Những Người Lữ Hành

TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG

Đức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận

LỜI MỞ

Con thân yêu, Trên đường hy vọng,

Xưa nay có nhiều người lữ hành.

Thuộc mọi giai cấp, mọi lứa tuổi,

Đủ mọi màu da, mọi thời đại.


Người đi trước con, người đang sát cánh con.

Mỗi cuộc đời là một huyền nhiệm,

Muôn nghìn nỗi gian truân thử thách;

ức triệu lòng dũng cảm kiên cường.


Trước gieo trong nước mắt,

Sau gặt trong hân hoan.

Lắm lúc cha chùn bước, nản lòng,

Nhưng nhìn gương họ, nghe tiếng họ,

Tâm hồn cha lại phấn khởi, tươi vui,

Và vững bước bên những bạn đường yêu quý.

Trong niềm yêu thương chan chứa,

Cha thuật lại cho con,


Bước đường của một số người lữ hành,

Cha đã biết và còn nhớ được,

Những người cha yêu mến nhất,

Cuộc đời họ đã in đậm nét vào quả tim cha.


Hãy nghe tiếng họ thúc giục con,

Hãy nhìn gương họ soi sáng con,

Rồi ngày ngày con sống

và làm cho người khác thích như con:


Sống cầu nguyện, sống cần lao,

Sống phó thác, sống dồi dào nội tâm,

Sống hiện tại, sống thanh bần,

Có Thánh Thể, có Thiên đàng trong con.


Tình yêu Chúa chẳng phai mòn,

ở đâu có Chúa không còn thiếu chi.

Ai dũng cảm hãy bước đi,

Giờ đây ta hãy thực thi Tin Mừng!


Tiến lên thanh thoát hân hoan,

Dưới chân Thánh giá Chúa đang đợi chờ,

Chúa trông con đó mỗi giờ,

Đây là nơi con dành cho Bạn Tình.


* * *

Này, người lữ khách hôm nay thân mến!

Nơi đây không cống hiến cho con,

Những lời khuyên lơn răn bảo,

Cũng không thay con suy ngắm.


Nhưng đây chỉ là những kinh nghiệm sống

Của các bậc Thánh và các người Thánh

“Những người lữ hành trên đường hy vọng”.

Họ có thật và họ sống thật!


* * *

Mong con hãy bình tâm suy niệm,

Để rút ra tia sáng,

Soi chiếu bước chân đi...


_______________________

1. RA ĐI

1. Cha kẻ tin.

* Abraham đã ra đi, vì hy vọng đến đất hứa. Maisen đã ra đi, vì hy vọng cứu dân Chúa khỏi nô lệ. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời xuống đất, vì hy vọng cứu nhân loại (Đường Hy Vọng (ĐHV) 4).

* Đã ra đi phải bất chấp lưỡi thiên hạ đàm tiếu. Ba đạo sĩ ra đi, hy vọng gặp Chúa Cứu Thế, họ đã gặp; Phanxicô Xaviê ra đi, hy vọng cứu các linh hồn, ông đã gặp; Goretti ra đi, thoát cơn cám dỗ, hy vọng gặp Chúa, chị đã gặp (ĐHV 7).

Abraham là một người dân quê ở thành Ua thuộc xứ Canđê. Một ngày nọ, Thiên Chúa nói với ông: "Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà của cha ngươi, đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ cho ngươi thành một dân lớn"... (Stk 12,1-2). Abraham ra đi. Đâu là đất Chúa hứa? Làm sao trở thành một tổ phụ dân lớn với một bà vợ không con lại đã quá già rồi? ... Bao nhiêu câu hỏi đã được đặt ra, nhưng Abraham vẫn cứ ra đi, lao mình vào nơi vô định. Khi đã sinh được cậu con trai đầu lòng, Thiên Chúa lại phán: "Ngươi hãy đem con ngươi, đứa con một yêu dấu là Isaac, mà đi tới đất Môria và ở đó, hãy dâng nó làm của thượng hiến (Stk 22,2). Abraham, ruột đau như cắt vì quá yêu con, vẫn thắng lừa đặt con lên núi tế lễ Chúa.

Suốt đời ông là một cuộc thử thách không ngừng, nhưng ông vẫn hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, sẵn sàng nghe theo tiếng Chúa mọi nơi, mọi lúc. Bởi thế, ông được gọi là "Cha các kẻ tin" (Rm 4,11), người "tuyệt vọng mà vẫn một niềm hy vọng" (Rm 4,18).

2. Bước qua mình song thân.

* Tiến lên trên đường hy vọng, bất chấp những van nài "tan nát lòng" của tình thân thuộc cố tri, như Phaolô: "xiềng xích với gian nan đang chờ tôi"; như Chúa Giêsu: "này Thầy lên Giêrusalem để chịu nạn" (ĐHV 9).

* Không nhượng bộ, không phải là kiêu căng, tự ái hay ngoan cố. Không nhượng bộ là yêu thương quyết liệt lý tưởng của mình (ĐHV 15)

Chân phước Charles Cornay đã từ bỏ gia đình theo tiếng Chúa gọi. Một hôm, trên đường truyền giáo, lúc xe lửa dừng lại ở một ga gần làng của ngài, cha mẹ và tất cả anh chị em ngài đều ra đó để đón thăm. Vì quá thương con, cha mẹ ngài đã ngã lăn trên đường, ngăn cản không cho ngài đi tiếp. Cornay can đảm bước qua mình cha mẹ mà ra đi. Ngày 20.9.1837, ngài đã chịu Tử đạo với án lăng trì tại Sơn Tây, Bắc Việt.

3. Giáo Hoàng xuống biển.

* Chúa dắt con trên đường, để con ra đi, và thu được nhiều hoa trái". Đường ấy là "đường hy vọng", vì chan chứa hy vọng, vì "đẹp như hy vọng". Sao không hy vọng khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Đức Chúa Cha? (ĐHV 1). 

* Bí quyết đường hy vọng gồm ba điểm: Ra đi = bỏ mình; Bổn phận = Vác Thánh giá mỗi ngày; Bền Chí = "Theo Thầy" (ĐHV 2)

* Không nhượng bộ xác thịt, - không nhượng bộ cho lười biếng; - không nhượng bộ cho ích kỷ... Con không thể gọi đen là trắng,  xấu là tốt, gian là ngay được. (ĐHV 13).

Thánh Clêmentê I Giáo Hoàng là một người rất đạo đức, thánh thiện, đã viết nhiều tác phẩm lừng danh, nổi tiếng nhất là thơ gởi giáo hữu Corinthô. Trên ngôi Giáo Hoàng, ngài đã lôi kéo rất nhiều người trở lại đạo Chúa đến nổi hoàng đế Trajan phải lưu đày ngài sang Kéc-xô-nê, một chốn rừng sâu nước độc, đồng số phận với 2000 giáo hữu khác. Ở đây, ảnh hưởng lòng quả cảm và nhân đức sáng lạng của ngài lại lan rộng hơn, khiến hoàng đế Trajan phải hạ lệnh buộc neo vào cổ ngài và thả xuống lòng biển.

4. Cha Benoit lên Núi Phước Sơn.

* Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước (ĐHV 3).

* Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, cả con người cũ, thì có khác gì ở nhà đâu? (ĐHV 5).

* Các thánh là những người điên vì Chúa. Khôn ngoan thế gian quá không làm thánh được (ĐHV 6). 

Ra đi là một sự lột xác, hy sinh cả nếp sống cũ. Ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời 15.8.1918, Cha Benoit (Cố Thuận) cùng với một số anh em linh mục mở một bữa tiệc gia đình cuối cùng, có đầy đủ thịt, cá, rượu. Sau bữa đó, ngài từ biệt nếp sống cũ ra đi cùng với một người bạn, tiến thẳng lên Núi Phước Sơn, Quảng Trị, khai phá một đám rừng đang có cọp ăn mồi ở trong. Đêm ấy, hai người che lều ngủ tạm, và sáng mai bắt đầu một nếp sống mới: không ăn thịt, không uống rượu, hút thuốc; chỉ biết hy sinh hãm mình, cầu nguyện và xay lúa, giả gạo, tự lực cánh sinh. Ngài đã thu hút nhiều kẻ đến sống cầu nguyện, hy sinh như ngài.

5. Mười nhà truyền giáo đi vào tử địa.

* Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba đạo sĩ liều nguy hiểm, chế nhạo; Phanxicô liều xa cha mẹ, mất của cải, thú vui, Goretti liều mạng sống (ĐHV 8).

* Giàu hay nghèo, khen hay chê, sang hay hèn, không sao cả, chấp nhận tiến lên trên đường hy vọng hồng phúc và đợi ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc chúng ta (ĐHV 10).

* Đi, đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ cũng như không ai đi với người đi lui (ĐHV 12).

Cách đây khoảng 100 năm, Hội Truyền giáo Lyon (Pháp) sai một lớp đầu tiên gồm 10 linh mục đi sang Dohomey (Phi châu) để truyền giáo. Bốn năm sau, cả 10 vị đều bị giết chết. Thế nhưng, dù rừng sâu, nước độc, dù dân chúng đang lạc hậu, có nhiều ác cảm hàng hàng lớp lớp các nhà truyền giáo khác vẫn hăng hái ra đi. Người này ngã xuống, kẻ khác đứng lên. Đến nay sau một thế kỷ, những giọt máu và mồ hôi đã sai hoa kết quả: Giáo Hội Dohomey đang vươn mình lớn mạnh, lại hân hạnh có vị Hồng Y tiên khởi: Bernard Gantin.

6. Quyết không giả vờ.

* "Ta là sự thật". Không phải báo chí là sự thật, không phải đài phát thanh là sự thật, không phải Tivi là sự thật. Con theo loại sự thật nào? (ĐHV 11).

* Ba phải? - Đi đường nào được?  - Ba Chúa? - Ba Hội Thánh?  - Ba luân lý?  - Ba lương tâm? (ĐHY 14). 

* Nhượng bộ tiền của, chức tước, nhượng bộ mạng sống để giữ lấy lý tưởng, danh dự, đức tin, con chấp nhận. Nhưng không bao giờ con chấp nhận đổi ngược lại: lỗ lã quá? (ĐHV 16).

Thánh Micae Hồ Đình Hy (1808-1857) quê ở Nhu Lâm, Thừa Thiên, là một giáo dân đạo đức, bác ái, một vị quan thanh liêm, chính trực, được thăng đến hàng tam phẩm, trông coi mọi việc trong đền vua. Cuối năm 1856, một số quan triều bị ngài ngăn chặn trong những việc làm bất chính, đã tố cáo ngài với vua Tự Đức. Ngài đã bị bắt với một lý do duy nhất: Theo Đạo Gia-tô, trái lệnh triều đình. Trong chốn ngục tù, ngài bị hành hạ tra tấn quá sức, khiến nhiều vị quan đồng nghiệp vốn đã quý mến đức độ của ngài phải cảm thương khuyên ngài giả vờ chối đạo để được tha, rồi sau đó lại tiếp tục sống đạo...

Hồ Đình Hy cương quyết không giả vờ. Ngày 22.5.1857, ngài đã đổ máu đào chết vì đạo Chúa tại An Hoà, Huế.


_______________________

2. BỔN PHẬN

1. Lời Thánh Augustinô.

* Bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại (ĐHV 17).

* Một vị thánh ngoài bổn phận là thánh ở xa xa thường hay "làm phép lạ" sái nơi, sái giờ. Đến gần thì gây lộn xộn, và hoang mang khó sống (ĐHV 21).

* Bổn phận là giấy vào Nước Trời: "Ai thực hiện ý Cha Ta trên trời, sẽ vào Nước Trời (ĐHV 27). 

Augustinô mải miết theo lạc thuyết Ma-ni-kê (Nhị nguyên) và xa hoa trụy lạc, nhưng chàng vẫn cảm thấy chán nản, ê chề, thất vọng. Ngày kia, tâm hồn Augustinô vụt đổi mới khi ánh sáng Tin Mừng lọt vào. Chàng hân hoan theo Chúa Giêsu và chịu phép rửa tội vào năm 33 tuổi. Từ đây, chàng tìm được bí quyết sống hạnh phúc: chu toàn thánh ý Chúa trong công việc bổn phận hằng ngày. Chàng viết: "Lạy Chúa, Chúa nên cho con, nên tâm hồn con mãi xao xuyến và băn khoăn bao lâu chưa được nghỉ an trong Ngài? 


2. Một tý nữa thôi.

* Thế giời không đổi mới, vì người ta quan niệm sự thánh thiện ngoài bổn phận (ĐHV 23).

* Các thánh không nên thánh vì nói tiên tri hay làm phép lạ. Các ngài đâu làm gì lạ? Họ chỉ chu toàn bổn phận (ĐHV 25).

Đây là kinh nghiệm của một đấng thánh sống Lời Chúa. Ngài tâm sự: "Tôi hiểu bổn phận của tôi qua Lời Chúa như sau: Vác Thánh giá là chu toàn nhiệm vụ của mình", là chính công việc của bản thân tôi, bất kỳ lớn nhỏ; mỗi ngày là trong từng giây phút hiện tại.

Bất cứ làm công việc gì, tôi cũng nhớ đến câu ấy. Mỗi ngày tôi quyết tâm chầu Thánh Thể đúng một giờ. Nhưng lắm lúc, tôi sốt ruột thấy một giờ sao lâu quá! tôi xem đồng hồ. Bất giác nhớ lại bổn phận của tôi trong giây phút này là chầu Thánh Thể, tôi tự nhủ: "Một tý nữa thôi, một tý nữa thôi". Và tôi tiếp tục cầu nguyện. Song tôi lại sốt ruột, liếc xem đồng hồ. "Một tý nữa thôi, hãy cố gắng lên!" Và cứ như vậy, không bao giờ tôi rút vắn giờ chầu Thánh Thể mỗi ngày.


3. Đức Cha Seitz và bổn phận.

* Con hãy thưa, "Lạy Chúa, nơi bổn phận của con là núi Calvariô, và con là của lễ toàn thiêu (ĐHV 30).

* Chính sự chết cũng là bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến (ĐHV 32). 

Đức Cha Phaolô Seitz (Kim) luôn hiện diện giữa giáo dân. Vào năm 1972, khi những trận đánh giải phóng Kontum bùng nổ ác liệt, ngài vẫn lái xe đi cứu thương dưới làn bom đạn. Một phóng viên ngoại quốc phỏng vấn ngài trên cảnh đổ nát hoang tàn:

- Đức Cha không sợ sao? 

++ Tôi không sợ, ngài trả lời. Nhưng ngẫm nghĩ một lát ngài nói tiếp: "Không, tôi chưa nói đúng sự thật. Tôi sợ lắm chứ! Nhưng vì bổn phận, tôi sẵn sàng sống chết với giáo dân của tôi".


4. Bệnh nhân cũng có bổn phận của mình.

* Có người không vác thánh giá của mình hay của người khác mà tưởng tượng thánh giá mình quá nặng. Có người vác thánh giá cả làng mà không vác thánh giá của mình. Có người vác thánh giá cả làng và gán thánh giá của mình bắt kẻ khác vác  (ĐHV 18).

* Giáo dân nghĩ: thánh là sốt sắng kinh nguyện, giảng  giải, xa lánh thế gian: họ hoá ra giáo sĩ, tu sĩ thời xưa. Tu sĩ nghĩ: thánh là dấn thân giúp việc xã hội, hoạt động chính trị, tranh đua  với giáo dân mà nhập thế. Loạn xà ngầu (ĐHV 22).

* Thợ nên thánh ở công xưởng, lính nên thánh ở bộ đội,  bệnh nhân nên thánh ở bệnh viện, học sinh nên thánh ở  học đường, nông phu nên thánh ở ruộng rẫy, linh mục nên  thánh trong mục vụ, công chức nên thánh ở công sở. Mỗi  bước tiến là một bước hy sinh trong bổn phận (ĐHV 24).

Nhà Dòng của Thánh Cottolengo thành Torinô (Bắc Ý) được gọi là ngôi nhà bé tý của Chúa Quan Phòng. Trong nhà đó, nuôi đủ các thứ bệnh nhân và người tàn phế, mọi người chu toàn bổn phận theo sức của mình.

Những người liệt thì cứ mười lăm phút lại được nghe máy ghi âm nhạc: "chúng ta hãy nhớ mình đang ở trước mặt Chúa ", và họ dâng bổn phận chịu đau khổ lên Chúa. 

Những người tàn phế khác thì chia nhau phục vụ cho trên 3000 cư dân chung sống trong nhà. Họ phân thành từng ban: ban nấu bếp, ban giặt rửa, ban vệ sinh, ban làm bánh mì... Ban cuối cùng này hầu như gồm toàn những người câm và điếc, kể cả anh trưởng ban. 

Chúng ta thử tưởng tượng: nếu mỗi người ăn hai quả trứng thì phải có trên 6000 quả trứng, nếu mỗi người ăn hai ổ bánh mì thì phải có trên 6000 ổ bánh mì! mà mỗi ngày đều phải cung cấp với một số lượng như thế! Và tất cả đều do bàn tay bệnh nhân, phế nhân làm. 

Tất cả mọi người trong nhà ấy, què quặt, câm điếc cũng như tê liệt đều có bổn phận và đều thánh hoá mình trong bổn phận.


5. Cách ngôn Nhật Bản.

* Nếu ai cũng nên thánh trong bổn phận, thì tâm hồn mới, gia đình mới, thế giới một (ĐHV 20).

* Vấn đề rất đơn giản: trước khi hành động, con nghĩ: "Chúa muốn con làm gì?" Hãy thực hiện ý Chúa (ĐHV 36).

"Nếu mỗi người đều quét sạch cổng mình thì cả làng đều sạch". Cách ngôn của ta: "Nếu ai cũng thánh hoá bổn phận mình thì cả xã hội đều tốt đẹp".


6. Bác sĩ Longet.

* Thánh hóa bổn phận của con. Thánh hóa người khác nhờ bổn phận con. Thánh hóa chính mình con trong bổn phận (ĐHV 19).

* Không gắn bó với ý Chúa từng giây phút, con sẽ bỏ dỡ đường hy vọng, vì con cho bổn phận bình lặng, vô danh và đồng điệu (ĐHV 35).

Bác sĩ Longet là một bác sĩ người Pháp đã từng phục vụ ở Việt Nam cách đây mấy mươi năm và cũng nổi tiếng như bác sĩ Tom Dooley người Mỹ đã phục vụ ở Đông Nam Á. Ông tận tụy săn sóc, yêu thương các bệnh nhân trong bệnh viện mình, bất kể giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, ngày cũng như đêm (ông thánh hoá bổn phận). 

Được hỏi vì sao ông quý bệnh nhân đến thế? Vì sao ông có thể bỏ ăn, bỏ ngủ vì bệnh nhân, xem bệnh nhân là trên hết? Ông đáp: Vì thấy Chúa Giêsu trong mỗi người bệnh (ông thánh hoá mình trong bổn phận). 

Mỗi sáng, khi đi dự lễ, bệnh nhân lương giáo ai muốn đi, ông đều cho đi. Mỗi chiều chúa nhật, ông lại cho các bệnh nhân đi chơi, tham quan nơi này, nơi nọ. Và mỗi tối, ông lần chuỗi chung với bệnh nhân Công giáo. Vì là người Pháp, ông chỉ thuộc các kinh Lạy Cha, Kính Mầng, Sáng danh đủ để lần hạt chung với họ là những người khác quốc tịch (ông thánh hoá người khác nhờ bổn phận). 

Ít lâu sau, Longet trở về lại Pháp, vào Chủng viện dâng mình làm linh mục và tình nguyện sang phục vụ những người nghèo khổ nhất ở giáo phận Cần Thơ. Nhưng tiếc thay, sau khi chịu chức, ông bị bệnh và qua đời trước khi tới nơi mong ước.


7. Chuyện ông Viện Trưởng.

* Vì thương thuyết đòi điều kiện trong bổn phận, vì không theo ý Chúa, vì theo ý Chúa có giới hạn mà tâm hồn con khắc khoải, bất an (ĐHV 34).

* Chúa muốn mưa, con cũng muốn, - Chúa muốn nắng, con cũng muốn, - Chúa muốn sướng, con cũng muốn, - Chúa muốn cực, con cũng muốn, - Chúa và con chỉ có một ý. Bí quyết hạnh phúc của con (ĐHV 37).  

Ông Viện trưởng viện đại học Milanô hiện nay là một nhà nghiên cứu khoa học đồng thời là một Kitô hữu sốt sắng. Ông lại nổi tiếng là một người bạn dễ mến đối với các khoa trưởng, giáo sư, một người cha yêu quý và dễ cảm thông đối với các sinh viên trong viện. Ngoài các giờ nghiên cứu, ông cầu nguyện trước Thánh Thể. Ngoài các tác phẩm khoa học, phát minh, ông còn viết nhiều sách thiêng liêng có giá trị. Ông nên thánh trong bổn phận, tạo nên những thế hệ thông minh và kiên cường. Ông lại sống độc thân. Nhiều người lấy làm lạ hỏi: "Sao ông tốt đến thế?" Một người biết rõ về ông và trả lời: "Ông là vị phụ trách Tổng quyền của Tu Hội Chúa Kitô Vua". Vì khiêm nhường, ông không nói điều này ra nên ít người biết.


8. Nên Thánh nhờ cầu nguyện.

* Sống bổn phận hiện tại không phải là thụ động, nhưng: là liên lỉ canh tân - là quyết định chọn hay chối Chúa - là tìm Nước Chúa, - là tin ở tình yêu vô bờ của Chúa, - là hành động với tất cả hăng say, - là thể hiện mến Chúa yêu người, "ngay trong giây phút này" (ĐHV 26).

* Chấp nhận thánh ý Chúa; vâng theo thánh ý Chúa; yêu mến thánh ý Chúa. Con chọn hạng nào? (ĐHV 28).

Bác sĩ Emiliô Trosalti (bệnh viện Polyclinicô - Roma) là một người như mọi người, có nhà riêng, có lương bổng, có xe hơi, quan hệ bạn bè rất tốt, săn sóc bệnh nhân tận tình; nhưng nơi ông có những đặc điểm nổi bật: phản ứng đầy tinh thần Phúc Âm, thái độ nhã nhặn nhưng siêu nhiên vô cùng. Ông là Tổng thơ ký của một Tu Hội đời. Ông nói: "Bí quyết hạnh phúc của tôi, sự bền đổ của tôi là cầu nguyện, sáng một giờ, chiều một giờ... , nhờ cầu nguyện, kết hợp với Chúa, tôi giải quyết được mọi thắc mắc, thắng hết được mọi chước cám dỗ". Ngoài các sách thiêng liêng khác, ông có viết cuốn: "Sự cầu nguyện trong Tu Hội Đời".


9. Nhận như Thập giá.

* Trong cuộc sống hằng ngày, Chúa ban cho ta hạnh phúc tham dự mầu nhiệm cứu rỗi. Đối với mỗi người, con đường thánh giá đi theo con đường bổn phận (ĐHV 38). 

Khi Hồng Y Sartô vừa được bầu làm Giáo Hoàng (Pio X), thì theo Giáo luật, vị Hồng Y niên trưởng đến hỏi ngài: "Đức Hồng Y có chấp nhận làm Giáo Hoàng không?"- Ngài đáp: "Tôi xin nhận nhiệm vụ Giáo Hoàng như là Thánh Giá Chúa trao cho tôi".


10. Quán ăn cầu nguyện. 

* Chỉ cần làm bổn phận trong giây phút hiện tại là nên thánh. Một khám phá, một mạc khải đem bình an và phấn khởi cho tâm hồn con (ĐHV 31).

* Tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, con sẽ thấy "Ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng" (ĐHV 33). 

Ngoài các giờ cầu nguyện trước Thánh Thể, các chị thuộc Tu Hội Eau-vive (Nước Hằng Sống)(nguồn gốc tại Bỉ) còn mở quán ăn phục vụ khách hàng. Thoạt đầu mới bước chân vào, người ta thấy bầu không khí là lạ! Thức ăn thì thật là ngon, các cô chiêu đãi lại quý khách hơn cả bạc vàng. Châm ngôn của họ: phục vụ Chúa Giêsu trong các thực khách. Khách hàng khi thấy đã quen quen, hỏi họ: "Tại sao các cô thuộc nhiều quốc tịch mà lại sống chung với nhau? Các cô có gia đình không? ..." Bây giờ, các chị mới thuật lại cuộc sống Tu Hội của họ một cách đơn sơ, chân thành khiến nhiều người cảm kích, có kẻ bắt đầu tìm hiểu đạo, lên đường trở về với Chúa. 

Đặc biệt sau giờ cơm tối, thông thường vào lúc 9 giờ. Tu Hội có giờ cầu nguyện, chia sẻ Phúc Âm. Các chị thưa với khách hàng: "Giờ đây chúng tôi có giờ cầu nguyện, quý vị nào muốn tham gia, chúng tôi xin kính mời, ai không tham gia, xin cứ tự nhiên". Thế rồi các chị cùng một số ít thực khách sắp ghế vòng quanh lại và bắt đầu giờ cầu nguyện với những bài Thánh Ca sốt sắng, truyền cảm. Có nhiều người ban đầu không tham gia, dần dần thấy hay hay cũng lắng tai nghe, rồi những lần kế tiếp lại xách ghế ngồi phía sau tìm hiểu. Khi đã quen, đã mê thì tuần nào cũng một vài lần đến ăn cơm, nhưng cốt để tham dự giờ cầu nguyện ban tối mà họ cho là rất tự nhiên, hấp dẫn và cảm động. Quán ăn đã trở nên nhà cầu nguyện, vì có Chúa hiện diện giữa họ. 


_______________________

3. BỀN CHÍ

1. Dòng Nữ Tu mù.

* Bạo dạn để thưa với Chúa tất cả những gì con muốn, con nghĩ: "Thầy ở với các con lâu nay, chưa thấy các con xin điều gì". Bạo dạn là tin yêu như con với Cha (ĐHV 40). 

* Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. "Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời" (ĐHV 43).

* Nếu con không quyết tâm bền chí, đừng nói: "tôi hiền", phải nói: "tôi hèn" (ĐHV 57). 

Dòng Nữ Tu mù được thiết lập giữa lòng thành phố Paris. Trong dòng này, ngoài bà Bề trên, một chị Việt Nam cùng một vài chị sáng mắt, bao nhiêu Nữ tu khác đều mù cả. Trước đó, các thiếu nữ đó tưởng rằng đời họ dường như đã chấm dứt, tất cả chỉ toàn là bóng đêm... Thế nhưng khi bước chân vào dòng, tia hy vọng đã rực sáng lên trong lòng họ. Họ kiên nhẫn, bền chí học chữ, học nghề, học phổ thông, học nhạc... (theo phương pháp Braille). Trong nhà thờ, họ hát kinh bằng cách sờ chữ với đôi bàn tay. Ngoài ra, họ còn mở trường dạy các em mù, một trường rất được các phụ huynh học sinh quý chuộng. Trong lớp, thầy mù trò cũng mù mà vẫn vui vẻ hồn nhiên. Với một ngôi nhà ba tầng, các em tự do lên xuống, nô đùa ngoài sân như những người sáng mắt vậy. 

Sự bền chí của các Nữ tu đã thánh hoá chính cuộc đời họ. Và hơn thế, còn làm cho biết bao trẻ em bất hạnh khác thấy đời của mình tươi đẹp, hạnh phúc.


2. Thầy Vianney bền chí. 

* Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn vậy. Xem gương Chúa Giêsu trên thánh giá (ĐHV 41).

* Bền đỗ đến cùng là đặc tính của các thánh, vì "Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu rỗi" (ĐHV 49). 

Cuộc Cách mạng Pháp 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Nhưng sau đó, thầy đã tìm hết cách để tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ. Nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. May lúc ấy địa phận phải cảnh khan hiếm linh mục nên Vianney được Bề trên gọi về để khảo hạch. Và lẽ dĩ nhiên là lần nào cũng trượt!

Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng Bề trên thấy thầy bền chí quá bèn gọi cha xứ đến hỏi về thầy.

- Thầy có lòng đạo đức không? 

++ Thưa có! 

- Thầy có kính mến phép Thánh Thể không? 

++ Thưa có! 

Cha Chính quyết định: "Thôi, thôi cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu thi hạch thì không bao giờ đỗ được". Về sau, Vianney trở thành một Vị Thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về cùng Chúa. Năm 1925, Đức Piô XI đã đặt ngài làm quan thầy các cha xứ.


3. Charles de Foucauld, hạt giống trong sa mạc. 

* Kết quả và thành công khác nhau. Có thể không kết quả bên ngoài, nhưng thêm kinh nghiệm, thêm khiêm tốn, thêm tin Chúa, đó là thành công dưới mắt siêu nhiên (ĐHV 42).

* Dù mọi người bỏ dỡ hành trình, con cứ tiến, quần chúng dễ bị lôi cuốn thì đông đảo, lãnh đạo sáng suốt lại hiếm hoi. Con phải có bản lãnh, đừng theo quần chúng mù quáng (ĐHV 50).

* Người trộm lành đã hạnh phúc vì hy vọng ở tình yêu Chúa, Giuđa đã khốn nạn vì thất vọng (ĐHV 53).

Cha Charles de Foucauld suốt đời ở giữa lòng sa mạc Sahara để tu thân tích đức, chiêm niệm, chầu Thánh Thể và sống bác ái với dân tộc Touareg. Ngài đã để lại nhiều bút tích thật cao siêu, đầy sốt mến. Suốt đời ngài tha thiết cầu xin cho có một người đến trong sa mạc cùng chung sống một lý tưởng với ngài. Cầu nguyện mãi mà chẳng thấy ai, nhưng ngài vẫn bền chí cầu nguyện. Đến ngày ngài gục xuống, thân xác được chôn vùi ở giữa lòng sa mạc mênh mông mà vẫn không thấy bóng người mong ước. Xét bề ngoài thì quả là một thất bại! 

Thế nhưng, hạt giống ấy sau một thời gian chôn vùi đã đâm chồi nảy lộc: các Hội Dòng theo tinh thần của ngài mọc lên khắp nơi. Ngài xin một người Chúa cho hàng trăm, hàng nghìn Tiểu Đệ, Tiểu Muội có mặt trên khắp thế giới.


4. Lửa thử vàng.

* Bạo dạn không phải là phiêu lưu, bất khôn. Muốn đi cùng đường hy vọng con phải bạo dạn. Có mấy người đứng bên Chúa dưới thánh giá? (ĐHV 39). 

* Mỗi sáng thức dậy, con khởi sự lại cuộc đời, hăng say và lạc quan. Dù đường đi trục trặc, con cứ đi với Chúa, như về làng Emmau, sẽ đến đích (ĐHV 48). 

* Giữ vững tinh thần của con, mặc dù cảm thấy rã rời, nguội lạnh: vì mây mù sẽ qua đi, không che mãi được mặt trời. Chỉ đợi mây mù bay qua thôi (ĐHV 51).

Đến nhận một giáo phận trong đó hàng giáo sĩ thì rời rạc, giáo dân lại quá khô khan, Đức Cha Hervas rất đỗi lo âu. Ngài cầu nguyện, nghiên cứu, đối thoại và cuối cùng đi đến một phương thức tĩnh tâm với một kỹ thuật rất độc đáo, hấp dẫn, nhằm thánh hoá giáo dân, đào tạo cán bộ tông đồ trong giáo phận: đó là "Học Hội Kitô hữu"' (Cursillos de Christiandad). Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì đùng một cái: một số người trong giáo phận hiểu lầm Ngài và ra sức chống đối kịch liệt. Họ còn làm đơn kiện đến Toà Thánh và bày tỏ thái độ bất hợp tác với ngài về mọi mặt.

Để tránh sự đổ vỡ lớn hơn. Toà Thánh đã thuyên chuyển Đức Cha J. Hervas sang một giáo phận nhỏ nhất nước Tây Ban Nha. Tuy thế vẫn chưa yên. Vị Giám mục kế vị ngài lại còn ra một bức thư luân lưu kết án "Học Hội Kitô hữu" là một tổ chức lạc đạo sai lầm về tín lý lẫn luân lý. 

Phần Đức Cha J. Hervas, ngài vẫn kiên trì bền chí. Dần dần nhiều người cảm phục, hàng giáo phẩm và giáo sĩ nhận ra cái hay của phương pháp ngài và ra sức hưởng ứng. Phong trào "Học Hội Kitô hữu" bành trướng khắp nơi, được các Đức Cha chúc lành và khuyến khích.

Gương khiêm nhường và sự bền chí của Đức Cha J.Hervas thật đáng cho mọi người khâm phục. Hiện nay ngài vẫn còn sống và đang hướng dẫn phong trào lớn mạnh khắp nơi trên thế giới.


5. Đức Cha Francois Pallu.

* Đường hy vọng dài thăm thẳm. Con đừng làm "Thánh lâm thời": phong ba dồn dập, nước sơn sẽ phai nhạt và tượng thánh sẽ hiện hình quỉ (ĐHV 44). 

* Con run sợ, vấp ngã, khó khăn, hiểu lầm, công kích, sỉ nhục, tử hình... Con quên Phúc Âm sao? Chúa Giêsu đã chịu tất cả. Cứ theo Ngài con sẽ Phục sinh (ĐHV 47).

Vào thế kỷ XVII, Toà Thánh đã phong hai vị Giám mục làm Đại Diện Tông Toà đầu tiên: Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong kiêm Campuchia, Lào, Thái Lan và Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài kiêm Trung Quốc, Triều Tiên. Thật là một khu vực rộng lớn không thể tưởng tượng : Dưới quyền Đức Cha Francois Pallu chỉ có một ít vị thừa sai, không có một vị linh mục Việt Nam nào, xứ sở lại đang ở trong tình trạng cấm cách khốc liệt. Từ Pháp, Đức Cha từ giã gia đình ngày 3.1.1662, dùng tàu buồm vượt qua Trung Hải rồi men theo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết các nước Trung Đông, vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan. Năm 1670, trên đường đến Bắc Việt, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị đánh giạt vào Philippin, ngài bị người Tây Ban Nha bắt. Sau ba tháng lại bị đày vòng qua Thái bình Dương, vượt cả Đại tây Dương, đến Tây Ban Nha. Tuy gian khổ ê chề, nhưng tim ngài vẫn luôn chói sáng một niềm hy vọng: "Tôi phải mang Phúc Âm đến tận Trung Quốc". Vừa được trả tự do ngài tìm mọi cách để đến Bắc Kinh, và cuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như người tôi trung của Chúa hằng mơ ước. Một câu nói của ngài đáng cho chúng ta ghi nhớ: "Tôi tự cho mình hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc"!


_______________________

4. TIẾNG GỌI

1. "Samuen! Samuen!"

* Tiếng gọi vẫn tiếp tục nhắc nhở con trong một việc nhỏ: "Hãy theo Thầy!" và tiếng "Vâng" của con cũng tiếp tục cho đến hơi thở cuối cùng (ĐHV 72). 

Đêm ấy, trẻ Samuen đang ngủ trong Đền thờ, gần Khảm Giao ước của Thiên Chúa thì có tiếng gọi đích danh cậu: "Samuen! Samuen!" Cậu thưa ngay: "Này con đây" và vội vàng chạy đến cùng Thầy cả Hêli. Nhưng trong cả ba lần. Hêli không có gọi. Lần thứ tư, Samuen thưa lớn tiếng: "Lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe". Và Thiên Chúa đã nói chuyện cùng Samuen. Từ đó về sau, Samuen ngày càng lớn lên trong ơn gọi, có Thiên Chúa luôn ở cùng cậu và cậu không để rơi mất một lời nào của Ngài. Samuen đã trở thành một Ngôn sứ vĩ đại vì nhờ biết lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa (l Sam 3).


2. Tiếng gọi từ bụi gai.

* Chọn lựa bao giờ cũng tiếc nuối, do dự; suy nghĩ, nhưng cuối cùng phải quyết định (ĐHV 62).

* Con ngạc nhiên sao đủ hạng người tình nguyện làm "cảm tử" theo tiếng gọi của Chúa? Vì Chúa đã nói: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế" (ĐHV 67).

"Ta tạt qua nhìn quang cảnh hùng vĩ ấy mới được: tại sao bụi gai lại không cháy thiêu đi?" Moisen nhủ thầm như thế và tiến lại gần. Thiên Chúa liền gọi đích danh ông từ giữa bụi gai: "Moisen! Moisen!" - Ông đáp lại: "Này con đây". Và Thiên Chúa tâm sự với ông về Danh Tính mình, về nỗi khổ của Dân tộc mình ở Ai Cập. Sau cùng người nói: "Bây giờ con hãy đi". Moisen ngập ngừng: "Con là ai mà dám..." Thiên Chúa phán: "Ta sẽ ở với con". Ông vẫn chưa an tâm! Sau đôi ba lần vặn hỏi quanh co, Moisen thú thật: "Lạy Chúa xin xá lỗi, con không phải là người có tài ăn nói... Con cứng cả miệng, cứng cả lưỡi!" Thiên Chúa nói ngay: "Ai cho người phàm có miệng... lại không phải chính Ta đó sao? Con hãy đi, chính Ta sẽ ở với miệng con và dạy con điều con phải nói..." 

Moisen đã trẩy đi Ai Cập để cứu dân mình khỏi nô lệ với một vũ khí, một bảo đảm duy nhất: "Giavê ở cùng ông" (Xh 3-4).


3. Tiếng kêu trong thị kiến. 

* Hãy theo Thầy!" Các tông đồ đã bỏ mọi sự theo Chúa, con có dứt khoát một phen theo Chúa không? Chúa phải gọi con mấy lần rồi? (ĐHV 61). 

* Công đồng Vatican II dạy ta "trở về nguồn". Con hãy khám phá lại đời sống các tông đồ, những người đã sống, đã nghe, đã sờ tận tay Chúa Cứu Thế và làm chứng về Ngài (ĐHV 75) 

Đêm ấy đang ngủ, Phaolô thấy thị kiến một người xứ Makêđonia khấn xin với ông rằng: Hãy qua Makêđonia cứu giúp chúng tôi! Và Phaolô đã trẩy đi Makêđonia vì biết rằng chính Thiên Chúa đã gọi ông đến rao giảng Tin Mừng cho họ (Cv 16,8).


