đình. Gia đình là tương lai của trẻ thơ. Gia đình là tương lai của thế giới.

Nhìn cảnh bạo vương Hê-rô-đê săn đuổi Ðức Giê-su bé thơ, ta không khỏi nghĩ đến biết bao trẻ thơ hôm nay cũng đang bị săn đuổi. Những bạo vương chỉ vì tiền bạc lợi nhuận mà giết chết biết bao đời trẻ thơ. Vì tư lợi các bạo vương thời mới không ngần ngại phát tán nọc độc trong sách báo, phim ảnh xấu. Vì lợi nhuận những Hê-rô-đê thời mới đã giết biết bao đời trẻ thơ trong nạn nghiện ngập xì ke ma tuý. Ðể phục vụ quyền lợi của cá nhân, các bạo vương thời mới không ngần ngại khai thác trẻ thơ trong lãnh vực kinh doanh.

Hãy cứu lấy trẻ thơ khỏi tay các bạo vương thời mới. Trẻ thơ là tương lai của chúng ta.

Hãy cứu lấy tương lai chúng ta. Ðức Giê-su vẫn tươi cười trong chuồng bò lạnh lẽo tối tăm hôi hám, vì bên cạnh Người còn có một gia đình yên vui đầm ấm, có tình yêu thương của Ðức Mẹ Ma-ri-a, của thánh Giu-se.

Xin Ðức Giê-su Bé Thơ thương đến các trẻ em hôm nay, ban cho các em được sự quan tâm chăm sóc của mọi người. Xin Người gìn giữ các gia đình được yên vui đầm ấm để tương lai trẻ thơ được tươi sáng. Amen.


17. Thứ Tha Và Hòa Giải trong Gia Ðình

Gs. Giê-rô-ni-mô Nguyễn văn Nội 

Vào Ðề

Trong Thư Mục Vụ ngày 11.10.2002 về Hôn Nhân và Gia Ðình, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã nêu lên những nét đẹp truyền thống của gia đình Việt Nam như sau: