Niềm Vui Sống Đạo

BẢY MƯƠI ĐIỀU TÂM NIỆM ĐỂ VUI TƯƠI SỐNG ĐẠO

Hồng Y Phanxicô Saviê Nguyễn Văn Thuận


LỜI NÓI ÐẦU

Làm "người lữ hành" lang thang đó đây, tôi có dịp nói chuyện với nhiều hạng người, trong nhiều hoàn cảnh. Câu chuyện tuy khác nhau, nhưng mục đích ưu tiên vẫn là một, gửi đến thính giả một sứ điệp:

XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM, CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM TƯƠI ĐẸP HƠN.

Nay một số bạn trẻ muốn góp nhặt lại thành một tập và xin tôi mấy lời dẫn nhập, tôi thân ái ghi vội mấy điểm:

Cuốn "Hôm qua, hôm nay, Ngày mai" đã chuẩn bị cho giáo dân từ 1967-1975 biết sống đạo trong "thời hậu chiến", hoặc dưới chế độ cộng sản: "Vững mạnh trong đức tin, tiến lên trong an bình", dưới chế độ tư bản tiêu thụ: "Công lý và hoà bình".

Sau ngày 30.4.1975, thao thức vì phải xa cách giáo dân ở quốc nội, cũng như những người phải ra đi, chân ướt chân ráo bước lên đất người xa lạ, từ ngục tù, tôi đã kiếm cách viết và chuyển ra những sứ điệp có chiều kích khác nhau, từ tim óc của một mục tử, trong tăm tối, xót xa theo dõi và thương cảm con cái:

Tại vì có nhiều bạn hỏi tôi, sứ điệp của Ðức cha còn tiếp tục không? Dĩ nhiên là còn, vì bao lâu còn sống, tôi còn đồng hành với dân Chúa. Nhưng ở trần gian nầy, mọi sự đều có cùng, đó là luật thiên nhiên. Chính các bạn sẽ viết tiếp sứ điệp, lúc ấy nó sẽ phong phú hơn biết chừng nào. Mẹ Tê-rê-xa Calcutta nói: "Tôi chỉ là cây bút chì trong tay Chúa, để Chúa viết những gì Chúa muốn". Nhìn tương lai, tôi tin tưởng, vui mừng và hy vọng vì Chúa sẽ có nhiều bút chì mới.

Rôma, Lễ Giáng sinh 1998

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Tổng Giám Mục
Chủ tịch Ủy Ban Giáo hoàng
Công lý và Hoà bình



I. THẬP ÐẠI THÀNH CÔNG

1- Tôi là ai?

- Tôi là người Công giáo Việt Nam đang sống ở hải ngoại.

1.1. Là người Việt Nam

Tôi tiếp nhận máu huyết của cha mẹ, ông bà; thừa hưởng gia sản văn hoá, giá trị đạo đức ngàn đời của tổ tiên Việt Nam.

Là người Việt Nam, tôi có một tổ quốc Việt Nam với non sông gấm vóc, lịch sử vẻ vang, đồng bào cần mẫn, hào hùng; tôi yêu quê hương Việt Nam và hãnh diện làm người Việt Nam.

Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II nhắc chúng ta: "Các bạn hãy hãnh diện làm người Việt Nam".

Mỗi người Việt Nam phải xác tín mình là cái vốn đầu tư của Ðất - Nước, nếu không thành công trong tư cách đạo đức, trí thức... thì chính chúng ta làm thiệt hại cho đất nước.

Tôi không có quyền chỉ trích, đòi hỏi người khác, khi chính bản thân tôi chưa làm gì cho đất nước cả.

Vì là người Việt Nam, tôi cần biết non sông đất nước, cần học hỏi về lịch sử dân tộc tôi; tôi phải hiểu được, nói được tiếng nói, chữ viết Việt Nam. Tôi có trách nhiệm truyền đạt tiếng nói, chữ viết Việt Nam cho con em, bạn bè, đồng bào tôi.

Nếu tôi không quyết tâm bảo vệ căn tính Việt Nam thì chỉ cần vài thế hệ số người nói tiếng Việt Nam ở hải ngoại ngày càng hiếm, và các kiều bào về thăm tổ quốc sẽ phải cần thông dịch viên.

Chúng tôi gặp nhiều bạn trẻ rất tha thiết biết Ðất - Nước mình, nhưng họ ân hận, hổ thẹn vì không nói sành sõi tìếng Việt. Chúng ta thương mến các bạn trẻ đó; và bậc cha mẹ, đàn anh phải xét lại mình về trách nhiệm nầy.

Ðã là người Việt Nam, tôi có bổn phận dấn thân phục vụ đồng bào, trung thành bảo vệ và xây dựng quê hương tôi bằng tim óc, xương máu tôi. Tôi còn phải là niềm hãnh diện và hy vọng cho đồng bào, dân tộc Việt Nam của tôi.

"Cha mong giòng máu ái quốc sôi trào trong huyết quản con".

1.2. Tôi là người Công Giáo

Tôi đã được chịu phép rửa Chúa Thánh Thần qua Giáo hội đưa tôi vào sự sống của Thiên Chúa, là Cha chung của mọi người nhờ ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.

Nhưng tôi chịu phép rửa tội, ghi tên vào sổ chưa hẳn đã thành người công giáo đúng mức.

Người Công Giáo chân thật phải sống như Chúa Giêsu, sống theo Phúc âm.

Vì thế, cuộc sống tôn giáo phải giúp tôi trở thành người công dân Việt Nam tốt: tôi xác tín được rằng mọi người, người đồng bào tôi, tất cả là anh chị em của một Cha chung; tôi ý thức được trách nhiệm phải phục vụ những người bên cạnh, đồng bào tôi, xây dựng hoà bình và thịnh vượng cho đất nước.

1.3. Tôi đang sống định cư ở một quốc gia hải ngoại

Là người Việt Nam Công Giáo đang sống tại hải ngoại, hằng ngày tôi sống với những người anh em tại quốc gia địa phương mà tôi định cư.

Thời gian hiện tại của thế giới hôm nay, không gian của xã hội, quốc gia định cư..., những thành tố cụ thể đó đang hoàn thành tiến trình phát triển con người và nhân cách của tôi. Tôi ý thức căn tính Việt Nam Công Giáo của tôi để phát huy các giá trị cao đẹp truyền thống của tổ tiên tôi, để tiếp nhận chân lý cứu độ nơi Ðức Kitô qua Giáo hội tôi. Tôi xác tín rằng: các giá trị cao đẹp của tổ tiên và chân lý cứu độ của tôn giáo tôi trong bất cứ môi trường sống nào đi nữa cũng luôn linh hoạt. Tôi vừa là chứng nhân sống động của các giá trị ấy trong môi trường mà tôi đang sống, đồng thời vừa tiếp nhận, sáng tạo những điều mới lạ, hay, đẹp nơi xã hội trước mắt, đóng góp phần mình vào đà tiến chung của nhân loại.

Là người Công Giáo Việt Nam hải ngoại, tôi không thể bằng lòng với khuôn khổ đóng kín, tự tách rời, của một lối tổ chức cộng đồng đã thuộc về quá khứ, không còn tiếp cận tâm tư của con người ngày nay. Tôi phải hội nhập với văn hoá của nơi tôi đến định cư mà không mất căn tính Việt Nam.

Giáo hội là đoàn người đang lữ hành, tiến bước, là thân thể sinh động của Chúa Kitô. Giáo hội ấy không "dậm chân tại chỗ", không thành tượng đá, nhưng luôn phát triển, cập nhật hiện tại, hướng dẫn thế giới đi về tương lai. Tôi phải tìm hiểu và tham gia sinh hoạt của Giáo hội địa phương, nếu không cộng đồng của tôi sau nhiều năm vẫn còn là "Giáo hội di cư".

Làm sao chụp hình Chúa

Một hôm thằng con trai tôi mới lên bốn tuổi, hỏi mẹ nó:

"Mẹ ơi ba là nhiếp ảnh viên,

tại sao ba không chụp cho con một tấm hình của Chúa?"

Chúng tôi ngạc nhiên nhưng nghĩ rằng:

đó chỉ là một trong bao nhiêu câu hỏi của trẻ con.

Thế rồi, bốn năm nữa đã trôi qua,

Tôi đã hiểu: thằng con tôi nói có lý.

Có Chúa, vậy "tại sao lại không chụp hình Ngài được?"

Với trình độ của tôi, tôi hiểu sự thật của con tôi.

Tôi nhìn thấy ánh sáng,

Một ánh sáng đã làm cho tâm hồn tôi rung động

Như ánh sáng đập vào cuốn phim.

Dần dần ánh sáng ấy sẽ mạc khải

Cho tôi thấy hình ảnh ấy trrong bản thân tôi.

Và tôi đã khám phá

Một điều kỳ diệu: cuộc đời của tôi

có nhiều điểm trùng hợp với kỷ thuật chụp hình.

Ðể in một tấm hình đẹp, cần phải có một âm bản đẹp;

Muốn có một âm bản đẹp, cần phải có một cái máy chụp hình,

một cuốn phim, và ánh sáng

có hình ảnh thấy được, có ống kính mở và đóng được.

Thế rồi sẵn sàng để in hình.

Thiên Chúa in hình ảnh không thấy của Ngài trong tâm hồn chúng ta.

Hình ảnh Chúa biểu lộ trong cuộc đời chúng ta,

Nhờ giáo dục và kinh nghiệm mỗi ngày.

Kể từ lúc con người mỗi lần ý thức hơn

sự hiện diện của hình ảnh ấy.

Thế rồi cuộc sống thật của chúng ta bắt đầu,

cuộc sống của một người hiểu và biết mình được hiểu.

Và khi đến điểm ấy, tôi đã hiểu rằng:

Ðể chụp được một tấm hình của Thiên Chúa

Công việc cần thiết độc nhất là có một âm bản của Thiên Chúa.

Âm bản ấy là chính tôi.

Hình ấy rõ hay mờ, đẹp hay xấu tuỳ âm bản.


2. Tôi phải sử dụng thì giờ và tài năng của tôi thế nào?

- Tôi phải sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương.

Qua Sứ điệp Quốc tế giới trẻ XII, ở ngay phần đầu, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II nhắn gửi các bạn:

"Các bạn có thể gặp Chúa Giêsu, dọc theo những nẻo đường của cuộc sống mỗi ngày!... Ðây là chiều kích nền tảng của sự gặp gỡ đó: Không phải các bạn gặp biến cố hay một sự vật gì đó, nhưng các bạn gặp một con người, đó là Thiên Chúa hằng sống".

- Thể xác còn sống, bao lâu phổi còn hô hấp, tim còn nhịp đập, sự sống phải liên tục, không ngừng được, ngừng là chết. Không thể nên thánh từng khoảng cách. Chúa Giêsu nói: "Tôi luôn luôn làm những điều đẹp lòng Ðức Chúa Cha" nghĩa là "Sống từng giây phút đầy mến yêu" - Chúa Giêsu không nói làm việc lớn hay việc nhỏ: Chỉ cần một điều: việc ấy đẹp lòng Ðức Chúa Cha: "Ðường Hy vọng dài thăm thẳm, Con đừng làm "Thánh lâm thời": Phong ba dồn dập, nước sơn sẽ phai nhạt và tượng thánh sẽ hiện hình quỷ" (ÐHV. 44).

Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đường dễ nhất, khoẻ nhất: "Xin thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn"... Nhưng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: "Chính các con hãy cho họ ăn đi" (Lc. 9,1). Trên Thánh giá, khi người ăn trộm thưa với Chúa Giêsu: "Thưa Ngài khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi". Chúa Giêsu đáp: "Hôm nay con sẽ ở cùng ta trên nước thiên đàng" (Lc. 23, 42-42). Trong tiếng "hôm nay" của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thương của Ngài.

Cha Maximilianô Kolbê sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: "Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện". Tôi đã nghe Ðức cha Helder Camara nói: "Cả cuộc đời là học yêu thương". Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thư cho tôi, Mẹ viết: "Ðiều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhưng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc". Làm sao yêu thương đến cao độ như thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút như là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là "đẹp nhất" của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi người tình yêu của tôi, nụ cười của tôi: tôi phải lo sợ đánh mất mỗi giây phút trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa...

Cha đã viết trong cuốn Ðường Hy vọng:

"Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x. Mt. 6, 34; Gc. 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó" (ÐHV. 997).

Kho tàng ở tầm tay bạn

Hãy dùng thời gian để suy nghĩ,

vì đó là nguồn mạch của sức mạnh.

Hãy dùng thời gian để chơi đùa,

vì đó là bí mật, của tuổi xuân trường cửu.

Hãy dùng thời gian để đọc sách báo,

vì đó là nguồn mạch của kiến thức.

Hãy dùng thời gian để yêu và được yêu,

vì đó là hồng ân của Thiên Chúa.

Hãy dùng thời gian để chọn bạn hữu,

vì đó là đường hạnh phúc.

Hãy dùng thời gian để tươi cười,

vì đó là âm nhạc của tâm hồn.

Hãy dùng thời gian để trao tặng,

vì đời quá vắn để sống ích kỷ.

Hãy dùng thời gian để mang Tin mừng,

vì đó là sứ mạng cao cả của bạn.

Hãy dùng thời gian để cầu nguyện,

vì đó là sức mãnh liệt nhất trên quả đất nầy.


3. Trạng thái Tâm hồn của tôi như thế nào?

- Tôi phải sống ngày hôm nay như ngày cuối cùng của đời tôi

Mỗi giây phút tôi sống không bao giờ lặp lại; và không ai thay thế tôi để sống cuộc đời riêng tư, nhân cách có một không hai của tôi.

Tôi hoàn thành giá trị con người tôi trong khung cảnh của giây phút nầy, ngày hôm nay với những điều kiện hiện đang có; từng giây phút hiện tại đó tôi đưa cuộc sống Thần thánh của Thiên Chúa vào thời gian hiện tại của tôi; từng giây phút hiện tại tôi chuyển mỗi công việc nhỏ bé của tôi thành hành động của Thiên Chúa.

Tôi không chờ đợi trong ảo tưởng, nghĩ rằng rồi ra một ngày mai nào đó tôi sẽ thật sự bắt đầu sống, bắt đầu hoán cải, bắt đầu dấn thân...

Các tôn giáo đã cống hiến cho chúng ta câu châm ngôn:

"Hãy sống ngày hôm nay như ngày cuối đời mình", để chúng ta trở về cõi thực, canh tân nếp sống.

Mẹ Tê-rê-xa có lần đã phát biểu:

"Tôi dâng lễ nầy như là lễ đầu tiên, như là lễ cuối cùng và như là lễ độc nhất của đời tôi".

Thật vậy, nếu mình nhận thức được mỗi giây phút mình sống, mỗi cử chỉ, lời nói của mình là duy nhất, cuối cùng, thì cách cư xử mình sẽ tốt đẹp hơn biết bao nhiêu! Cuộc sống gia đình, bạn bè, sẽ tràn đầy yêu thương và hạnh phúc.

Những căn bệnh ảo tưởng, đợi chờ lại là mối nguy cơ, luôn đe dọa nhân cách chúng ta. Ðể cảnh tĩnh nguy cơ của căn bệnh "ngày mai rồi sẽ tính" nầy, người ta thường kể cho nhau nghe câu chuyện ngụ ngôn sau đây:

"Ngày kia Vua quỷ hỏi các quỷ cố vấn:

- Làm thế nào để người trên trần thế sa đọa và thua mình?

Các cố vấn đề nghị nên phỉnh gạt người ta rằng không có Thiên Chúa, hoặc không có trừng phạt gì ở đời nầy và đời sau. Vua quỷ suy nghĩ và chê các ý kiến đó không hữu hiệu. Sau đó một hồi lâu, một quỷ nhỏ lại lên tiếng đề nghị: "Xin Vua quỷ cứ nói với họ là ngày giờ còn rộng, còn dài, hãy thư thả rồi sẽ tính".

Vua quỷ vội đứng dậy, vỗ tay khen hay:

- Ðúng, mầy nói đúng, chỉ có cách nầy mới làm cho con người an tâm mà xa thần thánh và không lo sợ trừng phạt, bấy giờ ta sẽ mặc sức xúi dục chúng sa đọa theo ý của ta".

Người Thánh dùng Thời gian của mình thế nào?

Các thánh cũng sống trên quả đất nầy như con,

Các ngài cũng sống cùng thời gian với các người khác,

Ai cũng một ngày 24 giờ.

Ngày của các thánh không dài hơn một phút.

Các thánh không sống lâu hơn con,

Phanxicô Xaviê 46 tuổi,

Têrêxa Hài Ðồng 24 tuổi,

Rosa De Line 31 tuổi.

Nhưng thời gian của các thánh có một sự cô đọng,

một tỉ trọng đặc biệt,

vì nó có giá trị đời đời, nó có tính trường cửu.

Con có thể sánh một nông dân, một công nhân,

một giờ lao động của họ đáng giá 1,000 đồng, 1,500 đồng, 3,000 đồng...

Nhưng một nhà kinh tế, kỷ nghệ, tài chánh,

có khi một phút của họ, một quyết định đáng giá bạc triệu, bạc tỷ.

Chúa hành động trong các thánh, các thánh cộng tác với Chúa.

Một giờ làm việc của Chúa là vô giá!

Sự thánh thiện được xây dựng trong giây phút hiện tại.

Không ai có thể nên Thánh lui cho quá khứ.

Cũng không ai có thể nên Thánh trước cho tương lai.

Vì thế mà vị Thánh sử dụng phút hiện tại.

Mỗi giây phút, không bỏ lỡ phút nào, để đáp lại tình yêu Chúa với tất cả tâm hồn.

Vị Thánh sống trong hiện tại trong một đại dương bình an vô hạn,

Vì Ngài đã sống trong sự đời đời.

Mà đời đời là một hiện tại vĩnh cửu.


4. Tôi phải tìm nguồn Sinh lực của đời tôi ở đâu?

- Tôi phải tìm từ Ðạo

Mùa hè 1997, trên 1 triệu người trẻ từ các nước trên thế giới về Paris, Pháp; qui tụ bên Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sự kiện đó được nhận ra như một dấu chỉ lớn của thời đại. Con số trên 1 triệu thanh niên tham dự vượt xa bất cứ một dự đoán nào của dư luận và của cả Ban tổ chức. Người ta thắc mắc: Cụ già gần 80 tuổi, đau, yếu nầy còn có gì hay để lôi cuốn được giới trẻ đến gần mình? Niềm tin tôn giáo còn hấp lực nào cho giới trẻ, đặc biệt giới trẻ tại các nước Tây-Âu, thế hệ sinh ra và lớn lên trong bầu khí "trần tục hoá", để họ kéo nhau đến Paris đón chờ sứ điệp của một vị lãnh đạo tôn giáo?

Và sự kiện bất ngờ của mùa hè 1997 tại Paris đã làm người ta giật mình, ý thức được rằng dấu ấn khắc ghi nơi tâm hồn con người, tức là Niềm tin và khát vọng Sự thật, không thể có một yếu tố bên ngoài nào tẩy xoá được, nơi bất cứ ai vào bất cứ thời nào. Niềm tin, và cao độ là niềm tin tôn giáo, phát xuất từ động lực nầy lôi kéo con người hướng về Chân -Thiện - Mỹ. Ðộng lực đó là yếu tố chính của cuộc sống. Người trẻ hôm nay cũng do động lực của niềm tin đó thúc đẩy như con người của các thế hệ cha ông đi trước.

Cách đây hơn 25 thế kỷ, Khổng Phu Tử đã từng nói: "Người mà không tin, thì không biết làm được điều gì!" (Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã) [Luận Ngữ II, 22]. Và khi đồ đệ Tử Cống hỏi về việc trị nước, Ngài trả lời rằng: Nước cần có đủ lương thực, đủ binh lực và niềm tin của dân. Tử Cống lại hỏi, nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba điều, thì đành phải bỏ điều nào trước? Khổng Tử đáp ngay là phải bỏ binh lực. Người học trò lại hỏi dồn, nếu đành phải bỏ một trong hai điều còn lại thì sao? Ngài trả lời là bỏ lương thực, vì dân mất niềm tin thì nước không còn (xem Luận Ngữ XII, 7).

Vào thời tiếp theo, có lần người ta hỏi về việc cứu đời, Mạnh Tử đáp: Cứu người chết đuối dưới sông, thì cần đưa sào cho người ta níu, nhưng cứu cả thiên hạ cho khỏi loạn, thì cần đến Ðạo.

Khi không còn niềm tin ở Thiên Chúa là tạo hoá là Cha của chúng ta thì chẳng còn sợ ai, chẳng chừa một loại thủ đoạn nào, gian trá độc địa nào, chẳng trừ một thứ tội ác nào. Khi không còn niềm tin mọi người là anh em của ta, con một Chúa, thì chỉ áp dụng thuyết "cá lớn nuốt cá bé" - người bóc lột người.

Phát biểu tại Liên Hiệp quốc (5.10.95) Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II nói: "quý vị muốn viết lên một trang sử mới, tốt đẹp cho nhân loại, quý vị hãy sử dụng văn phạm mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta: đó là lương tâm của chúng ta".

Niềm tin tôn giáo thúc đẩy con người dấn thân một cách đại độ để phục vụ anh em đồng loại của mình, hoàn thành nghĩa vụ chính yếu là yêu thương.

Trong năm 1997, nhân dịp kỷ niệm lễ giỗ 20 năm nhà văn công giáo Raoul Follereau (1903-1977) tại Ðại học Sorbonne, Paris, Pháp, tôi được mời nói chuyện về ông. Ðược thúc đẩy bởi niềm tin tôn giáo, Raoul Follereau xác tín rằng "không ai có quyền hưởng hạnh phúc một mình"; và vì thế cùng với bà Raoul Follereau, ông đã lên đường chăm sóc phục vụ những người bạn phong cùi trên thế giới, khắp các lục địa. Một hôm tại một trại cùi, Raoul Follereau đến trước một cô gái đang bị bệnh và đưa tay bắt; nhưng cô gái đứng khựng người lại, không phản ứng. Giám đốc trại nhắc Raoul Follereau rằng nội qui không cho phép người bệnh bắt tay khách. Raoul Follereau trả lời: "Cấm bắt tay nhưng có cấm hôn không?". Vừa nói, ông vừa đến ôm hôn cô gái. Mọi người sững sờ; tất cả những người bệnh trong trại lúc bấy giờ nhào đến gần ông, một người trong họ nghẹn ngào lên tiếng: "Hôm nay tôi cảm thấy chúng tôi là người".

Người phong cùi nhận ra được phẩm giá làm người của mình, còn Raoul Follereau thực hiện được một cuộc đời xứng đáng làm người vì yêu thương. Ðộng lực thúc đẩy con người biết và thực hiện giá trị làm người đó là sức mạnh của niềm tin tôn giáo.

Sống đạo

Ðạo không phải là một chủ thuyết,

để dựa vào đó

mà chỉ trích chống đối nhau,

hay bảo vệ lập trường

riêng tư của mình.

Ðạo là sống theo Phúc âm

Chúa Giêsu cách trọn vẹn.

Thế gian nầy có người không biết

phải trái, phi lý vụ lợi

không can gì, cứ yêu thương họ.

Nếu bạn làm tốt, họ bảo rằng

bạn nhằm mục đích ích kỷ:

Không can gì, cứ làm điều tốt.

Bạn thực hiện chương trình,

bạn sẽ gặp nhiều người bạn giả dối

và kẻ thù đích thực:

Không can gì, cứ thực hiện.

Sự thanh liêm và trung thực

làm cho bạn dễ bị tấn công:

không can gì, cứ thành thực

và thanh liêm.

Công nghiệp bạn xây dựng nhiều năm

sẽ bị phá tan trong một ngày:

không can gì, cứ xây dựng.

Người được bạn giúp đỡ sẽ phản bội bạn:

Không can gì, cứ tiếp tục giúp đỡ

Bạn đem những gì đẹp nhất

của đời bạn cho thiên hạ,

họ sẽ đưa chân đá đuổi bạn:

Không can gì,

hãy cho mọi người những gì tốt nhất.

Hai ngàn năm trước đây

Chúa Giêsu đã làm như vậy.

(Mẹ Têrêxa Calcutta)


5. Chiều cao của đời tôi là gì?

- Là trung thành với Thiên Chúa, với Hội thánh, với Tổ tiên, với Tổ quốc

Nhìn lên, tôi sống mối tương quan với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, và cao hơn cả là Ðấng Tối cao - Thiên Chúa, Tổ của tổ tiên, người Cha chung của nhân loại.

Với Thiên Chúa tôi trung thành:

"Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi" (Mc 12, 30).

Tôi tôn vinh những người được Thiên Chúa gửi đến để chuyển nguồn sống của Ngài đến cho tôi, cho tôi được làm người Việt Nam Công Giáo hôm nay: họ là cha mẹ, ông bà, tổ tiên, và Giáo Hội tôi.

Các tôn giáo của nước tôi, truyền thống văn hoá dân tộc tôi dạy tôi biết thảo kính cha mẹ, ông bà, tưởng nhớ biết ơn tổ tiên, tôn vinh tổ quốc, non sông đất nước, quê hương mà bao thế hệ cha ông đi trước đã đổ xương máu để vun trồng và bảo vệ. Ðó là gia sản chung, niềm tin chung của truyền thống văn hoá đồng bào tôi qua Ðạo Ông-bà.

Nhưng tôi "Tôi đã làm gì về ơn Phép Rửa của tôi?"

Ðây là câu nói của Ðức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chuyển đến người Kitô hữu Pháp trong chuyến viếng thăm quốc gia nầy của Ngài vào dịp lễ Mừng kỷ niệm 1,500 năm Vua Clovis chịu phép rửa. Vì đã nhận phép rửa tội, tôi được mang danh Kitô hữu, nhưng cuộc sống của tôi có phải là hình ảnh trung thực của Ðức Kitô, là chứng nhân tình yêu Thiên Chúa mà Ðức Kitô đã từng thực hiện, hay là tôi đã mang danh mà không sống thực, và lắm lúc tôi đã sống như kẻ phản chứng. Thánh Gandhi đã từng phát biểu thành thật rằng: "Tôi yêu Ðức Kitô, nhưng không thích Kitô hữu".

Làm Kitô hữu chân thực, tôi không thể không biết đến Ðức Kitô là ai, hay không học hỏi Phúc âm, thờ ơ và dững dưng với giáo hội là thân thể sống động của Ngài!

Là Kitô hữu trung kiên tôi không thể không sống đạo, nghĩa là sống như Ðức Kitô đã sống, bằng lời nói, việc làm để rao truyền Nước Thiên Chúa ở giữa mọi người.

Là Kitô hữu chí tình, tôi không thể nguội lạnh, không thấm nhập cuộc sống của Thiên Chúa trong Chúa Kitô qua các bí tích; và không thể chấp nhận làm một tế bào chết, ù lì, thụ động, không cảm xúc bên cạnh muôn ngàn tế bào sống động làm nên Giáo hội của Chúa.

Là người con của Tổ Quốc Việt Nam, tôi không thể chỉ biết tôn vinh quá khứ của tổ tiên bằng lời nói, nhưng còn phải dấn thân phục vụ cuộc sống cộng đồng người Việt trước mắt, đóng góp sức lực của mình kiến tạo hoà bình và thịnh vượng cho đồng bào quê hương hôm nay cũng như tương lai.

Chỉ có Thiên Chúa


6. Chiều rộng của đời tôi là gì?

- Là trưởng thành đối với gia đình, cộng đoàn và xã hội

Sách thánh hiền xưa viết: "Hữu bách tuế nhi đồng, hữu thất tuế như ông" (tạm dịch "có người trăm tuổi vẫn là trẻ con, có đứa bé mới có bảy tuổi đã là người trưởng thành").

Ðối với Hội thánh cũng như đối với Gia đình, Tổ quốc, chúng ta trưởng thành khi nhận lấy trách nhiệm suy tư cũng như hành động.

Những người thiếu trưởng thành mắc bệnh "đợi chờ phép lạ". Họ không muốn đưa vai gánh vác, không mệt óc nghĩ ra sáng kiến, như trẻ con không đóng góp, nhờ người khác bế bồng, cầm tay dẫn đi, khuyên bảo, động viên khi lo sợ khó khăn. Khi một cộng đoàn, một xã hội gặp những người như vậy thì rối beng tùm lum, hoặc là xoay đổi quyết định như chong chóng khi bị những lãnh tụ rỡm lợi dụng.

- Sống trưởng thành là làm người có trách nhiệm với kẻ khác

Khi còn bé, tôi cần đến kẻ khác để sinh dưỡng, giáo dục, bảo vệ tôi. Nhưng tôi phải trưởng thành để hoàn thành nhân cách. Người trưởng thành là người ý thức về sự hiện diện và tự do của kẻ khác; và hơn nữa là mang lấy trách nhiệm dưỡng nuôi, giáo dục, bảo vệ...kẻ khác. Người trưởng thành không mãi thụ động chờ đợi người khác phục vụ mình, ban cho mình các quyền lợi, nhưng ý thức trách nhiệm phải tích cực dấn thân gánh vác các công việc gia đình, cộng đồng, quốc gia và giáo hội.

- Sống trưởng thành là biết cân nhắc, suy xét và can đảm quyết định.

Chúng ta luôn cần có những cố vấn trong các công việc cá nhân hay tập thể, nhưng không ai có thể quyết định thay chúng ta. Cá nhân cần can đảm chọn lựa, quyết định để trưởng thành; đoàn thể cần tự quyết định để định hướng sinh hoạt; quốc gia cần quyết định để thể hiện độc lập và tự do của mình.

- Sống trưởng thành là dấn thân thực hiện công ích và thúc đẩy tiến bộ.

Trưởng thành là vượt qua thái độ tắc trách, tự tách mình ra khỏi trách nhiệm cộng đồng để mãi giữ lấy thái độ phê bình, chỉ trích, xoi mói, bàn tay sạch. Cuộc sống gia đình, cộng đồng, giáo hội hay quốc gia là nỗ lực đóng góp chung mà mỗi người dấn thân gánh vác phần của mình để xây dựng và kiện toàn. Cần chiến thắng nếp sống thụ động, tiêu cực và cố chấp hầu mở rộng lòng hầu đón nhận chân lý yêu thương của Phúc âm, cập nhật những điều hay tốt, mới lạ nơi các dấu chỉ của thời đại để định hướng bước đi của mình, thúc đẩy tiến bộ.

Mẫu mực yêu thương trưởng thành là tình yêu Chúa Kitô, Ðấng đã yêu thương đến hy sinh mạng sống. Chúa Kitô, kẻ vô tội, không đến để xét đoán, nhưng gánh lấy tội con người, tội xã hội để cứu độ. Vì yêu thương mà phải có trách nhiệm, trách nhiệm với mọi người, không trừ ai, dù là kẻ thù của mình:

"Cha của anh em, Ðấng ngự trị trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn nầy phải hư mất" (Mt 18, 14).

Không rời vị trí, không bỏ trách nhiệm

Ở tại vị trí.

Ðứng vững,

tại sao rời bỏ vị trí chiến đấu?

Ai bỏ vị trí?

Thường là những người quá khôn ngoan trốn tránh, những lính đánh thuê,

những nhà thương mãi chỉ kiếm lợi, những người nhát sợ, ngững người ích kỷ.

Khó thật, nguy hiểm thật,

nhưng không rời một ly,

không rời một bước,

giữ vững, liều mạng sống.

Kẻ thù phải bước lên xác ta.

Mỗi người Kitô hữu là một chiến sĩ,

một người đi tiền phong.

"Nầy, Thầy lên Gierusalem

và con người sẽ bị nộp" (Mt. 20, 18).

"Thầy chẳng uống chén đắng

Cha ban cho Thầy sao? (Gioan 18, 11)

"Ðể thế gian hiểu biết Cha yêu mến Thầy

và Thầy yêu mến Cha,

chúng ta hãy đứng dậy và ra đi" (Gioan 14, 31)

Không phải giữ vị trí và kiếm cách yên thân,

mặc cho người khác phải hoạn nạn, tan tác.

Xin Chúa cứu chúng con

khỏi sự khôn ngoan thế gian,

không có trong bảy ơn Chúa Thánh Thần.


7. Chiều dài của đời tôi là gì?

- Là Tín thành với bằng hữu, với mọi người

Một danh tướng của Pháp có lần đã nói: "Tất cả đều mất, trừ danh dự" (Tout est perdu sauf l 'honneur). Trong cuộc sống, không phải lúc nào cũng gặp xuôi may; nhưng cuộc sống của ta còn đáng sống khi danh dự của ta còn. Trước tình trạng khủng hoảng, thế giới ngày nay mất hướng, trong Thông điệp Hào-quang Chân-lý (Veritatis Splendor), Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II đã từng trích lại câu thơ của thi sĩ Juvénal để nói đến giá trị của danh dự trong cuộc sống:

"Tội ác tày trời là coi mạng sống mình hơn danh dự

Và vì quá ham sống mà đánh mất những ý nghĩa đời người"

(Summum crede nefas animam praeferre pudori,

et propter vitam vivendi perdere causas) [Satires, VIII, 83-84]

Người không biết trọng danh dự là người thích tạo ra bầu khí nghi kỵ, chỉ trích, dối trá, không ai tín nhiệm vào ai, không ai còn hứng khởi tích cực xây dựng được một điều gì; phong cách đó, chế độ đó, nền văn minh đó đưa đến kết quả rõ rệt là các mối tương quan xã hội băng rã dần trong bầu khí bạn bè, gia đình, làng xóm, đoàn thể, quốc gia và ngay cả giáo hội.

Người biết trọng danh dự là ngưòi sống thành tín để bạn bè tín nhiệm được mình, là tâm hồn đại độ để có thể tin tưởng vào người khác. Nếp sống đó là chìa khoá để phục hồi niềm tin, canh tân và tạo an bình cho sinh hoạt gia đình, đoàn thể, quốc gia và giáo hội.

Người tín thành, trọng danh dự, luôn luôn giữ lời hứa, chu toàn phận sự, người ta có thể đặt niềm tin vào họ, lúc thịnh cũng như lúc suy, thành công cũng như thất bại họ luôn luôn có mặt bên cạnh bạn bè.

Người tín thành, mở rộng đôi cánh tay, để bắt tay mọi người thân ái, hai bàn tay bên là tín, bên là thành nối dài, nối dài vòng quanh thế giới. Không ai tín thành bằng người sẵn sàng chết thay cho bạn - phải vươn đôi tay tín thành lên khắp năm châu thì mới biến đổi được cái xã hội ta đang sống - nơi mà không ai tin ai, nơi người ta dò thám nhau, rình mò nhau, tố cáo nhau.

Phúc âm của Chúa Kitô dạy tôi, truyền thống văn hoá ngàn đời của dân tộc, tổ tiên Việt Nam nhắc nhỡ tôi: Hãy yêu mọi người, kể cả kẻ thù của tôi, vì mọi người đều là con cái của Cha chung: bốn bể đều là anh em.

Tình yêu cao cả đó thúc đẩy tôi thành thực và trung tín với người chung quanh.

Danh dự con người dựa trên lòng thành thật, vì thành thật tạo cho bằng hữu tín nhiệm.

Trung tín trong lời nói, ngay thẳng trong tâm tư, đại độ trong cách cư xử, đó là nhân cách của kẻ trọng danh dự.

Một người không danh dự, lật lọng, dối gạt bạn bè, và người thân, sẽ gây cho gia đình, quốc gia đổ vỡ, bầu khí xã hội băng rã.

Một gia đình, một đoàn thể, một chế độ không lấy Sự thật và Tín thành để làm tiêu chuẩn, sẽ đẩy đưa nếp sinh hoạt của mình vào con đường thù hận, gian trá, thiếu danh dự, và con dân sẽ mất hướng.

Tôi còn nhớ câu đối quý giá của Sảng Ðình (Linh mục J.M. Nguyễn Văn Thích) treo trong phòng ngài:

Phụng Chúa đức tam: tín, vọng, ái,

Thúc thân thành nhất: tư, ngôn, hành.

Thờ Chúa ba đức: tin, cậy, mến.

Tu thân toàn thành: suy, nói, làm.

Tín thành

Anh là thụ tạo cao sang

Em là lý tưởng vinh quang tuyệt vời.

Anh là đầu óc sáng soi

Em là tim chứa muôn lời yêu thương.

sáng soi anh dẫn đưa đường,

Yêu thương em toả kiên cường phục sinh.

Anh nhờ lý luận phân minh

em giàu nước mắt dịu hiền lung linh

Luận suy kiên vững hùng anh.

giọt châu biến đổi tâm tình đẹp xinh

Anh hùng anh thật quang vinh

Hy sinh em vẫn lặng thinh dịu huyền

Anh là đền thánh trang nghiêm

em là cung thánh thiêng liêng nhiệm mầu

Trước đền cất nón cúi đầu

Trong cung quỳ gối nguyện cầu thiết tha.

Anh thường suy nghĩ cao xa

Em luôn mơ mộng cỏ hoa thơm nồng

Suy tư anh thật tinh thông

Mộng mơ em chiếu một vòng hào quang

Anh là biển rộng mênh mông

em là sông nước sạch trong dịu dàng

Ðại dương có ngọc điểm trang

sông hồ gió mát nắng vàng nên thơ

Anh là chim phương bay xa

em là hoàng yến hót ca giữa đời

Bay xa chinh phục khung trời

Hát ca quyến rũ lòng người trần gian

Sau cùng

anh chờ em ở chân trời

còn em, em đợi trước đài thiên cung.

(Cảm nghiệm của Thánh Thomas Aquinos)


8. Ánh sáng định hướng cuộc đời chúng ta là gì?

- Trong thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta theo ánh sáng của Hy vọng

Ánh sáng định hướng đời tôi là Hy vọng. Lời kinh phụng vụ hát: Kính chào Thánh giá là Hy vọng "độc nhất của chúng tôi" (o crux ave spes unica). Thánh giá đem lại Hy vọng vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào đó để cứu rỗi nhân loại, người lại Phục sinh để đưa nhân loại vào thiên đàng.

Giữa thế gian đầy tội ác, bất công, đói khổ hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta làm gì?

- Người Công giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng (ÐHV. 950).

- Yêu Chúa là yêu trần gian. Mẹ say Chúa là mẹ say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi (ÐHV. 954).

Và Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tránh:

- Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không hy vọng (ÐHV. 951).

Ngài cũng phân tích cho chúng ta thấy những hạng người công giáo khác nhau, và chọn cho mình hướng đi đúng:

- Có hạng "công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.

- Có hạng người "công giáo thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm".

Họ chỉ biết "nhìn lên" đi kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẽ, gánh vác.

Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay! (ÐHV. 966)

Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh cái việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV. 966).

- Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV. 972).

Ánh sáng ấy sẽ chiếu soi giúp ta vượt những thử thách,

- Con hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nôi bộ, ngay trong việc tông đồ.

Như Thánh Phaolô: "Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin mừng. Kẻ thì lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh truyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôì. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi ý lành hay ý xấu, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!" (ÐHV. 976).

đời ta sẽ là một đời hy vọng

- Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.

- Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

- Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp,

- Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.

- Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng

- Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng (ÐHV. 978)

Hướng đến năm 2000, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II gửi cho giới trẻ thế giới sứ điệp: Tuổi trẻ là chứng nhân của hy vọng.

Tôi xin tóm lược nội dung của cuộc sống chứng nhân, niềm hy vọng đó qua sơ đồ tóm lược sau đây, dựa vào mấy chữ đầu của tiếng La tinh SPES (= hy vọng); và tôi chuyển dịch qua tiếng Việt bằng bốn công tác dấn thân bắt đầu bằng chữ P.

S - Servire : P - Phục vụ

P - Progressione : P - Phát triển

E - Evangelisatione : P - Phúc âm

S - Sanctificatione officii: P - Phận sự

Khi chọn danh từ Hy vọng, tôi đã nghĩ đến 4 P nầy, vì nó là chương trình hành động, cho chúng ta hôm nay; thực hiện đúng, nó sẽ thành hy vọng.

Muốn rõ thêm chi tiết tư tưởng và hành động đúng một chiến sĩ, mời các bạn nghiên cứu thật kỹ hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, có tên là Vui-mừng và Hy-vọng, mà tôi đã chọn làm khẩu hiệu và chương trình lúc tôi được chọn làm giám mục (1967).

Sau đây tôi giải thích 4 P ấy:

* Phục vụ

Công đồng Vatican II đã cho chúng ta thấy Hội thánh hôm nay phải là "một Hội thánh phục vụ" - Khiêm tốn và làm ích cho trần gian như "Men trong bột" như "Muối dưới biển" như "Ánh sáng", rất thinh lặng, người ta cũng chẳng để ý đến nhưng không thể thiếu cho sự sống được.

Chúa Giêsu nói: "Tôi không đến để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ". Và Ngài nói tiếp để giải thích sự phục vụ của Ngài: "Cha hiến mạng sống vì người khác".

"Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" (Gioan 13, 14).

Hy vọng hoàn thành nhân cách, hy vọng trở thành người Kitô hữu theo gương Chúa Kitô, hy vọng để kiến tạo một nước Việt Nam hoà bình, hạnh phúc, một giáo hội qui tụ những người con Thiên Chúa... sẽ không dựa trên ước mơ đề cao, tự phụ về mình, đoàn thể mình; không sử dụng cường lực, bắt ép; không đòi hỏi mình được tôn vinh và đặc quyền náo đó cho mình; cho cộng đồng mình...; nhưng "rửa chân cho nhau", làm kẻ phục vụ tôn trọng, yêu thương: đó là con đường hy vọng, hằng ngày canh tân cuộc sống cá nhân, tạo bầu khí lành thánh cho xã hội và giáo hội.

* Phát triển

Ðức Giêsu bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn" (Mt 14, 16).

Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa mang thân xác làm người, thức tỉnh chúng ta biết giá trị cao cả của thân xác con người chúng ta. Làm sao có thể thực hiện tình yêu thương người bên cạnh, khi có kẻ thừa thải cơm áo, tiền của dư đầy, nắm hết tiện nghi của cải và quyền lực, bên cạnh đa số người anh em lâm cảnh đói rách, bị đối xử bất công, bị tước bỏ quyền sống, quyền được tự do...

"Hãy cho họ ăn", của ăn thân xác và tinh thần, bằng nổ lực đóng góp vào cuộc sống kinh tế, phát triển khoa học để phục vụ con người, đào sâu các giá trị văn hoá; bằng việc dấn thân tranh đấu cho công lý, hoà bình để nước Thiên Chúa là tình huynh đệ nhân loại mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn trên trần thế.

Hội thánh phục vụ bằng cách phát triển toàn diện con người. Trong những năm 60 thế giới bắt đầu nói rất nhiều đến "Phát triển", Ðức Thánh cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp "Phát triển các dân tộc" - trong đó Ngài công bố thành lập Ủy ban Giáo hoàng sau nầy trở thành Hội đồng Toà thánh Công lý và Hoà bình. Hội thánh nhằm lo cho con người sống xứng đáng địa vị làm con Chúa.

Phát triển đây không có nghĩa kinh tế mà thôi - nhưng là phát triển con người toàn diện, thể lý, trí thức, tâm linh...

Một điều quan trọng ở đây là đánh tan lối suy nghĩ sai lạc: Hội thánh chỉ lo phần linh hồn thôi, không lo phần xác. Lối suy nghĩ đó đi xa sự thật lịch sử: trở lại ngàn năm nay, đâu đó Hội thánh tổ chức trường học, viện cô nhi, dưỡng lão, trại bài phung, bệnh viện từ vườn trẻ đến đại học.v.v...

- "Phát triển là danh hiệu mới của hoà bình" (Ðức Phaolô VI).

Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành" bộ máy tự động", con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ÐHV. 586).

- Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẻo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm ảnh tượng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ÐHV. 592).

Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác:

* Biết vùng dậy.

* Biết suy tư.

* Biết tổ chức.

* Biết chiến đấu.

* Biết chống ngược ý con khi cần. Con sẽ hạnh phúc thật vì anh em cùng thăng tiến với con (ÐHV. 593).

Nói tóm lại, Hy vọng là sức mạnh thúc đẩy chúng ta làm chứng về nổ lực dấn thân phát triển con người toàn diện.

* Phúc âm

"Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28, 18).

- Hội thánh phục vụ bằng cách Phúc âm hoá chính mình để rồi Phúc âm hoá xã hội. Không phải để lôi kéo người ta vào đạo, nhưng để giá trị của Phúc âm soi rọi cho chúng ta sống tốt đẹp hơn.

Văn hào B. Pascal đã nói : "Khi tôi hiểu biết Thiên Chúa thì tôi cũng đã hiểu biết chính mình tôi". Vì sao? Vì ý Thiên Chúa dựng nên tôi làm con Ngài, cao sang tốt đẹp hơn muôn phần, và những con người khác quanh tôi cũng cao cả như vậy.

Phúc âm là Lời đem đến ơn phúc, lời từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Lời đó, vâng theo ý Chúa Cha, để làm một việc là yêu thương con người, và yêu thương đến độ hy sinh mạng sống mình.

Kitô hữu chúng ta không có con đường nào để chọn, nguồn sinh lực nào để múc lấy, mẫu mực nào để bắt chước, mục tiêu nào để đạt được ngoài Ðức Giêsu Kitô, được trao lại cho chúng ta qua các nội dung của Phúc âm.

Ðức Giêsu Kitô là lời làm thân xác, ở giữa chúng ta, không phải là lời nói suông nhưng là một con người, một cuộc sống.

Ra đi rao truyền Phúc âm là nghĩa vụ thiết yếu của Kitô hữu và Giáo hội, trước hết là toả lan ánh sáng yêu thương, tinh thần hy sinh, phục vụ người anh em, kể cả kẻ thù mình, như Chúa Kitô đã thực hiện.

- Con chỉ có một Nội qui: Phúc âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là Hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con.

Một vị thánh ngoài Phúc âm là "thánh giả" (ÐHV. 986).

- Quả tim con phải rộng đủ để chức đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc âm hoá của Hội thánh (ÐHV. 331).

Khi chiếu sáng Phúc âm chung quanh ta là ta làm tông đồ.

- "Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng" như hạt lúa chôn vùi, nát thối để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại.

"Tông đồ bằng chứng tích". Lời quả quyết suông không đáng người ta tin tưởng mấy, dù ngọt ngào trau chuốt đến đâu.

Tang vật đáng tin hơn.

Hình ảnh chụp được, tiếng nói ghi âm được, càng dễ đánh động người ta hơn.

Nhưng chính con người sống động bằng xương thịt, nếu cả cuộc sinh hoạt, nếu cả một lớp người, một lớp gia đình cùng sống một lý tưởng, thì chứng tích ấy có một sức mạnh thuyết phục lớn lao biết chừng nào! (ÐHV. 332).

- Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta:

Tông đồ giáo dân! (ÐHV. 335).

Thật thế, tại ngay Rôma nầy, trong ba năm qua, từng ngàn giáo dân tình nguyện làm "thừa sai đô thị", thăm viếng, mang tặng Phúc âm đến từng gia đình trong giáo phận.

- Ðường lối của tông đồ thời đại ta:

* Ở giữa trần gian

* Không do trần gian

* Nhưng cho trần gian

* Với phương tiện của trần gian (ÐHV. 340)

* Phận sự

Mỗi người là một người con yêu quý của Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Phẩm giá cao quí và độc đáo đó đi kèm với nghĩa vụ phải hoàn thành phận sự riêng, ơn gọi riêng của mình. Thay vì dành tất cả tài năng, sức lực để rình mò và chỉ trích việc làm của người bên cạnh, là một người anh em có những hoàn cảnh, khả năng, phận vụ riêng của người ấy, thì trước hết chúng ta mỗi người thành tâm, tích cực chu toàn trách nhiệm và phận vụ riêng của mình. Phận vụ đó muốn được thánh hoá để bắc nhịp cầu đến với người bên cạnh, thì cần thấm nhập tinh thần Ðấng Thánh của Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô. Phận vụ của Ngài là yêu thương, phục vụ cho đến chết và chết trên Thánh giá.

Hội thánh phục vụ bằng các phận sự trần thế. Ðây là một linh Ðạo mới. Thường ta có quan niệm người thánh là người làm các việc đạo đức, tham gia các hội đoàn... nhưng quên rằng "nên thánh là chu toàn phận sự của mình"; ông Thánh Giuse nên thánh nhờ làm thợ mộc tốt, Ðức Mẹ nên thánh nhờ làm nội trợ tốt: làm tất cả vì Chúa Giêsu. Nguyên tắc rõ ràng hơn cả

- Thánh hoá bổn phận của con. Thánh hoá người khác nhờ bổn phận của con. Thánh hoá chính mình con trong bổn phận (ÐHV. 19)

Thánh hoá bổn phận của con: tôi là nhà báo, dân biểu, học sinh, làm bếp, tôi thánh hoá công việc của tôi, thay vì chỉ làm nghề lấy tiền, tôi làm thật tốt vì yêu mến Chúa - khác nhau lắm.

Thánh hoá người khác nhờ bổn phận con: qua tờ báo tôi viết tốt, bảo vệ sự thật, đem nguồn vui đến cho nhiều người; tôi làm dân biểu, phát biểu can đảm theo lương tâm, tôi thánh hoá người khác - Thế giới nầy không khá được, đất nước không đổi mới được - Vậy thì bao nhiêu nhà báo, bao nhiêu dân biểu, trí thức công giáo, tin lành,... ở đâu? Chúng ta sống như người vô tôn giáo. Và ta đã không thánh hoá người khác nhờ bổn phận.

Thánh hoá chính mình trong bổn phận: Dĩ nhiên khi làm như vậy ta phải hy sinh, can đảm, sáng suốt và bền chí, và ta nên thánh, đâu cần phải ăn chay, đánh tội... mà những người ở xung quanh không ai chịu nổi.

- Nếu ai cũng thánh hoá bổn phận, thì tâm hồn mới, gia đình mới, thế giới mới (ÐHV. 20)

- Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay "làm phép lạ" sái nơi, sái giờ. Ðến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống (ÐHV. 21).

- Giáo dân nghĩ: Thánh là sốt sắng kinh nguyện, giảng giải, xa lánh thế gian: họ hoá ra giáo sĩ, tu sĩ thời xưa. Tu sĩ nghĩ: Thánh là dấn thân giúp việc xã hội, hoạt động chính trị, tranh đua với giáo dân mà nhập thế. Loạn xà ngầu (ÐHV. 22).

- Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ! Họ chỉ chu toàn bổn phận (ÐHV. 25).

Trong tinh thần hy vọng và sức mạnh Phục sinh của Chúa Kitô, thi sĩ Joseph Folliet (1903-1972) đã viết:

Vui mừng và Hy vọng

"Cuối đường bạn đi không còn là đường, nhưng là đích điểm lữ hành.

Cuối dốc bạn leo, không còn là dốc, nhưng là đỉnh cao tuyệt vời.

Cuối đêm tối tăm, không còn là đêm, nhưng là hừng đông rạng rỡ.

Cuối mùa đông giá, không còn là đông, nhưng là mùa xuân ấm áp.

Cuối giờ bạn chết, không còn là chết, nhưng là sự sống vĩnh hằng.

Cuối phút thất vọng, không còn là thất vọng, nhưng là hy vọng tràn đầy.

Cuối cùng của nhân loại, không còn là người, nhưng là Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta".

Chính Ngài là vui mừng và hy vọng của chúng ta


9. Ðộng lực nào giúp chúng ta thay đổi và thăng tiến xã hội ta đang sống?

- Tinh thần đoàn kết hiệp nhất

Nhà tư tưởng Pierre Teilhard de Chardin có nói rằng: "đăng giả hội". Cái gì vươn lên thì sẽ gặp nhau. Chỉ khi nâng tâm hồn lên, vất bỏ đi đằng sau những cố chấp, tự mãn, tị hiềm nhỏ nhoi, thì mắt mới có khả năng nhìn về một hướng, tay có khả năng nắm chặt với nhau để cùng đi.

Cuối thế kỷ 20, chúng ta nhìn lui lại lịch sử nhân loại, và lịch sử của dân tộc ta để thấy rằng, không phải người ta đã không hô hào tình huynh đệ đoàn kết..., nhưng những đau thương, đỗ vỡ cho con người do ngay những chủ thuyết, phong trào nầy đem lại đều phát xuất từ một điểm: Các chủ thuyết đó, chưa thấy được tầm cao cả của con người và các người dấn thân chưa nâng tâm hồn mình lên đủ.

Ðức Kitô đã cho Kitô hữu chúng ta một bí quyết về tình liên đới và đoàn kết:

Ta hình dung Chúa Giêsu như mặt trời ở giữa phát ra các tia sáng quanh cả vòng tròn, càng ra xa trung tâm, các tia ấy, có khoảng cách xa nhau hơn nữa. Nhưng nếu ta đi ngược lại càng trở về trung tâm, càng xích lại gần nhau, cho đến lúc gặp nhau ở một trung tâm điểm là Thánh tâm Chúa Giêsu.

Tất cả đoàn kết, liên đới... đều ở xa xa cả, vì còn giữ kẽ, còn bảo vệ lợi ích của cái tôi, còn có chiến lược...

Các thánh phân biệt Tình thương tiếng Hy-lạp dùng Eros hoặc Philia, với Agapé đức Ái, là tình thương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Gioan và Phaolô chỉ dùng danh từ Agapé khi nói đến Thiên Chúa: "Như Ðức Chúa Cha đã yêu thương Thầy, Thầy yêu thương anh em" (Gioan 15, 9).

"Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em" (Gioan 13, 34).

Tình thương ấy khiến cho ta hiệp nhất như lời Chúa Giêsu cầu nguyện: "Xin Cha cho chúng con nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha" (Gioan 17, 21-22). Phải có cái nhìn của Chúa Giêsu đối với mọi người.

Căn tính của người công giáo là Ðức Ái.

- Chúa chỉ bắt các tông đồ mang một đồng phục rẻ tiền mà khó kiếm:

"Người ta sẽ lấy dấu nầy mà biết các con là môn đệ Thầy: Các con thương yêu nhau (ÐHV. 748).

Nhưng yêu thương thế nào đây?

- Có loại bác ái ồn ào : Bác ái phong thánh.

- Có loại bác ái kể công : Bác ái ngân hàng.

- Có loại bác ái nuôi người : Bác ái sở thú.

- Có loại bác ái khinh người : Bác ái chủ nhân.

- Có loại bác ái theo ý mình : Bác ái độc tài.

Bác ái nhãn hiệu, bác ái giả hiệu (ÐHV.756).

- Bác ái không có biên giới; nếu có biên giới, không còn là bác ái nữa (ÐHV. 787).

- Hãy yêu thương nhau không bằng lời nói mà bằng việc làm. Hãy yêu thương nhau bằng tay mặt làm mà tay trái không biết.

"Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con" (ÐHV. 755)

Ðức Kitô nâng tâm hồn lên với Cha Ngài, để chỉ biết có yêu thương: Yêu tất cả, yêu từng người, yêu người thân, yêu kẻ thù, yêu người lành thánh, yêu kẻ tội lỗi. Yêu bằng hy sinh mạng sống mình cho kẻ mình yêu.

Pascal đã từng nói: "Trái tim có những lý lẽ mà trí khôn bình thường không biết được".

Lý của trái tim xem ra điên rồ: yêu đến hy sinh mình, yêu kẻ thù mình...; nhưng nâng trái tim nầy lên, bấy giờ liên đới, đoàn kết mới có sức mạnh và ý nghĩa.

Nâng tâm hồn lên, để cảm nghiệm được rằng lý thuyết có thể khác nhau, nhưng con người luôn có cơ may đến gần và hiểu nhau trong cuộc sống.

Nâng tâm hồn lên, mới thấy có những sức mạnh bên trong, bên trên có thể hoàn cải nếp suy tư, thay đổi những cơ chế mà người ta nghĩ rằng không còn cơ may cứu vãn.

- Bác ái là nối dài tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại (ÐHV. 792)

- Con phải nói được cách thành thực rằng:

"Tôi không xem ai là kẻ nghịch của tôi, kể cả những người căm thù tôi nhất, những người bắt bớ tôi, thề không đội trời chung với tôi" (ÐHV. 793).

Hiệp nhất, liên đới muốn thành hiện thực phải múc lấy sức mạnh cao siêu đó của bác ái.


Ðoàn kết hiệp nhất

"Nếu nốt nhạc bảo:

Chỉ một nốt làm sao thành nhạc được

Thì làm sao có bản hoà tấu.

Nếu lời nói bảo:

Chỉ một lời làm sao thành trang sách

thì bao giờ có những pho sách.

Nếu viên đá bảo:

Chỉ một viên đá làm sao thành vách tường

thì bao giờ có nhà ở.

Nếu một giọt nước bảo:

Chỉ một giọt nước làm sao thành sông hồ

thì bao giờ có đại dương.

Nếu hạt lúa bảo:

Chỉ một hạt thóc làm sao thành đồng lúa

thì bao giờ có cơm gạo.

Nếu con người bảo:

Chỉ một cử chỉ yêu thương

thì làm sao cứu vớt tất cả nhân loại

bao giờ có công lý và hoà bình

hạnh phúc và vui tươi trên quả đất.

Như bản hoà tấu cần đến mỗi nốt nhạc

Như pho sách cần đến mỗi lời nói

Như ngôi nhà cần đến mỗi viên đá

Như đại dương cần đến mỗi giọt nước

Như cơm bánh cần đến mỗi hạt thóc

Như thế giới cần đến mỗi con người

Thiên Chúa và anh chị em cần đến bạn,

bất cứ ở đâu, bất cứ giờ nào,

bạn là người duy nhất, Chúa cần trong giây phút ấy

và vì thế không ai thay thế được


10. Khi đã thực hiện được các ước nguyện trên đây, ta phải làm gì?

- Ta phải nhìn lên Chúa, nhìn chính mình, nhìn mọi người và mỉm cười

Người ta có lần hỏi mẹ Tê-rê-xa: Xin Mẹ để lại cho chúng tôi một sứ điệp? - Sau một hồi suy nghĩ, Mẹ Tê-rê-xa trả lời ngắn gọn:

"Hãy luôn mỉm cười".

Khi mẹ Têrêxa nói đến nụ cười, mẹ muốn nói đến nụ cười có ý nghĩa thâm sâu, hạnh phúc vì được Thiên Chúa ở với mình, một nguồn vui không ai cướp được.

- Thay "nụ cười ngoại giao" của con bằng "nụ cười chân thành Kitô hữu" (ÐHV. 773).

- "Tôi không làm việc bác ái được vì tôi không có tiền!" Chỉ có tiền mới bác ái sao? - Bác ái của nụ cười, bác ái của bắt tay, bác ái của thông cảm, bác ái của thăm viếng, bác ái của cầu nguyện (ÐHV. 714).

Mẹ Tê-rê-xa mỉm cười và khuyên chúng ta mĩm cười vì Mẹ xác tín có Thiên Chúa trong cuộc sống mình, nơi tâm hồn những người chung quanh mình. Nụ cười ấy bảo chứng cho hạnh phúc của kẻ được Thiên Chúa ở cạnh mình, hoàn thành tốt đẹp đời mình, thấy được hình ảnh Thiên Chúa trên khuôn mặt anh chị em mình.

Ta nhìn lên Chúa và mỉm cười, vì Chúa là Cha đầy lòng thương xót, đã dựng nên ta, hằng tha thứ lỗi lầm và đón chờ ta về nhà Cha hạnh phúc muôn đời. Nhìn lại bản thân ta bé nhỏ, làm sao được Chúa thương vô hạn, cả cuộc đời ta đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác , làm sao Chúa chọn tôi làm con Chúa? Tôi chỉ biết cười sung sướng và hát vang "Hồng ân Thiên Chúa bao la, muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người". Tôi nhìn đến mọi người mà vui cười, vì tôi biết được họ đều là anh chị em của tôi, con một cha với tôi, cùng nâng đỡ nhau, kề vai sát cánh tiến về nơi "không còn nước mắt", không còn than khóc, vì mọi sự ấy đã qua đi. Tôi còn nhớ tiếng hát thuở bé thơ: "Nầy nầy anh em cất tiếng cười, cười mừng mộng đẹp tuổi xuân tươi, cười mừng tương lai đầy nghìn thắm, cười mừng vinh phước ở trên trời". Ðức Hồng Y Daneels ở Bỉ đã nói: "Thách đố lớn nhất của thời đại ta là hy vọng" có nhiều người giàu có, thông thái, chức quyền, nhưng đau khổ vì không biết sau cuộc đời nầy họ sẽ đi về đâu? Họ sẽ bỏ mất tất cả! Chúng ta biết ta đi về hạnh phúc bất diệt, nên ta mỉm cười chia sẻ niềm vui với mọi người và muốn mọi người cùng được vui và khắp thế giới đều hát Allêluia.

Vì niềm vui lớn nhất là được Phục sinh với Ðức Kitô.

Nếu vợ biết mỉm cười với chồng,

Chồng mỉm cười với vợ,

Nếu mỉm cười được với kẻ thù mình,

Vui cái vui của kẻ mình không thích...

Gia đình, xã hội, quốc gia sẽ thực hiện được cửa Thiên đàng nơi trần thế.

Không phải ta ảo tưởng, không biết đến những khổ đau chồng chất trong cuộc sống hằng ngày, nhưng như Thánh Augustinô từng nói:

"Yêu thương chẳng quản khó khăn

Gian nan cũng mến, nhọc nhằn cũng thương".


Hạnh phúc của thời đại ta

1- Phúc cho ai biết nhìn mình mà cười

vì sẽ không bao giờ hết chuyện để giải trí.

2- Phúc cho ai biết phân biệt

quả núi khác viên sỏi

vì sẽ tránh được bao nhiêu phiền hà.

3- Phúc cho ai biết lắng nghe và lặng thinh

vì sẽ học được bao điều mới lạ.

4- Phúc cho ai biết quan tâm

đến điều người khác yêu cầu

vì được san sẻ bao là vui tươi.

5- Phúc cho ai biết chăm chú

đến việc bình thường

và bình tĩnh trước việc quan trọng

vì đời họ sẽ tiến lên xa.

6- Phúc cho ai biết đánh giá một nụ cười

và bỏ qua những lời lẽ vô lễ

vì đường họ đi sẽ huy hoàng ánh sáng.

7- Phúc cho ai biết giải thích

cách độ lượng thái độ của người khác

trái với vẻ bên ngoài

vì họ sẽ được xem là chất phát.

8- Phúc cho ai biết suy nghĩ

trước khi hành động

và cầu nguyện trước lúc suy tư

vì họ sẽ tránh được nhiều sự ngây ngốc.

9- Phúc đặc biệt cho ai biết

nhận thấy Chúa trong tất cả

những người mình gặp

Vì họ đã gặp chính sự sáng và sự bình an thật



II. THẬP ÐẠI BỊNH

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: "Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Ðức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Ðức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Ðức khâm sứ!". Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại!

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở: "Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt!".

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống. Quá khứ không bao giờ trở lại. Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói: "Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn". Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ. Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Ðất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm - Nhìn tương lai với hy vọng.


Bỏ qua quá khứ hướng về tương lai

Hãy xăn tay áo mà hành động!

Nghĩa là ý thức trách nhiệm của con đối với người anh em.

Nghĩa là chấp nhận cộng tác, giúp đỡ,

Quyết tâm thắng sự dữ

Chúng ta hãy bắt đầu lại!

Mađalêna, Nicôđêmô, Phêrô đã bắt đầu lại,

khiêm tốn, can đảm, hy vọng quyết tâm.

Phần còn lại của cuộc đời họ đẹp hơn phần trước.

Xây dựng lại, cũng cố lại tất cả.

Ðó là quy luật của thực tế, của lịch sử,

của công cuộc tông đồ, mặc dù tất cả sụp đổ đối với sức loài người;

sau 300 năm bắt đạo trên Ðế quốc La-mã,

Phêrô ngã xuống thì Clêmentê, Sixtô, Linô, Clêtô đứng lên thay.

Phaolô ngã xuống thì có Cyprianô, Cornêliô, Chrysôgô-nô,

lớp nầy ngã xuống có lớp khác xăn tay xông vào thay.

Trên quê hương Việt Nam của con cũng thế,

Trịnh qua, Tây Sơn qua, Nguyễn qua,

Nhưng Giáo hội còn.

Tổ tiên ta đã tiếp tục, đã khởi sự lại,

Với niềm tin sắt đá vào Chúa, vào anh em, với tình thương.

Họ không mất thời giờ ngồi đếm khuyết điểm, thất bại khó khăn,

Vì Chúa không thích những vị thánh tiêu cực.

Sau khi sống lại Chúa Giêsu không bao giờ nhắc chuyện cũ,

Ngài vẫn tin tưởng và nhìn về tương lai:

"Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng" (Mc. 16,15)


2. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ!

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì "để xem đã", hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu "không làm nổi đâu"!

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity). Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện: Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả!

Người tích cực thì lạc quan. Kẻ tiêu cực bi quan. Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói: Ðừng trách rằng tối; tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi! Ðức Gioan Phaolô II kêu gọi: "Ðừng sợ", vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.


Chỉ trích, than vãn là vô ích

Chỉ trích, dễ, ai cũng làm được

Nhìn khuyết điểm của người khác mà bi quan cũng dễ,

Vì ai trong chúng ta lại không có khuyết điểm?

Trước hết là bản thân con, không có luật trừ.

Ngay cả Thánh cũng phải luyện tập suốt đời,

để nên trọn lành "Như Cha chúng ta trên trời".

Khi ngồi đếm khuyết điểm của người khác,

con tiêu cực, kiêu căng, ghen ghét và mất phí thời giờ.

Ðếm khuyết điểm của người khác và bám víu vào quá khứ,

là nhìn đăm vào tật xấu của họ, hầu như không có gì là tốt cả?

Nhưng cuộc đời con đâu phải ở trạng thái tĩnh!

Nó luôn luôn biến động, luôn luôn thay đổi,

nên con phải nhìn vào hiện tại, vào tương lai.

Người tội lỗi có một quá khứ nặng nề, nhưng có thể nên thánh hôm nay,

nhất là ngày mai, và có thể còn tiến nhanh hơn con.

Nếu con mất giờ, mất sức, ngồi khóc than, chỉ trích,

chắc chắn trong lúc ấy, có những người đến sau con,

mỗi ngày tuần tự tiến lên trước con.


3. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Ðại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế ... Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Ðại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiêp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.


Những hiệp sĩ của ngày hôm nay

Thời trung cổ, các hiệp sĩ bênh vực các kẻ goá bụa, mồ côi, các hiệp sĩ bảo vệ danh dự, bảo vệ quê hương, họ mộ quân đi phương xa để giải phóng mồ Thánh Chúa.

Ngày hôm nay, các hiệp sĩ chiến đấu chống bất công, chống áp bức, chống kỳ thị chủng tộc, chống bóc lột, chống độc tài.

Ngày hôm nay họ chiến đấu để tiêu diệt bệnh tật, đói rách, cùng khổ, mù chữ, thất nghiệp.

Họ chiến đấu vì hoà binh, họ chấp nhận mọi hy sinh, để cùng xây dựng một hệ thống kinh tế mới, một nền hoà bình trường cửu.

Họ tận tụy công việc khoa học để phục vụ con người.

Nhất là các hiệp sĩ hôm nay nổ lực giải phóng mồ thánh Chúa trong các linh hồn.

Họ là hiệp sĩ của tình thương, họ không ngại đến bất cứ đâu để phục vụ những ai cần đến họ, những ai bị bỏ rơi, tàn tật, nghèo đói sự thật, khao khát tình thương.

Số hiệp sĩ nầy hiếm hơn,

Có người mang y phục, danh vị hiệp sĩ, mà lòng chưa hiệp sĩ.

Có người rất tầm thường mà có một tấm lòng hiệp sĩ.

Những hiệp sĩ thầm lặng mà rất tích cực.

Không cần có tài, có tiền, con vẫn mời gọi vào hàng hiệp sĩ xứng đáng nầy.


4. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy!

Biểu hiện của bệnh này: Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ. Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui: Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Ðức Thánh Cha. Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ÐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ÐTC có thể nói cho chúng con nghe được không. ÐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ÐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ÐTC mỉm cười trả lời: Ðức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Ðức Mẹ Lộ-Ðức lại!

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Ðức Mẹ Fatima sợ Ðức Mẹ Lộ Ðức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Ðức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ. Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn. Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Ðức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi tôi đi đường tôi anh đi đường anh.

Nếu ..., vâng...nhưng mà..., cách nào?..., tại sao?...

Can chi không?

Không can gì cả.

Nếu con ở trong Chúa là con ở trong trung tâm,

tất cả mọi sự luân chuyển quanh mặt trời ấy.

Con gặp tất cả trong Chúa.

Nhưng ngược lại, nếu con bật ra khỏi trung tâm, con mất tất cả.

Vậy tại sao con than van? Tại sao con lo lắng?

Con phải giao phó tất cả trong tay Chúa,

Không chút ngần ngại, không điều kiện.

Nếu con ở trong Chúa, sao con lo sợ?

Sao con còn tính toán? Con đặt điều kiện?

"Nếu..., vâng... nhưng mà, cách nào? Tại sao?"

"Tôi sẵn sàng làm việc đó nếu không có anh ấy trong nhóm tôi".

"Vâng, tôi sẽ chuyển công việc, nhưng mà nơi tôi đến phải có..."

Ðối với Chúa, với công việc của Chúa,

Phải "vô điều kiện".

Mẹ Maria hỏi: "Sự ấy làm sao được..." (Lc. 1,343), vì Mẹ là người nữ,

Mẹ muốn giữ lời hứa với Chúa.

Chúa đã nói với Mẹ qua Thiên Thần: "Chúa Thánh Thần sẽ đến" (Lc. 1,35).

Mẹ đã trả lời ngay: "Tôi xin vâng" (Lc.1,38)

Từ giây phút ấy, Mẹ đã đi vào hang lừa máng cỏ,

Trốn sang Ai.-cập, về xưởng mộc Nazareth,

Ðứng dưới chân Thánh giá vô điều kiện.


5. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Ðụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Ðến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát!

Chuyện kể hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc. Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng... Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ!

Ðể xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Ðạo binh Ðức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Ðạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Ðấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

Hàng rào kẽm gai của tôi

Những trại tập trung ở Dachau, ở Auschwitz vô cùng kinh khủng, nhưng người ta có thể trông thấy được, trên bản đồ có chỉ nó nằm ở vùng nào, nước nào.

Giờ đây còn có những trại tập trung, những Dachau mới, Auschwitz mới, rộng hơn thế giới nầy, cái thế giới được gọi là tự do, của con người.

Nhưng phân nửa có thể trông thấy, và phân nửa không thấy được.

Nạn nhân là những người bị giam cầm khốn khổ, bởi bất công, bởi áp bức bóc lột.

Ai lưu ý mới trông thấy được, dù chiến tranh chấm dứt, nó vẫn còn. Có hàng rào kẽm gai bao bọc họ, "Dây kẽm gai" của bất công do những người áp bức, bóc lột dựng lên, "Dây kẽm gai" do sự hững hờ của con tạo ra.

Mỗi ngày bao nhiêu anh em con ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La-tinh, ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, ở Nam Tư, bao nhiêu anh em đang lê bước trên đường tử nạn lên núi Calvariô của họ.

Họ là Chúa Giêsu bị bỏ rơi, bị quên bẵng, bị kỳ thị cách bất công độc ác.

Vì con sợ bẩn tay, sợ liên lụy đến bản thân con.

Vì con tiếc nuối đời sống xa hoa, tiêu thụ, sung sướng của con.

Nên con không muốn nhớ, không muốn biết đến họ, nhưng sự thật vẫn sờ sờ đó, trách nhiệm vẫn đè nặng lương tâm con.

Xin Chúa Chúa cho con can đảm phá tan cái "hàng rào kẽm gai" của ích kỷ, hèn nhát, kỳ thị, vụ lợi, đang siết chặt thế giới trong vòng vây của nó, mà con là một trong những đồng loã đã dựng nên nó.


6. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người Công Giáo kiểu đó thường hay trở thành Công Giáo tùy thời: Thịnh thì Công Giáo, suy thì chối. Công Giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công Giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức. Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt... mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo Hội này, như tại các nước Tin Lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo Hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận. Chính phủ ra lệnh cho Giáo Hội; Quốc Hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai Mục Sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Ðức Giáo Hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Ðức Giáo Hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai. Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo Hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo Hội thương cảm, nhưng Giáo Hội cần nói sự thật. Ðức Thánh Cha nói: "không cần ai bỏ phiếu cho sự thật" vì sự thật vẫn là sự thật.

Phúc âm giả

Phúc âm giả thì khác Phúc âm thật.

Thánh Phao lô đã nói đến thứ "Phúc âm" khác với thứ tôi rao giảng.

Làm sao phân biệt?

Cứ xem sự phân biệt giữa người theo Phúc âm nào mà phân biệt.

Phải phát hiện ra nào là công lý giả, tự do giả, giải phóng giả.

Muốn được thế con phải Phúc âm hoá chính bản thân con,

Kẻo con không có đủ Phúc âm trong con,

hay con chưa sống Phúc âm đích thực.

Con phải làm cho con, cho người khác,

cho xã hội hôm nay đầy Phúc âm,

chỉ lúc ấy con mới gặp được người mới, xã hội mới.

Một mình con sống tốt cho bản thân con chưa đủ,

Cần phải dấn thân vào trong thế giới hôm nay.

Chúng con có trách nhiệm:

Một ngày kia chúng con sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa,

chúng con đã tận tụy hay đã hững hờ trước những đau khổ của anh em.

Con thích suy niệm bài Phúc âm:

"Thầy là cây nho, các con là cành" (Gioan 15,5).

Nếu chúng con để nhựa sống Phúc âm là Chúa Giêsu thấm nhuần chúng con,

Chúng con sẽ nên người mới,

Chúng con sẽ có "Phúc âm chính hiệu",

Vì chúng con đầy Chúa Giêsu trong lòng.


7. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Ðâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe. - Chứ con xin điều gì? - Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi! - Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây! - Dạ Chúa đợi gì con đây? - Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn. Ông gặp thánh Phêrô. Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại: Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không? - Có. Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không? - Có. Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không? - Có. Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

Không bao giờ Chúa bỏ mặc con

Với những giới hạn của con:

Chúa nhân từ vô cùng, Chúa hiểu lòng con, và sự yếu hèn của con,

nên Chúa không bỏ con.

Chúa công bình vô cùng, nên Ngài không đòi hỏi sự gì vượt quá sức con.

Con sung sướng vô cùng khi suy ngắm Chúa công minh vô cùng

và con giao phó tất cả, tất cả trong tay Chúa.

Kinh nghiệm đã cho con thấy,

Những lúc đường con đi gặp khó khăn muôn vàn,

Ðêm tối, thử thách hầu như không có lối thoát,

Chúa không bỏ con, vì Chúa công minh vô cùng.

Lúc con hầu như sắp ngã quỵ dưới sức mạnh của sự dữ,

Chúa vẫn không bỏ con,

Ngài ở gần con hơn bao giờ cả.

Lúc con muốn thất vọng buông xuôi,

Vì trong ngoài gặp bao nhiêu trở ngại như vũ bão,

để xuyên tạc thiện chí của con, hoạt động của con, Chúa vẫn không bỏ con.

Vì chính những lúc ấy, Chúa Thánh Thần dạy dỗ con phải làm gì, phải nói gì.

Chúa Thánh Thần tiếp tục đổ hy vọng vào tim con đang héo hắt.

Ngài bảo đảm cho con rằng:

"Không bao giờ Chúa bỏ mặc con với giới hạn của con" (Lc. 12, 11-12).

Vì nếu làm như thế thì Chúa không còn là Chúa nữa.


8. Bệnh tùy hứng vô định

Người không có lý tưởng rõ ràng. Ðời vô định hướng. Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại. Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Ðây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài Nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được. Nhưng phải định hướng cho trúng. Truyện kể có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới. Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình. Ðến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

Lao động, trí óc, đoàn kết, truyền thống Là bí quyết của thành công

Con ở tù, nhưng trí óc con ở ngoài.

Con nghĩ đến tương lai Ðất - Nước,

Làm thế nào để xây dựng lại?

Quê hương thân yêu và tang thương của con?

Mỗi cá nhân, mỗi giới đều có trách nhiệm.

Cách riêng đối với anh chị em công nhân,

Có thể tóm tắt trong bốn tiếng:

"Lao động, trí óc, đoàn kết, truyền thống".

Bí quyết để thành công.

Ðây là bốn yếu tố có tính cách liên kết,

chủ yếu không thể thiếu được,

đối với một người yêu nghề cách mê say.

Vì Thánh ý Chúa đã kêu gọi họ,

để họ thánh hoá môi trường họ đang sống

và để họ được thánh hoá trong môi trường ấy.

Xin Chúa cho những người anh em con,

ý thức vai trò quan trọng của họ,

biết tìm ánh sáng nơi lời Chúa,

và sức mạnh nơi Mình Chúa.

Nếu họ muốn, họ có thể biến đổi quả đất.


9. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng: thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó. Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, Linh Mục thì đổ cho Giám Mục, Giám Mục lại chỉ tay về Giáo Hoàng. Như thế Giáo Hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

Ðừng ngồi đếm khuyết điểm, Phải xung phong làm việc tích cực

Nhìn vào khuyết điểm, thất bại của anh em, để chỉ trích nhưng không ra tay giúp đỡ, là ích kỷ, là khôn ngoan thế gian, vì con sợ liên luỵ, sợ bẩn tay.

Nếu con yêu anh em thật sự,

Nếu con chỉ tìm sáng danh Chúa

Thì con phải thấy trách nhiệm của con đối với anh em, phải hợp tác, phải nâng đỡ, phải quyết tâm chiến đấu, phải xăn tay áo để làm việc, một lần chưa xong, phải làm lại nhiều lần để thắng sự dữ.

Làm lại cách nhẫn nại, làm lại cho tốt hơn trước, xây dựng lại, chỉnh đốn lại mọi sự.

Ðó là luật thực tế, luật lịch sử, luật tông đồ.

Thiên Chúa đã dựng nên con người cách kỳ diệu,

Và khi con người hư hỏng,

Chúa đã "làm lại" cách nhiệm lạ hơn nữa.

Mặc cho tất cả sụp đổ.

Phêrô, Phaolô, Hội thánh sơ khai vẫn tiếp tục, vẫn làm lại,

Với lòng tin sắt đá nơi quyền phép Thiên Chúa, nơi thiện chí và sức mạnh con người.

Trong Phúc âm nhiều người đã thất bại,

Nhưng Chúa Giêsu bảo phải làm lại ngay, không đợi chờ:

"Hãy ra về, và đừng phạm tội nữa" (Gioan 5,4)

"Hãy về bán của cải, phân phát cho kẻ khó... rồi theo ta!" (Mt. 19, 21).

Con hãy bắt tay vào việc, đừng ngoảnh mặt lui, hãy nhìn thẳng.

Thiên Chúa không thích những môn đệ tiêu cực.


10. Bệnh bè phái chia rẽ

Ðây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người. Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học. Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám Mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ - mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức. Có nhiều người "phạm tội vì Chúa": lấy lý do "vì Chúa" mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta. Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh nầy nên có câu châm ngôn: "Ðừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác". Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn: "Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con" (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin. Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: "Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu vì họ không giống Chúa Kitô".

Óc bè phái là một nguy cơ cho Hội thánh

Trong Hội thánh, óc bè phái là một phương thức chắc chắn nhất để giới hạn ảnh hưởng của Phúc âm.

Thánh Phaolô đã nói trong thư gửi Titô: "Cộng đoàn Kitô hữu là một môi trường, là một nơi nhà chung, ở đó chấp nhận mọi sự khác biệt.

Ở đó mọi người sẽ chung sức đấu tranh để nhân loại được hợp nhất.

Ở đó không có những ủy ban riêng biệt, không phân chia giai cấp, không mưu đồ cấu tạo những cộng đoàn đồng nhất nhưng lại khép kín, không có chỗ cho người không thuộc "phe ta" (Ti. 2,1-14).

Xin Chúa cho con thành thực với chính mình con, kẻo con sống đạo đức theo lối "đạo đức trá hình" theo "óc bè phái", xây dựng những "pháo đài", những "lô cốt" kiên cố chỉ dung nạp những ai là đồ đệ của con,

Và làm cho bao tâm hồn, bao khả năng trong Hội thánh phải héo khô, cằn cỗi, nghèo nàn, thất vọng.

Bởi con độc ác, không cho họ một chỗ đứng nào trong Hội thánh, chỉ vì một tội là không theo "đàng nhân đức" của con, không phải đồng hương... đồng khói, không họ hàng linh tông, không thuộc "cánh ăn nhậu" với con.

Hội thánh không phải là Chủ ông của Sứ điệp Chúa Giêsu,

Mà là tôi tớ phục vụ sứ điệp ấy

Phúc âm là ân huệ mở rộng cho mọi người

Dù ở ngoài Hội Thánh cũng sử dụng được.

Ðiều quan trọng không phải là làm cho Hội thánh vinh quang, làm lợi cho giáo dân. Quan trọng là làm cho sức mạnh của sự thật Nước Trời được phổ biến đến mọi người. Chúa Giêsu dạy các Tông đồ: Ðừng ngăn cản người ngoài nhân danh Ngài mà trừ quỷ (Lc. 9, 49-50).

Ngài muốn cho chúng ta hợp tác huynh đệ với mọi người chứ không khư khư làm đại lý độc quyền về Sự thật.

Ở đâu có tình yêu cộng tác, ở đó có Chúa Giêsu.

Con phải phục vụ Hội thánh, làm tôi tớ khiêm tốn và trung thành của Sứ điệp Chúa Giêsu.

Chứ không phải là chủ ông quan liêu,

Gây trở ngại khó khăn, khiến người ngoài muốn tìm Chúa, phải hiểu lầm, thất vọng và xa cách.

Xin Chúa cho con năng xét mình.

Vì lời nào? Cử chỉ nào? Thái độ nào của con?

Mà người ta xa Chúa, thất vọng, hiểu lầm Hội thánh.

Con có vui mừng vì có nhiều sứ giả Phúc âm?

Có vui mừng hợp tác với họ, nâng đỡ họ?

Hội thánh khó tiến triển, vì có nhiều chủ ông của Phúc âm và hiếm tôi tớ trung thành phục vụ Phúc âm.

(Ghi lại bài nói chuyện của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận với Cộng Ðồng người Việt Công Giáo tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.09.1998)



III. THẬP ÐẠI BẠI

Giới thiệu

Một thanh niên nọ có dịp học hỏi nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Trong các anh hùng người Việt, vị mà anh khoái nhất là Nguyễn Trãi, vì tinh thần ông rất dũng cảm, khí thế ông rất kiêu hùng. Anh ta thuộc lòng cả bài "Bình Ngô đại cáo" của ông.

Khi đọc bức thư ông gửi cho Tướng lãnh Trung quốc khuyên bảo họ nên rút quân xâm lược về, nếu không sẽ thảm bại nhục nhã, anh khoái nhất là chỗ vị quân sư của vua Lê Lợi đã phân tích sự việc dưới tiêu đề: "Lục đại bại và Lục đại thắng", nghĩa là sáu nguyên do bất lợi khiến cho Trung quốc xâm lược phải thua và sáu nguyên do về thiên thời, địa lợi, nhân hoà, chính nghĩa, ái quốc khiến quân ta sẽ thắng.

Chàng thanh niên ấy đêm ngày cứ trầm ngâm suy nghĩ về "Lục đại bại và Lục đại thắng" mãi cho đến một hôm anh nảy ra một sáng kiến về thuật lãnh đạo, mà rồi, thấy hay hay, anh bèn bắt chước Nguyễn Trãi đặt tên cho là: "Thập đại bại và Thập đại thắng". Anh lấy làm thích chí và vui vẻ đem ra giải thích cho các bạn mười lý do khiến người lãnh đạo thất bại và ngược lại mười lý do khiến người lãnh đạo thành công. Các bạn nghe qua cũng tạm được bèn tặng cho anh một biệt hiệu khiêm tốn nhưng cũng rất oai: "Nguyễn Trãi tí hon". Tuy là sáng kiến của một "cậu bé tí hon" nhưng cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ:


Thập đại bại (của lãnh đạo)

- Ðón nhận mọi ý kiến, nhưng không lệ thuộc ý kiến (ÐHV. 842).

- Có vô số ý kiến mà không quyết định là vô ích. Có ít tư tưởng mà thực hiện tất cả mới là lãnh đạo thực sự (ÐHV. 845).

- Biết giữ kỷ luật cá nhân, biết tổ chức đời sống, biết phân giá trị mọi việc. Ðó là những điều kiện giúp con lãnh đạo cách hiên ngang, anh hùng, đem lại tin tưởng lúc mọi người rung động, loạn lạc... (ÐHV. 854).

- Con đừng quên rằng tùy viên của con là người, là một nhân vị, là con Chúa, nên chỉ có họ và Thiên Chúa có quyền đối với họ. Không ai được coi nhẹ như vật sở hữu, như máy móc sản xuất (ÐHV. 867).

- Lãnh đạo không gương sáng được vâng phục mà không kính phục. Lãnh đạo chỉ nêu gương sáng trong nhiệm vụ được kính phục mà không mến phục. Lãnh đạo nêu gương sáng trong mọi lãnh vực được vâng phục, kính phục, mến phục và toả ra một tầm ảnh hưởng rất sâu rộng (ÐHV. 869).

- Ðặc điểm của lãnh đạo thiên tài: Tìm họ, khám phá họ, tiếp đón họ, chọn họ, huấn luyện họ, tín nhiệm họ, xử dụng họ, mến yêu họ. Không ai là nhà lãnh đạo lý tưởng cũng như không ai là cộng tác viên thập toàn (ÐHV. 870).

- Lãnh đạo phải trở nên mọi sự cho mọi người, trong bất cứ trường hợp nào, chấp nhận mọi thứ công việc, mệt nhọc, chống đối và khi cần phải hy sinh cả mạng sống còn để mưu ích cho đoàn thể, nhưng đừng bao giờ làm giảm sút sự lo lắng cho chính linh hồn con (ÐHV. 881).


Bị phản đối, được cảm phục rồi được luyến tiếc

Ðó là trường hợp của Ðức cha Hsu, Giám mục giáo phận Hồng-Kông.

Là một người ngoại đạo, gốc ở Thượng Hải, Francis Hsu đã học tại Ðại học Oxford, Anh quốc, rồi về làm một công chức cao cấp tại Hồng Kông. Nhờ ơn Chúa soi sáng và hướng dẫn, ngài đã trở lại đạo Công giáo, dâng mình làm linh mục, sang học Ðại chủng viện dành cho những người tu muộn ở Rôma.

Sau khi thụ phong linh mục, ngài trở về Hồng Kông, làm Giám đốc Caritas. Công việc đang phát triển tốt đẹp thì một ngày kia, Ðức cha Biauchi thuộc Hội Truyền giáo Pime đã già yếu, muốn chọn cha làm giám mục phụ tá cho ngài.

Ða số giáo sĩ Hồng Kông, đều tỏ thái độ phản đối kịch liệt. Họ đưa ra nhiều lý lẽ thật vững chắc:

- Chúng tôi không muốn chấp nhận một người mới vào đạo làm Giám mục của chúng tôi. Francis Hsu mới hôm qua đây là công chức của Nhà Nước Hồng Kông ai cũng còn nhớ cả! Hơn nữa, ngài là người Thượng hải, mà tại Hồng kông đa số là người Quảng Ðông, nói tiếng Quảng Ðông; cha Francis Hsu nói tiếng Quảng Ðông với giọng Thượng Hải, ngài giảng thì ai nghe cho được!

Người khác lại bảo:

- Hồng Kông thiếu gì linh mục đạo đức, anh tài mà lại chọn người mới làm linh mục có mấy năm, chưa biết công việc trong giáo xứ... lên làm Giám mục!

Cả một phong trào nổi lên rầm rộ. Họ còn viết thỉnh nguyện thư gửi sang Toà thánh, lại còn xin các Giám mục ở Ðài Loan can thiệp giùm để tránh được sự khốn nạn là được một người "nước rửa tội trên trán chưa ráo" lên làm Giám mục của một giáo phận lớn lao và phức tạp như Hồng Kông.

Sau khi cân nhắc kỹ càng, Toà thánh cương quyết phong cha Francis Hsu làm Giám mục Hồng Kông. Ngài làm phụ tá hai năm rồi lên chánh toà. Vì đức tin và lòng vâng phục, hàng giáo sĩ Hồng Kông phải chấp nhận nhưng trong thâm tâm người nào cũng đầy thất vọng, lo lắng. Ai cũng chờ xem ông "đạo mới" hành động ra sao... Một ít lâu sau, họ bắt đầu thấy Ðức cha Hsu bắt tay vào việc.

Ngài trùng tu ngôi nhà thờ Chánh toà cho khang trang và mỹ thuật, phù hợp với phụng vụ mới, phân phối lại các giáo xứ, mở thêm nhiều trung tâm Caritas để phục vụ giới nghèo, tạo điều kiện cho giới trẻ học nghề, học văn hoá bổ túc.

Các tổ chức trong giáo phận như Hội đồng Linh mục, Hội đồng Mục vụ, Tông đồ Giáo dân đều hoạt động sôi nổi, theo sát các sáng kiến và chỉ thị của Tân Giám mục. Ngài lắng nghe mọi người, học hỏi với những nhà chuyên môn, đi đến những xóm nghèo, những khu lao động để tìm hiểu thao thức nguyện vọng của giáo dân. Ngài tiếp đón mọi người. Phân phối cho ai nấy tuỳ khả năng và thiện chí. Tất cả đều diễn tiến một cách tốt đẹp, khiến cho mọi linh mục phải thốt lên: "Trước đây người ta phản đối việc tấn phong Giám mục cho Ðức cha Hsu bao nhiêu thì ngày nay người ta lại phục sát đất các công việc và con người của ngài bấy nhiêu!"

Thật thế giáo phận Hồng Kông là một giáo phận vô cùng phức tạp: Phức tạp từ việc nhiều linh mục Trung quốc từ Lục địa đi ra thuộc đủ mọi giáo phận, gây lắm khó khăn cho sự hoà đồng, đến chuyện các tu sĩ thuộc các dòng vừa bị trục xuất cũng từ Lục địa Trung quốc ra mà đa số là những thừa sai ngoại quốc, những nhà chuyên môn với trình độ kiến thức cao, rất khó điều khiển! Hơn nữa, trong giáo phận lại có vô số dòng nam, dòng nữ, các Hội truyền giáo cũng nhiều, chỉ cần kể đến một ít tổ chức lớn cũng đủ thấy bao nhiêu là khó khăn, phức tạp: Dòng tên, dòng Ða Minh, Dòng Maristes, Hội Thừa sai MEP (Pháp), Hội Thừa sai PIME (Ý), Hội Thừa sai Maryknoll (Mỹ)...Thế mà, với một vóc người nhỏ thó, lanh lẹ, Ðức cha Hsu đã làm nổi bật tài lãnh đạo sáng suốt, sự bình tĩnh phi thường trong tất cả các buổi họp. Vấn đề nào ngài cũng am tường, câu hỏi hóc búa nào cũng được ngài giải quyết cách dễ dàng, thực tế, và cho những quyết định thật sáng suốt hay ho. Không một ai qua mắt ngài nổi! Các linh mục ngoại quốc hết lời ca tụng ngài, dân Tây cũng như dân Tàu đều tỏ ra cảm phục, quý mến ngài. Giáo phận Hồng Kông thực sự hướng đến một tương lai huy hoàng, đầy lạc quan và tin tưởng.

Các vấn đề đối ngoại cũng được Ðức cha Hsu giải quyết cách tốt đẹp. Ngài là một trong những ủy viên uy tín nhất của ban lãnh đạo Ðài phát thanh Veritas ở Phi luật Tân. Chính ngài là người đã tổ chức các buổi họp Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Á châu ở Hồng Kông.

Làm sao một mình ngài lại có thể cùng một lúc thực hiện được nhiều công việc thuộc nhiều lãnh vực như thế? Thưa vì ngài biết dùng người, tin người và phân phối công việc cho mỗi người, mỗi Dòng cách hợp lý và chính xác. Thành quả rõ ràng nhất là ngài đã tổ chức, điều hành cách tốt đẹp, thoải mái, đâu vào đấy, nhiều phiên họp của Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Á châu tại Hồng Kông. Hồng y, Giám mục nào đến tham dự cũng đều thoả mãn, khâm phục.

Năm 1973, tại Hồng Kông xảy ra một vụ tổng đình công của toàn thể giáo sư, giáo viên trong nhiều tháng mà chình quyền bó tay bất lực, giải quyết không nổi. Cuối cùng cả hai bên đều nhất trí mời Ðức cha Hsu đứng ra làm người hoà giải trung gian. Nên nhớ đại đa số giáo sư, giáo viên ở Hồng Kông đều là người ngoài Công giáo, điều ấy chứng tỏ uy tín của Ðức cha Hsu lớn biết chừng nào. Suốt nhiều đêm ngày, ngài đã vất vả hội họp, gặp gỡ riêng từng nhóm giáo sư, giáo viên, nghiên cứu các yêu cầu của họ rồi thương lượng với Nhà Nước. Công việc đang tiến hành tốt đẹp, hai bên đã đi đến chỗ thoả thuận, ngày thành công huy hoàng sắp đến thì đùng một cái: trưa hôm ấy sau khi dùng cơm tại khách sạn Lee's Gardens trong một buổi họp mặt vui vẻ với các giáo sư, lúc đứng dậy ra về bổng nhiên Ðức cha Hsu ngã nhào xuống. Một giáo sư bác sĩ Y khoa có mặt trong buổi họp mặt vội chạy đến tìm cách cấp cứu. Nhưng than ôi, quả tim Ðức cha Hsu đã ngưng đập! Vì tinh thần hy sinh, bác ái hoà giải; vì xót thương biết bao con em hiện đang thất học; vì quá lao nhọc trong suốt những ngày vừa qua, nên quả tim của nhà lãnh đạo tài ba phải ngưng đập một cách mau chóng, lôi kéo theo bao niềm đau đớn, tiếc thương.

Không một đám tang nào trọng thể như đám tang của Ðức cha Hsu: ngoài giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận khóc thương ngài, người ta còn thấy sự hiện diện của đông đảo các giáo sư, những người ngoài Công giáo đã được tiếp xúc, hiểu biết ngài. Ai ai cũng thương tiếc một vị thầy, một ngưuời bạn, một nhà lãnh đạo sáng suốt và trìu mến của xứ Hồng Kông.



IV. THẬP ÐẠI THẮNG

Chắc các bạn cũng cảm nghiệm cái lý thú của "Thập đại bại và thập đại thắng" rồi chứ gì? Hoan hô "Nguyễn Trãi tí hon"!

- Sáng kiến hợp thời và hữu hiệu mới lãnh đạo được (ÐHV. 843).

- Con phải tin tưởng vào sứ mạng của con, cảm hoá và truyền thông lòng tin tưởng, bầu nhiệt huyết trong con cho kẻ khác (ÐHV. 838).

- Con hãy dùng ý chí tập trung tư tưởng, can đảm quyết định và quyết định kịp thời (ÐHV. 844).

- Chỉ trích cấp trên làm nhụt nhuệ khí, tạo chia rẽ giữa các tùy viên và mở đường cho họ bình phẩm phương pháp, bưới móc khuyết điểm của chính con (ÐHV. 848).

- Lãnh đạo phải can đảm, có cái nhìn bình tĩnh trước mọi biến cố, ở mọi nơi trong mọi lúc. Chừng ấy con ổn định được tình trạng thử thách nguy hiểm nhất (ÐHV. 851).

- Con đừng phí một giây, đừng dư một lời, đừng bỏ một dịp. Con sẽ nhận xét sâu xa hơn. Ý chí cương quyết hơn. Ðược người cảm phục hơn (ÐHV. 853).

- Nhìn rõ, nhìn thật, nhìn đúng. Xét người, xét việc, xét cảnh. Ðó là óc thực tế con cần có để lãnh đạo, dựa trên các dữ kiện khách quan (ÐHV. 855).

- Dùng toàn công thức là máy móc, ngủ trong thủ tục là lỗi thời, lạc trong chi tiết là chật hẹp. Con phải: Nhìn tổng quát, thích ứng dẻo dai, biến dỡ thành hay. Con cần: Cố vấn, chuyên viên, nhất là cần ý chí của con (ÐHV. 856).

- Như Chúa Giêsu đã ở liên lỉ với các Tông đồ ba năm, con hãy hoà mình với các cộng tác viên của con, thông cảm, chia sẻ tâm sự, vui buồn và đoán biết tâm lý từng người. Con sẽ ngạc nhiên vì lúc ấy họ sẽ đoàn kết và cố gắng vượt mức (ÐHV. 862).

- Chiếm được con tim của tùy viên, con có thể thấy họ dốc hết toàn lực để theo con, vì họ biết con yêu họ thành thực, đậm đà, hy sinh cho họ tận tụy. Nếu con không lãnh đạo họ bằng tình yêu, con phải sử dụng hạ sách "vũ lực" (ÐHV. 865).

- Thiên Chúa là bí quyết của nhà lãnh đạo. Ngài ban năng quyền và không bỏ ai dựa vào quyền năng của Ngài để lãnh đạo. Tinh thần khiêm nhường và lòng bác ái là căn bản: Phúc âm của Ngài hướng dẫn nhà lãnh đạo (ÐHV. 871).

- Nhà lãnh đạo không chỉ căn cứ vào báo cáo thôi, nhưng lo lắng đọc "sách đời sống" của mỗi tùy viên hơn: đọc trong lòng họ, trong thử thách họ (ÐHV. 872).

- Lúc đối thoại, Chúa Giêsu không đóng miệng Phê-rô nóng nảy. Lời lẽ bồng bột chua chát của người khác không làm sụp đổ vũ trụ đâu. Con đừng sợ, cứ đối thoại với tất cả tâm hồn thay vì lý sự (ÐHV. 878).


Ánh sáng thế gian

Tháng 9 năm 1939, nhà độc tài Phát-xít Hitler xua quân xâm lược Tiệp Khắc, rồi tiếp đó thôn tính Ba Lan, thi hành những thủ đoạn cướp bóc, tàn phá, diệt chủng...

Với ý ngay lành và nhằm mục đích cứu vãn Giáo hội phần nào, một vị Hồng Y Giáo chủ Ðông-Âu đã có những lời tuyên bố có vẽ xu thời, xoa dịu, hoà hoãn với chính quyền Phát-xít và đã bị Hitler lợi dụng để xuyên tạc che mắt thế giới, cũng như gây bao hoang mang cho giáo dân đang quằn quại giữa lòng cuộc chiến ghê tởm.

Biết được tin ấy, Ðức Piô XI đánh điện tín khẩn trương mời vị Hồng Y Giáo chủ về Rôma. Ngài lắng nghe, thông cảm với ý ngay lành của vị Hồng Y, nhưng không nhất trí với thái độ và lập trường của nhà lãnh đạo ấy. Theo ý Ðức Thánh Cha, Hồng Y Giáo chủ phải là người lãnh đạo dân Chúa, phải là "ánh sáng thế gian" như lời Chúa dạy trong Phúc âm. Ngọn hải đăng không cần tuyên bố rùm beng, nhưng chỉ cần sáng lên giữa phong ba bão táp, kiên vững giữa gầm sóng vỗ, để người ta thấy rõ con đường trước mặt mà hăng hái tiến đi. Một người khác có thể nói lời hoà dịu với Hitler và ai hiểu sao thì hiểu; nhưng người lãnh đạo dân Chúa thì không được phép làm vậy, không thể có thái độ ba phải, dù phải gian nan klhổ cực, dù phải hy sinh mạng sống. Chúa Giêsu đã nói: "Ta là mục tử tốt lành... thí mạng sống mình vì chiên... Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng biết Ta" (Gioan 10). Nhưng nếu tiếng của ta mập mờ, sinh nhiều rối loạn, thì ai biết ngã nào mà theo nữa!

Hồng Y Giáo chủ nghe Ðức Thánh Cha giải thích đã hiểu được trách nhiệm của mình. Ngài cám ơn Ðức Thánh cha và hứa sẽ vâng lời Ðức Thánh Cha trong hết mọi sự, bất chấp mọi nguy hiểm đe đọa. Ngài đã trở lại quê hương, nói rõ lập trường của Giáo hội đối với những tội ác xâm lược, tàn sát người vô tội đến độ diệt chủng do nhà độc tài Phát-xít Hitler gây nên.

Thế giới lấy làm kính phục tâm hồn quả cảm của vị Hồng Y Giáo chủ ấy. Riêng Hitler, ông ta gầm thét căm thù, gây nên cho ngài nhiều chuyện khó dễ, rắc rối; nhưng vẫn kiên trì đứng vững, thinh lặng và sáng chói như ngọn hải đăng. Giáo dân vững tâm nhìn lên ngài như vị lãnh đạo tinh thần rất xứng đáng của họ.

- Lãnh đạo là đấu hiệu hữu hình của quyền bính. Người lãnh đạo phải ý thức sứ mệnh chỉ huy của mình, sứ mệnh đại diện cho uy quyền và bổn phận làm cho kẻ khác trọng uy quyền của mình. Làm như thế là phục vụ quần chúng (ÐHV. 840).

- Tai họa lớn nhất của con khi lãnh đạo là sợ nói và hành động như một nhà lãnh đạo (ÐHV. 841).

- Không có hành động nào mà không phải là "thánh giá", nếu không vác nổi thánh giá thì không được gì cả (ÐHV. 849).


Lãnh Ðạo là răn bảo trong yêu thương

Dòng Salésiens (Institut des Prêtres Salésiens, lấy tên Thánh Phanxicô Salêsi) do thánh Gioan Bosco thiết lập năm 1868 (với mục đích mở trường dạy các em mồ côi nghèo khổ) đã phát triển mạnh mẽ, có nhiều chi nhánh tại Tây Ban Nha. Một hôm trong giấc ngủ, cha Giám đốc của một trường thuộc nhà dòng nghe thánh Gioan Boscô nói về mình rõ ràng từng tiếng: "Con lãnh đạo nhà nầy, nhưng con sơ suất để nhiều học sinh lỗi luật, hãy cải thiện nếp sống trong nhà lập tức". Lúc ấy thánh Boscô đang hoạt động ở nhà mẹ tại Turinô (Ý) nhưng Chúa hay ban cho ngài cùng một lúc có mặt ở hai chỗ.

Cha Giám đốc trường bận rộn nhiều công việc, vì thế tâm trí sao lãng, không nhớ lời thánh Boscô. Vài hôm sau ngài lại nghe tiếng thánh nhân bảo như lần trước. Nhưng rồi, ngài cũng quên nốt. Ít ngày sau, thỉnh thoảng ngài có nhớ đến chỉ thị của thánh Boscô, nhưng ngài lại tự nhủ: "Mình đã phấn đấu làm hết phận sự, lại được các tu sĩ khác cùng cộng tác, cùng chia sẽ trách nhiệm mà... Hay đây chỉ vì mình bị in trí, ám ảnh? Không nên vội tin những giấc mơ!"

Ðã mấy ngày trôi qua mà ngài chẳng khởi sự cải cách một điều gì cả! Sáng hôm ấy, ngài dâng lễ như thường lệ. Lúc bắt đầu đọc kinh Cáo mình, ngài nghe tiếng thánh Boscô nói rõ ràng: "Hãy mau cải thiện kỷ luật trong nhà, nếu không thì đây là Thánh lễ cuối cùng của đời con". Kinh khiếp quá!

Lễ xong ngài liền bàn hỏi với các linh mục, tu sĩ phụ tá, ai cũng lo lắng, suy nghĩ, nhưng thảo luận suốt ngày mà vẫn không tìm được nơi nào hoặc học sinh nào lỗi luật cả. Tối hôm ấy, cha Giám đốc trằn trọc trên giường, thao thức, hồi hộp, không sao nhắm mắt được. Lời thánh Gioan Boscô phán bảo ban sáng vẫn còn vang vẳng bên tai: "... nếu không thì đây là thánh lễ cuối cùng của đời con!". Ngài vắt tay lên trán, tính nhẩm từng giờ, từng khắc, từng phút đang trôi qua chầm chậm... "mai tôi còn sống để dâng lễ nữa không?"

Bổng chốc mắt ngài sáng rực lên: thánh Gioan Boscô đứng ngay cạnh giường từ hồi nào: Hãy chỗi dậy, mặc áo vào và đi theo cha!

Cha Giám đốc nửa mừng nửa sợ vâng lời chổi dậy, mặc áo vào và lẻo đẻo theo sau thánh Gioan Boscô. Ði tới đâu các cửa đã khoá đều tự động mở ra cả. Thánh nhân đưa tay chỉ từng phòng học, từng nhà ngủ, từng nhà chơi, phòng khách... chỉ đến đâu ngài phê bình đến đó: phòng nầy được, đáng khen, có lòng đạo đức, học hành tiến bộ; phòng kia kỷ luật lỏng lẻo, học tập lôi thôi... Cuối cùng, thánh nhân đưa cha Giám đốc tới một phòng và chỉ cho ngài thấy:

- Xem kìa, chúng nó thật vô kỷ luật: bỏ việc học hành, biếng lười lao động, xao nhãng kinh nguyện, thậm chí còn có đứa trẻ trở thành sa đọa, xấu xa...

Cha Giám đốc trông thấy rõ ràng từng đứa từng lỗi, từng việc xảy ra...thánh Boscô tiếp: Cha nhắc lại: Phải yêu thương chúng nó, hoà mình với chúng nó, tìm hiểu chúng nó, cùng ăn, cùng giải trí, cùng cầu nguyện, cùng đói thoại với chúng nó. Sự hiện diện đầy tình yêu thương của chúng ta khiến chúng được đặt vào một tình trạng không thể phạm tội. Phải cương quyết ngăn chận sự dữ với bất cứ giá nào...

Cha Giám đốc lúng túng cám ơn thánh Gioan Boscô đoạn hứa sẽ làm theo lời khuyên bảo của ngài. Thánh nhân đưa cha trở lai tận giường, chúc lành cho cha rồi vụt biến đi.

Vừa tảng sáng, cha Giám đốc triệu tập Hội đồng các tu sĩ trong nhà lại, thuật lại tỉ mỉ câu chuyện thánh Gioan Bosco đến thăm cùng nói lại những điều, những biện pháp thánh nhân đề nghị. Cả nhà nhất trí, phân công tác theo dõi các học sinh cách chặt chẽ. Họ đã bắt gặp quả tang mọi việc đúng hệt như thánh Boscô đã cho thấy. Họ thi hành kỷ luật ngay: một số ít bị loại ra khỏi nhà, số còn lại phải chịu kỷ luật nặng nhẹ tùy trường hợp. Từ ngày ấy trở đi, tinh thần trong nhà, từ tu sĩ đến học sinh đã có những bước cải tiến rõ rệt. Ngôi trường từ đó trở thành một gia đình hạnh phúc, gương mẫu.

- Biết điều con muốn và muốn cách cương quyết. Nếu không cương quyết định đoạt, con sẽ làm các tuỳ viên tê liệt. Ðể các tuỳ viên tự do quyết định, con sẽ gây hỗn loạn (ÐHV. 846)

- Lãnh đạo là sống kỷ luật, tìm hiểu lệnh trên, khôn khéo hành động theo mệnh lệnh. Lãnh đạo là tìm kiếm phương thế thực hiện và giàu nghị lực để thắng các trở ngại (ÐHHV. 647).



V. TẠI SAO TÔI CHỌN CHÚA?

Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Chúa Giêsu là Thiên Chúa tốt lành vô cùng, đáng yêu quý vô cùng. Nhưng đối với bản thân tôi, tôi đã bị Ngài lôi cuốn theo Ngài suốt đời, vì tôi yêu các khuyết điểm của Ngài.


Giới Thiệu

Chúa Giêsu là Thiên Chúa tốt lành vô cùng, đáng yêu quý vô cùng. Nhưng đối với bản thân tôi, tôi đã bị Ngài lôi cuốn theo Ngài suốt đời, vì tôi yêu các khuyết điểm của Ngài.

Các bạn trẻ Việt Nam thân mến,

Hôm nay tôi vui vẻ đến Strasbourg, Pháp, để có mặt với các bạn trong ngày lễ mừng kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La-vang, Quảng Trị và lễ Các Thánh Tử đạo Việt Nam.

Nhân dịp nầy, tôi tâm sự với các bạn lý do tại sao tôi sung sướng gấp đôi khi có mặt tại thành phố trung tâm Âu châu nầy. Tôi đến Strasbourg lần nầy ví như làm một cuộc hành hương, cảm tạ Chúa đã cho tôi ơn được đi vào cuộc sống Chúa Ba Ngôi và làm con Hội thánh nhờ phép Rửa tội cách đây 70 năm. Người ân nhân trao ân huệ đó cho tôi là linh mục Stoeffler, nhà truyền giáo người xứ Strasbourg nầy; ngài có tên Việt Nam là cố Thể, làm linh mục chánh xứ họ đạo Phủ Cam, giáo phận Huế, nơi sinh quán của tôi trong vòng 25 năm. Hôm nay tôi hân hạnh gặp được người cháu gái của linh mục Stoeffler, hiện là phu nhân của ông Siegwalt xã trưởng Krautergersheim thuộc vùng phụ cận thành phố Strasbourg.

Chúa đã đi bước trước để chọn tôi làm con Ngài: 70 tuổi làm người Kitô hữu, 45 năm làm linh mục và 31 năm làm giám mục. Suốt quảng đời đó, có những lúc thăng, trầm, nhưng tôi luôn tràn đầy hạnh phúc vì Chúa đã luôn hiện diện trong cuộc sống "năm chìm bảy nổi" của tôi. Trong dịp Ðại hội Truyền giáo tại St. Pierre-Les-Lacs, ở giáo phận Auch, miền Tây-Nam nước Pháp, người ta mời tôi đến chia sẻ niềm tin trong cuộc sống Kitô giáo. Câu hỏi họ đặt ra cho tôi là "tại sao tôi lại chọn Chúa Giêsu?" Tại sao tôi dâng hiến đời tôi cho Ngài, tôi đã trả lời:

"Tôi đã chọn Chúa Giêsu, vì tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu".

Mới nghe đầu đề như vậy, chắc các bạn e ngại, và còn khó chịu nữa; bây giờ tôi chia sẻ cảm nghiệm đó của tôi, để các bạn có dịp đối chiếu lại với kinh nghiệm sống đạo của các bạn.

(Ghi lại bài chia sẻ của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, sáng thứ Bảy, ngày 12.09.1998, tại nguyện đường Dòng Truyền-Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm vui sống đạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu, do Trung-Tâm Nguyễn-Trường-Tộ tổ chức).


1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!

Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi". Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43).

Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài "nhớ" một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên nầy suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!

Trong Phúc âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ...

Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.

"Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con thưa rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...". Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!..." (Lc. 15, 20-23).

Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.


2. Chúa Giêsu không biết làm toán

Trong dụ ngôn con chiên bị mất (xem Mt. 18, 12-14; Lc. 15, 4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!

Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Gia-cóp (xem Gioan 4, 1-42).


3. Chúa Giêsu không sành luận lý

Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.

"Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc... (Lc. 14, 12-14).

Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (xem Lc. 15, 8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: "bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được." - Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.

Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người.

"Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối" (Lc. 15, 10).


4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh

Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (xem Mt. 20, 1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).

Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chánh cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường:

"Nầy bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?...Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót..." (Mt. 20, 13-16).


5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi

Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người "đàng hoàng" lại giao du với lớp người được đánh giá là không "đàng hoàng".

Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không "đàng hoàng" là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật... Những người Pha-ri-siêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa:

"Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?" (Mt. 9, 11). "Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng" (Lc. 15, 2).

Theo các sách Phúc âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.

Ông Da-kêu là người "đứng đầu những người thu thuế" (Lc. 19, 2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giê-ri-cô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua, nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay:

"Nầy ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!" (Lc. 19, 5).

Người chung quanh xào xáo:

"Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ" (Lc. 19, 7).

Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Da-kêu và loan Tin Mừng:

"Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy" (Lc. 19, 9)

Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lê-vi một người làm nghề thu thuế.

Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài.

"Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu nầy: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (Mt. 9,12-13).


6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng

Phúc-âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không "đàng hoàng", Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (Gioan 2, 1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (Mt. 26, 17 và tìếp theo).

Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao!

Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lê-vi (tức thánh Mathêu sau nầy) những người Pha-ri-siêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: "Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-siêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống" (Lc. 6, 33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Da-kêu...

Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pha-ri-siêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như thánh Augustinô sau nầy tóm tắt trong câu: "Hãy yêu rồi làm gì thì làm" (Ama et fac quod vis).


7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái

Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên "ông Pha-ri-siêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn" (Lc. 11, 38). Ðặc biệt trong những ngày sa-bát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (Lc. 6, 8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (Lc. 14, 1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (Lc. 13, 14)... Thánh sử Luca ghi rõ: "Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sa-bát (Lc. 13, 14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật:

"Vào ngày sa-bát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pha-ri-siêu nói: "Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát" (Lc. 6, 1-2).

Nhưng trước những lời chỉ trích nầy, Chúa Giêsu trả lời: "Con người làm chủ ngày sa-bát" (Lc. 6, 9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: "Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha" (Mt. 23, 13-36).


8. Chúa Giêsu như điên cuồng

Trong Toà Tổng trấn Phi-la-tô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phê-rô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: "Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi..." (Mt. 16, 18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: "Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt. 16, 21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài:

"Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại... (Lc. 6, 27-31).

Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng "măt đền mắt, răng đền răng"!

Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp "điên dại" nầy của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh nầy làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách "Năm chiếc bánh, và hai con cá", tôi vừa cho phổ biến trong năm nầy. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự "điên dại" của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là "khuyết điểm" làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!


9. Chúa Giêsu phiêu lưu

Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phê-rô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!

Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: "Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo" (Lc. 9, 3).

Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì "Các môn đệ buồn phiền lắm" (Mt. 17, 23). Khi Chúa nói với họ: "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình" (Gioan 6, 53), thì "nhiều môn đệ của Ngài liền nói: "Lời nầy chướng ta quá! Ai mà nghe nổi" (Gioan 6, 60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 tông đồ "Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?" (Gioan 6, 67).

Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: "Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo". Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu (Lc. 9, 58).

Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê:

"Ðức Giêsu Kitô

Vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân phận nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự (Phl. 2, 6-8).


10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn

Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta.

Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương Phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (xem Lc. 6, 20-22).

"Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Lc. 9, 24).

Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (xem Lc. 13, 18-19).

Mà làm sao có thể tuyên xưng là "Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống" lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (xem Lc. 23, 70).

Ngày 12.10.1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1,500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: "Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu".


Các bạn thân mến,

Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc-âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm nầy của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút nầy, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu:

"Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu" (Gioan 15, 13).

Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: "Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin" "Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: "Xin Cha tha cho họ..." Lạy Chúa lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.

Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu.

Và để chấm dứt buổi chia sẻ nầy tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn "Kitô giáo kỳ lạ" (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, No 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:

"Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người... lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu". Ðó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học.

(Ghi lại bài chia sẻ của Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, sáng thứ Bảy, ngày 12.9.1998, tại nguyện đường Dòng Truyền-Giáo Ðức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I), Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui Sống Ðạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu, do Trung-Tâm Nguyễn-Trường-Tộ tổ chức).



VI. CHÚA KITÔ: NGƯỜI QUẢN TRỊ TUYỆT VỜI

Giới thiệu

Nhiều bạn nghe tôi nói về các khuyết điểm của Chúa Giêsu liền thắc mắc: Thưa cha, nếu cứ theo Chúa Giêsu như vậy thì ta chịu thua cả đời. Hội thánh sụp đổ mất! "Ai tát vào má phải, con hãy đưa má trái cho họ tát luôn? Ai lấy áo ngoài thì cho họ cả áo trong luôn?" - Trong Phúc âm Chúa Giêsu kêu gọi: "Hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời!" Ai làm được, nhưng ta cố gắng hằng ngày. Chúa khuyên nhưng không buộc. Ngài hay nói "Ai hiểu được thì hiểu" (Mt. 19, 12); "Không phải mọi người hiểu, chỉ có những ai được Chúa ban ơn cho hiểu (luật độc thân) (Mt. 19, 11).

Tôi mong có nhiều bạn trẻ suy nghĩ, và nghe tiếng Chúa Giêsu, "ai hiểu được thì hiểu". Chúa khuyên nhưng không buộc. Giờ đây tôi cho các bạn thấy Chúa Giêsu lại còn rất gần gũi với chúng ta, đặc biệt Ngài còn là một người quản trị tuyệt vời. Có tổ chức nào tồn tại 2,000 năm không? Có tổ chức nào có cơ sở khắp thế gian không? Có tổ chức nào mà nhân viên sẵn sàng sống và chết vì ông cha của mình không? Mời các bạn xem, xét rồi làm.

Khi nhìn lại cuộc đời trần thế của Chúa Kitô, chúng ta nhận thấy nơi Ngài và trong lề lối rao giảng của Ngài chứa đựng những đức tính căn bản của một người quản trị. Trong lúc công tác trên thế giới, tôi đã gặp nhiều nhà kinh doanh Tin lành, Công giáo...họ đã nói với tôi: "Chúng tôi dám quả quyết, có thể sống Phúc âm, học ở Phúc âm để quản trị tốt, ngay trong thời đại nầy. Trao đổi với họ, tôi đã xác tín, và có thể rút từ Phúc âm 50 bài học cho người quản trị thành công tuyệt vời, đây tôi chỉ nêu lên 10 điểm thôi.


1. Sẵn sàng

"Sẵn sàng" là châm ngôn của mọi thành công trong bất cứ lãnh vực nào. Người Hướng đạo thường được định nghĩa như là một người luôn sẵn sàng. Nhờ khẩu hiệu "sắp sẵn" vắn gọn mà bao nhiêu thế hệ thanh thiếu niên đã trở thành người hữu dụng cho đời, thành công trong xã hội.

Muốn lãnh đạo thành công phải chuẩn bị sẵn sàng.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Ngài đủ dư khả năng làm mọi việc. Nhưng trước khi ra giảng đạo Ngài đã chuẩn bị 30 năm. 30 năm học hỏi, tu luyện sẵn sàng cho một công tác chỉ kéo dài vỏn vẹn 3 năm. Ðó là bài học quản trị lãnh đạo đầu tiên ta học nơi Ngài. Chính Chúa đã đưa ra thí dụ về sự chuẩn bị, khi Ngài kể dụ ngôn các cô khờ dại và khôn ngoan đốt đèn thức suốt đêm đợi chờ chàng rể. Những cô sẵn sàng dầu đèn cuối cùng đã thành công, còn những người kia trở về tay không. Câu chuyện không những có giá trị cho cuộc sống linh thiêng, mà nó thực tế cả cho sinh hoạt trần thế.

Càng chuẩn bị đầy đủ thì càng bảo đảm thành công và hiệu quả trong thực hiện. Vốn nhiều thì lời cao. Vốn ít lời ít.


2. Lập chương trình và quyết tâm thực hiện

Phải có một chương trình làm việc. Và chương trình này phải được hoạch định cụ thể cho các bước ngắn, trung và dài hạn.

Chúa có một chương trình dài hạn: cứu chuộc loài người. Và Ngài đã quyết tâm đi cho đến cùng chương trình đó. Giai đoạn đầu tiên của Ngài là kêu gọi các tông đồ. Bước thứ hai là hướng dẫn họ, cùng với họ rao giảng Nước Trời. Bước cuối cùng là cuộc tử nạn ở Jêrusalem. Cuộc sống mỗi người cần có tụ điểm (focus) để nhắm tới, để tập trung sức lực và sáng kiến. Tụ điểm đó còn gọi là lý tưởng sống. Lý tưởng không dễ gì thực hiện ngay được, nhưng nó thường được thực thi từng bước, từng giai đoạn một. Khi đã có điểm qui chiếu thì ở đâu, lúc nào, làm gì mình cũng nhớ tới mục tiêu và do đó nhận bắt đươc nhiều kinh nghiệm bổ ích cho việc thực hiện lý tưởng. Có sợi chỉ đỏ hướng dãn cuộc đời thì khi lao vào công việc chúng ta rất dễ chủ động trong mọi tình huống, mới dễ phân biệt được điều hay lẽ phải.


3. Chọn người cộng tác

Chúa Giêsu đã chọn được các tông đồ giúp việc đồng tâm đồng chí, nên chúng ta mới có được một Giáo hội như ngày nay.

Phải chọn cho được người cộng tác, và là người dám nói sự thật cho mình.

Sách xưa kể truyện một vị vua Trung Hoa giữa một buổi ngự chầu yêu cầu bá quan góp ý cho chương trình của vua. Cả triều đình sợ, im phắc. Bổng một vị quan oà khóc thảm thiết. Vua hỏi tại sao, quan trả lời: Thưa hoàng thượng, thần khóc thương cho một đất nước mà cả triều đình không ai dám nói lên sự thật.

Khí cụ tốt nhất là người cộng tác. Ưu tiên của chúng ta khi lập đoàn, lập hội thường là tìm đâu ra chỗ làm văn phòng. Tìm được văn phòng rồi thì lại hỏi đào đâu ra tiền để điều hành, quản trị, mua máy móc. Lầm lẫn thật tai hại! Cái ưu tiên nhất, quyết định sự sống còn và thành công của đoàn thể không phải nơi văn phòng, tiền bạc, máy móc, mà là nơi nhân sự cộng tác. Người cộng tác không đồng tâm thì văn phòng máy móc có thể phá tan mấy hồi.

Tôi sang Canada tìm tới một cơ quan trung ương về công giáo tiến hành nổi tiếng quốc tế tại Ottawa, có chi nhánh khắp thế giới. Gặp vị sáng lập, hỏi ngài: cha khởi sự trung tâm này với những phương tiện nào? - "Bắt đầu ở chỗ hầm cầu thang với một máy đánh chữ; ngoài ra với sự cộng tác của mấy bà già, mỗi tuần mỗi bà cho tôi một đô la". Ngài tên là cha Guay, người lập ra Trung tâm Công giáo đầu tiên trên thế giới. Ngài bảo tôi: "Du papier et une machine à écrire".

Người cộng tác, đến lượt họ, cũng có quyền chọn lựa kẻ cộng tác theo ý riêng của họ. Nhà quản trị lãnh đạo giỏi là người biết giúp ý kiến cho thuộc viên trong việc lựa chọn người cộng tác của họ, chứ không ép buộc họ chọn người theo ý mình.


4. Biết quyết tâm vượt qua mọi trở ngại khi giữ một vai trò quan trọng

Sai lầm lớn nhất của một người, một hãng xưởng, một tổ chức là không dồn hết tâm lực vào mục tiêu then chốt của mình.

Các hội đoàn, chính đảng của chúng ta có tổ chức nào mà chẳng có chương trình! Nhiều chương trình, kế hoạch hay; nhưng đa số không đi tới đâu cả là vì không có quyết tâm thực hiện. Chỉ cần trong mỗi tổ chức, cộng đồng có một đôi người quyết tâm sống chết thực hiện chương trình đã đề thì cộng đồng, tổ chức đó sống, thành công.

Phao-lô là một điển hình loại người quyết tâm. Khi đã được Chúa chọn và trao phó trách vụ quan trọng, ngài đã không ngại gian lao, và ngay cả cái chết đau đớn, để thực hiện cho được trách vụ giao phó.

Loại người quyết tâm thật hiếm. Họ như chim ưng, không bay thành đàn, nhưng bay từng con một đơn lẻ. Phải biết tùy cách, tùy trường hợp mà mời gọi. Chúa gọi Phê-rô, Phao-lô, Gia-cô-bê, Gio-an... mỗi người một cách khác nhau. Trâu hay là trâu có chứng. Phải biết dùng chứng đó để biến thành thuận lợi. Và khi đã tìm thấy được dấu chim ưng thì người lãnh đạo cố gắng mọi cách mà mời họ, bất chấp dư luận.

Khi tìm mẫu người trên, đừng quên những người đã tranh đua với mình. Việc Chúa chọn Phao-lô lại cũng là một điển hình. Phao-lô là tay bắt đạo khét tiếng, là một đối thủ lợi hại. Song Chúa đã chọn ông, vì Ngài biết sở dĩ Phao-lô ứng dụng cái quyết tâm của mình sai chổ là bởi vì ông chưa biết Chúa mà thôi. Phao-lô lại là người đến sau nhưng lại được đưa lên vai trò quan trọng. Dù vậy các tông đồ chẳng ai phân bì đố kị.

Ðưa được một đối thủ năng nỗ vào hàng ngũ mình, phía đối lập yếu đi, đồng thời phía mình càng mạnh hơn nhờ có thêm một lãnh đạo giỏi.


5. Không khoan nhượng với tham nhũng

Không nên khoan nhượng với tham nhũng đã đành. Mà còn phải hành động kịp thời. Nếu không, tai họa sẽ tới và cơ sở sẽ đổ vỡ. Càng nấn ná, thiệt hại càng nặng. Tuyệt đối không bao che khi đã có bằng chứng cụ thể về tham nhũng.

Khi Chúa thấy đám con buôn xâm chiếm Ðền thánh, Ngài ra tay đuổi ngay. Chẳng cần phải họp hay làm đơn xin ý kiến các thượng tế! Làm như Chúa, hẳn có người sẽ ghét Ngài, nhưng chắc chắn những người thiện chí sẽ cảm thông và phục Ngài.