4. Không hề từ chối sự gì. 

* Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống (ĐHV 69). 

Trong "Truyện một Tâm Hồn". Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu thú thực: "Từ lúc có trí khôn cho tới bây giờ, tôi không hề từ chối Chúa sự gì". 


5. Hơn nữa! Hơn nữa!

* Chúa bảo con: "Hãy đi rao giảng Phúc âm". Chúa không ra thời khóa biểu, không vạch kế hoạch, Chúa để con sáng kiến và vượt đi, miễn là con mang Phúc âm (ĐHV 74). 

Vì quá yêu mến Chúa và các linh hồn, nên Phanxicô Xaviê chất chứa trong tim một nguyện vọng và một chương trình vĩ đại: "Sau khi truyền giáo ở Ấn Độ, Malaxia, Nhật Bản, tôi sẽ đi vào Trung Quốc rồi từ đó vượt qua Mông Cổ, Liên Sô, đi về Âu châu, tôi lại vòng sang châu Á một phen nữa". Thế nhưng chương trình của Thiên Chúa lại khác. Lúc Phanxicô vừa đến đảo Tam Châu, chuẩn bị vào Trung Quốc thì bị một cơn sốt rất nặng. Ngước mắt nhìn vào mảnh đất mình hằng mong ước mang Tin Mừng đến. Phanxicô gục ngã lìa đời khi vừa mới 49 tuổi. Trong suốt mấy mươi năm trường, đức ái là tiếng gọi duy nhất thúc bách ngài liên lỉ. Mỗi lần phải đau khổ, ngài hân hoan thưa với Chúa: "Mas! Mas!" (tiếng Tây Ban Nha nghĩa là: Hơn nữa! Hơn nữa!). Phanxicô luôn sẵn sàng hy sinh "hơn nữa" cho các linh hồn. Khi nhắm mắt lìa trần, ngài đã rửa tội trên 10.000 người. Chương trình ngài còn lớn lao "hơn nữa" nhưng Thiên Chúa lại muốn thế khác.


6. Một Cha sở khiêm nhường.

* Con muốn tháo lui vì có những sự trái ý, vì gặp những người không thể chịu nổi! Con theo Chúa hay theo mấy người ấy ? (ĐHV 66). 

* Thưa: "Vâng" là dễ, nhưng hãy xem Chúa Giêsu theo tiếng gọi cho đến chết trên thánh giá. Hãy bỏ mình, vác thánh giá mỗi ngày và đóng đinh mình trên thánh giá ấy (ĐHV 73). 

* Lúc con tự mãn về công việc tông đồ của con là lúc nguy hiểm nhất. Ma quỷ tập trung lực lượng để đánh úp con (ĐHV 79). 

Như trước đây đã nói, Cha Vianney đã được chuẩn phần kiến thức cần thiết. Ngài được "vớt", "đề cử" nhờ bền chí! 

Hôm mới về xứ Ars, một xứ vỏn vẹn có 300 giáo dân, Cha Vianney đã khởi sự xây dựng giáo xứ bằng những chất liệu: cầu nguyện, hy sinh, hãm mình ... Dần dần, giáo dân từ nhiều xứ đổ xô tới xứ Ars nghe ngài dạy giáo lý 15 phút trước giờ kinh trưa và nhất là để xưng tội với ngài.

Các bạn đồng nghiệp đều biết trước đây Vianney rất tầm thường, dốt nát, lại thêm bản tính con người không khỏi ghen tỵ khi thấy giáo dân đổ xô đến xưng tội với một cha xứ hạng bét như vậy, nên họ đã trình với Đức Cha địa phận như sau: "Thưa Đức Cha, Cha Vianney trước đây học hành kém cỏi mà nay lại cả gan giải tội cho giáo dân khắp nơi. Họ bị những lời đồn thổi, phóng đại, mê tín, quyến rũ, nên ào đến xứ Ars ngày càng đông. Có thể có những nố khó mà cha Vianney đã giải sai các nguyên tắc trong luân lý thần học!" Đức Cha cũng không khỏi lo lắng. Ngài gọi Cha Vianney đến và giao cho ngài một số nố rất khó giải để về giải trên giấy tờ đàng hoàng rồi đem nộp cho Toà Giám mục. Chỉ vài ngày sau, Cha Vianney đã đem lên nạp Toà Giám mục tất cả những lời giải đáp. Các vị chuyên môn luân lý thần học xem qua đều phải khen rất đúng và khôn ngoan. Ai nấy đều ngạc nhiên lẫn mến phục. 

Nhưng chưa hết, càng ngày giáo dân càng đến xưng tội với Cha Vianney càng đông khiến Cha phải giải tội từ nửa đêm. Và một lần nữa, các bạn đồng nghiệp lại làm tờ đơn kiện Cha Vianney gởi thẳng lên Toà Giám mục. Trong đơn đại ý nói: "Cha Vianney đảm đương xứ mình chưa xong mà cả gan quyến rũgiáo dân các xứ khác đến xưng tội với mình càng ngày càng nhiều. Kiến thức của Ngài thì ai cũng rõ là rất giới hạn nên thật nguy hiểm có nhiều nố phức tạp có thể bị Ngài giải sai. Hơn nữa, tình thế ấy lại còn làm mất trật tự trong các giáo xứ khác vì giáo dân không xưng tội ở xứ nhà mà lại ùn ùn kéo nhau qua xưng tội ở xứ Ars. Kính xin Đức Cha ra lệnh cấm Cha Gioan Maria Vianney giải tội cho các nơi... " 

Một linh mục được giao trọng trách đem tờ đơn ấy lên Toà Giám mục. Nhưng vị này cũng có lòng bác ái muốn giúp đỡ anh em, nên khi ngang qua xứ Ars đã tạt vào thăm cha sở đôi phút. Trong câu chuyện hàn huyên, cha ấy vào đề: "Tôi muốn tâm sự thành thật với Cha: anh em rất bất bình về việc Cha giải tội từ nửa đêm cho giáo dân các xứ đến đây. Cha làm như thế là hạ uy thế của anh em, lại làm mất trật tự trong giáo xứ nữa. Đàng khác, Cha làm gì cho mệt, cứ lo cho xứ mình là đã đủ. Tôi nói thật với Cha, mất lòng trước được lòng sau: Cha cũng tự biết sự học hành của mình có giới hạn... Vì thế, anh em đã làm một tờ đơn trình bày công việc ấy lên Đức Cha và xin Ngài cấm Cha giải tội cho giáo dân các giáo xứ khác. Tôi vì tình huynh đệ, nên trước khi lên gặp Đức Cha, cũng muốn cho Cha biết, không giấu giếm chi. Tiện đây, tôi cho Cha xem bức thơ để Cha hiểu qua và thu xếp sao cho êm đẹp". Nói đoạn, cha ấy trao tờ đơn cho Cha Vianney xem, trong lòng rất đổi ái ngại vì sợ Cha Vianney sẽ nổi tự ái, giận dữ trách móc anh em mình ... Nhưng lạ thay Cha Vianney vẫn bình thản đọc thơ! Và điều đáng ngạc nhiên hơn nửa là ngài thong thả lấy bút châm mực. Ngài viết gì thế? Vị linh mục kia hồi hộp theo dõi và thấy Cha Vianney hí hoáy viết ở cuối bức thơ: "Việc anh em nói trên đây rất đúng với sự thật. Con cũng xin ký tên vào đơn đồng tình cùng anh em". Rồi ngài xếp thơ, trao lại và cám ơn cha kia cách niềm nở. 

Dầu sao cũng phải chu toàn sứ mạng với bất cứ giá nào. Cha kia mang bức thơ lên Toà Giám mục. Đọc xong, thấy bên dưới các chữ ký của các cha lại có cả chữ ký của Cha Vianney nữa, Đức Cha mới lấy làm lạ hỏi cha cầm thơ. Cha kia trình bày đầu đuôi tự sự. Đức Giám mục kết luận: "Các cha xem, Cha Vianney phản ứng cách rất khiêm tốn. Có ai lại đồng ý tự kiện mình bao giờ! Ngài thực là người đạo đức. Thôi ta cứ để xem. Nếu là việc Chúa thì sẽ vững bền, ngược lại, nếu là việc của ý riêng ngài thì thế nào cũng sụp đổ..." Cha kia về thuật lại mọi sự cho anh em nghe, ai cũng ngạc nhiên thầm nghĩ: "Đáng lẽ Cha Vianney phải giận dữ căm thù mình mới phải. Ai ngờ ngài lại ký tên vào đơn kiện ngài: Thôi ta cứ chờ xem theo như quyết định của Đức Cha".


7. Được gọi để gọi.

* Chúa Giêsu rõ ràng quyết liệt: "Ai muốn theo Ta, hãy ...". "Ai không ... chẳng đáng làm môn đệ Ta". Đường lối sáng tỏ, tiếng gọi không úp mở (ĐHV 63). 

- Thưa ông bà muốn gặp ai ạ? 

Chị Céline đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của chị.

Bổn phận của một chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40 năm trường, chị Céline chỉ làm ngần ấy công việc! Câu hỏi trên kia chị phải lặp đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế có đôi phần thay đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo, kẻng sắt ... nhưng công việc luôn luôn vẫn là gọi người khác. 

Ôi chao! biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng nói đã vang rền trong điện thoại! Nhưng có một điều chị Céline hằng đoán chắc: người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó ... trừ ra chị. Vì thế chị thường nói đùa : "Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi". 

Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không quá 10 giòng; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp thỏm đợi chờ chuông reo ... Luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với "sự gián đoạn" này của mình, chị mới có thể tạo nên "sự liên lạc" của người khác. Chị bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị... Với thời gian, da mặt chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn. 

Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chị Céline đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng! thổ huyết! chị bập bẹ :"Chúa đến gọi tôi lần thứ hai" (và cũng là lần cuối cùng). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là đồ vô chủ ... 

Chị Céline đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?


_______________________

5. SỐNG NỘI TÂM

1. Quả tim Thánh Nữ Têrêxa. 

* Đứng trên tầng lầu cao, nhìn xuống đường, con thấy làn sống người cuồn cuộn chảy. Đủ loại xe, đủ hạng người, dành nhau, tông nhau, đâm đầu chạy, vội vã hấp tấp, hốt hoảng, vì tình, vì tiền, vì tham vọng, vì đua sống (ĐHV 82). 

* Người ta bảo: Khủng hoảng đức tin, khủng hoảng quyền bính; Cha nghĩ: Khủng hoảng thánh thiện. Chúa muốn thanh lọc để thấy rõ, đâu là thánh, đâu là quỷ! (ĐHV 99).

Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị Thánh lớn nhất của thế kỷ XX, bổn mạng các xứ truyền giáo, là vị Thánh chẳng làm việc gì có giá trị vĩ đại bên ngoài: không giảng thuyết, không đi truyền giáo, không viết sách thần học, không làm phép lạ, không chịu các cực hình như bao vị thánh Tử đạo xưa nay. Chị chỉ sống kết hiệp với Chúa từng giây phút qua mọi công việc tầm thường của đời một Nữ Tu Dòng kín Carmêlô. Chị viết: "Tôi muốn có một quả tim bao la để yêu mến Thiên Chúa, để ôm ấp tất cả nhu cầu của Giáo Hội... tôi muốn hy sinh cả cuộc sống tôi để cầu nguyện cho công việc truyền giáo".


2. Nên lời ngợi khen Chúa.

* Thế gian sợ thinh lặng vì họ sẽ thấy mình trống rỗng cô đơn. Những người sống nội tâm quí sự thinh lặng, vì họ tìm thấy một thế giới mới tốt đẹp, trong cuộc sống thân mật với Chúa Ba Ngôi, mà thế gian không thể khám phá được. (ĐHV 89)

"Nên lời ngợi khen Chúa", đó là tên thực của chị Elisabeth de la Trinité, một nữ tu liên lỉ sống đời chiêm niệm và kết hiệp cùng Chúa Ba Ngôi ngự trong lòng mình. Chị lấy tên ấy từ một danh từ ở trong thơ Thánh Phaolô: "Laudem gloriae". Mà quả thực, đời chị cả là một lời khen ngợi liên lỉ dâng lên Chúa Ba Ngôi trong cung thánh tuyệt vời của Ngài là chính tâm hồn chị. Hãy suy niệm "kinh dâng mình" do chị sáng tác thì sẽ biết được tâm hồn cũng như đường lối nên thánh của chị.


3. Vị Giáo Hoàng năng tĩnh tâm. 

* Khí giới của con là nguyện ngắm, hy sinh, các nhiệm tích, chuỗi Mân Côi, tĩnh tâm... Đồng minh của con là Đức Mẹ, thánh Giuse, Thiên thần, thánh bổn mạng, cha linh hướng. Con chắc chắn thắng trận, trừ khi con dần dần hạ khí giới và phản đồng minh của con (ĐHV 81). 

* Nếu mỗi năm con quyết tập một nhân đức, hằng ngày con rèn luyện một ít, đến nay con đã khá trọn lành (ĐHV 83). 

Mặc dù công việc Hội Thánh bề bộn, Đức Gioan XXIII vẫn sống một cuộc sống dồi dào. Đặc biệt Ngài rất năng tĩnh tâm, tạm dẹp hết mọi công việc và dọn một phòng riêng ở Vatican để sống những giờ khắc âm thầm bên Chúa, nghe lời giảng dạy... 

Trước khi Công đồng Vatican II khai mạc, ngài đã tĩnh tâm một thời gian rồi đi Loretto để cầu nguyện, một nơi tục truyền có nhà của Đức Mẹ ban ơn cho Công đồng thành công.


4. Kết hợp với Chúa Tử Nạn.

* Hoà bình nhờ chiến thắng, chiến thắng nhờ tranh đấu. Con muốn bình an trong tâm hồn, phải tranh đấu liên lỉ (ĐHV 80). 

* Trên đời không gì quý bằng ơn thánh. Đã khởi sự thiên đàng trong lòng ngay từ trần gian (ĐHV 93).

* Lòng mến phải tuyệt đối! Chúa dạy: "Không ai làm tôi hai chủ"...Con làm tôi mấy chủ? (ĐHV 97). 

Bà Marthe Robin là một trong những người đã được in năm dấu thánh. Bà sống trong thế hệ của chúng ta, đôi mắt đã mù loà, thân xác đau đớn, co quắp, thông phần vào sự thương khó của Chúa Giêsu liên lỉ.  

Trên 30 năm nay, bà không ăn uống gì, chỉ sống bằng Mình Thánh Chúa. Khi linh mục trao Mình Thánh Chúa cho bà thì có cảm tưởng y như Mình Thánh bay từ tay mình vào thẳng miệng bà thực sự. Bà âm thầm sống trong một căn nhà nho nhỏ, có cha linh hướng săn sóc; đi đâu thì cha khoá cửa lại vì bà chẳng cần ăn uống gì hết.

Tuy mắt đã mù, không đọc sách báo, cũng chẳng nghe đài phát thanh, nhưng mỗi lần có ai xin bà cầu nguyện về một việc gì, thì bà trả lời như thể đang nghe thấy tất cả những tin tức cuối cùng và mới mẽ nhất về nơi chỗ, diễn tiến của sự việc vừa xảy ra. Trong cảnh âm thầm lặng lẽ ấy, nhiều ngôi nhà tĩnh tâm đã mọc lên. Nhiều tâm hồn nhờ khung cảnh và bầu khí thánh thiện quanh bà đã thay đổi cả cuộc sống. 


5. Giám mục của truyền hình.

* Thủy thủ lặn đáy biển, phi hành gia bay trên phi thuyền đều dấn thân mạo hiểm, vì khoa học. Ngày nào con bỏ tất cả và bất cứ giây phút nào cũng sẵn sàng liều mình vì Chúa, người ta mới tin đời nội tâm của con (ĐHV 84). 

* Hãy chạy khắp thế gian và la lớn tiếng với mọi người: "Có một người đã chết cho bạn." (ĐHV 95). 

* Mỗi ngày dành riêng ít phút thinh lặng để giúp đời nội tâm tiến lên. Lâu nay con đã dành mấy phút? (ĐHV 98). 

Trên thế giới, không mấy ai mà lại không biết danh tiếng của Đức Cha Fulton Sheen, trước là phụ tá Giám mục tại New York, sau trở thành Giám mục giáo phận Rochester, ngài là một người hoạt động không biết mệt mỏi. Với tư cách một Giám mục phụ tá rồi Giám đốc Hội Truyền Bá Đức Tin toàn quốc, ngài đã viết nhiều bài báo và nhiều tác phẩm đạo đức có giá trị. Đặc biệt người ta quen gọi ngài là "Giám mục truyền hình", vì tuần nào ngài cũng xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình để giảng dạy với biệt tài thu hút vô số khán thính giả (20 triệu). 

Ngoài những số tiền lớn, ngài kêu gọi giáo dân đóng góp, người ta nói rằng nguyên tiền bán sách của ngài và xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình cũng lên đến hàng triệu đôla mỗi năm. Ngài dùng những món tiền lớn ấy để làm gì? Dâng cho Hội Truyền Bá Đức Tin. 

Một điều nổi bật khiến người ta càng mến phục ngài hơn và là bí quyết thành công của ngài: sống đời nội tâm liên lỉ. Ngài chỉ sống trong một căn nhà nho nhỏ ngoài thành phố New York. Sáng đến văn phòng làm việc, chiều tối lại trở về ngoại-ô. Ban sáng, sau giờ nguyện ngắm, ngài dâng Thánh lễ rồi giúp lễ cho cha thơ ký (lúc ấy chưa có thói quen đồng tế). Mỗi tối, ngài cầu nguyện lâu giờ trước Thánh Thể. Bên kho tàng vô giá ấy, ngài múc lấy nhựa sống cho hồn tông đồ và bầu nhiệt huyết hăng say để rồi truyền lại cho mọi người qua sách báo cùng các phương tiện truyền thông xã hội.


6. Thiếu đời nội tâm có thể đi tới đâu? 

* Tất cả mọi người không cần tài ba lỗi lạc mới nên thánh được, chỉ cần ơn Chúa và ý chí của con. Ít người làm thánh, vì học tập thành tài dễ hơn là thay đổi cả cuộc sống nên thánh (ĐHV 87).

* Con hăng say phụng sự Chúa rất tốt, nhưng lòng sốt sắng không đi đôi với sự canh tân tâm hồn thì không đẹp ý Chúa (ĐHV 88)

* Trên màn ảnh, ngọn lửa phần phật làm mọi người kinh khiếp, nhưng không đốt nóng, không nấu chín; vì nó lửa giả, không do một lò lửa hồng bốc lên (ĐHV 96).

Trong lịch sử Hội Thánh có vị tu sĩ danh tiếng tên là Luthêrô, thuộc Dòng Augustinô tại Đức, mới 35 tuổi đã làm tới chức Giám tỉnh! Nhưng vị Giám tỉnh ấy lại quá ham hoạt động, chỉ tìm vinh danh bên ngoài. Ông nói: " Tôi quá bận: nào phải đi dạy học, giảng thuyết, viết sách, nên không có giờ đọc kinh, không có giờ nguyện gẫm, không có giờ dọn mình dâng Thánh lễ, không có giờ để cám ơn Chúa, có lúc tôi phải bỏ luôn cả lễ..." Kết quả là vị tu sĩ thông thái này đã chủ trương lạc thuyết, bất chấp lời khuyên bảo của Toà Thánh, ly khai khỏi Hội Thánh, ra khỏi Dòng để kết bạn và lôi cuốn lắm kẻ theo mình, làm cho Hội Thánh phải bị tổn hại nặng.

Ở nước Pháp cũng có một giáo sĩ lỗi lạc đồng thời là một văn hào danh tiếng tên là Lamennais. Ông cũng đồng lối sống như Luthêrô, suốt ngày lo lắng nhiều việc bỏ bê giờ cầu nguyện chỉ cậy vào trí khôn mình mà không tìm kiếm ánh sáng nơi Thiên Chúa. Nên hồi kết thúc cũng không khác gì Luthêrô: kiêu căng, bất tuân phục, kéo khốn nạn xuống trên bản thân mình và lôi nhiều người cùng xuống vực thẳm.


7. Một đời nội tâm đơn sơ. 

* Thinh lặng bên ngoài, nhất là thinh lặng bên trong là bầu khí của cuộc sống nội tâm (ĐHV 86). 

* Ai phải nên thánh? Tất cả mọi người, không có luật trừ. Khởi sự từ chính mình con, vì Chúa mời gọi tất cả (ĐHV 92). 

Để tìm một gương dễ nhớ, dễ hiểu cho đời sống nội tâm, thiết tưởng không gương nào bằng cha Antoine Chevrier, người lập Tu Hội Linh Mục Prado, viết nhiều sách thiêng liêng giá trị, trong đó cuốn căn bản nhất là: "Môn đệ đích thực của Chúa Kitô". 

Trong thời gian tĩnh tâm tại Đan viện Sept Fons, ngài đã viết trên vách tường phòng những chữ đơn sơ thâm thúy sau đây, nói lên tất cả bầu nhiệt huyết sống kết hợp mật thiết với Chúa của ngài mà ngày nay vẫn còn đậm nét: 

- Máng cỏ 

- Nazareth 

- Thánh Giá 

- Thánh Thể. 

Sống khó nghèo, trinh khiết, tuân phục, yêu thương, thinh lặng, khiêm nhường như Chúa Giêsu đã sống nơi máng cỏ, tại Nazareth, trên Thánh Giá và trong Nhà Tạm. Thật rõ ràng, đơn sơ, thâm thúy, phong phú và dễ nhớ, dễ bắt chước biết bao!.


_______________________

6. SIÊU NHIÊN

1. Vị Giáo Hoàng của Thập giá. 

* Mọi người khen con mà Chúa chê con, được ích gì? Mọi người nhạo cười con, mà Chúa khen con, hạnh phúc cho con. Khi dân chúng kể: "Xin tha Baraba" Baraba vẫn là kẻ trộm. Khi dân chúng la lối: "Hãy đóng đinh nó!"Chúa Giêsu vẫn là Con Thiên Chúa vô tội (ĐHV 103). 

* Mọi người khen con mà Chúa chê con, khốn cho con. Mọi người nhục mạ, vu cáo, ghê gớm con, nhưng Chúa khen con, thì hạnh phúc cho con vì Nước Thiên đàng là của con (ĐHV 102). 

Gánh lấy trọng trách thực hiện Công đồng Vatican II, Đức Phaolô VI đã đem hết sức mình để phục vụ Hội Thánh với tất cả lòng khiêm tốn, bác ái, cương nghị... Ngài không ngớt nhắn nhủ, kêu gọi, giảng giải, sẵn sàng chấp nhận mọi lời khen chê, phê bình, chỉ trích, phản chứng, ra đi... Ngài thường nói: "Cha muốn làm tất cả những gì có thể để thực hiện Công đồng Vatican II", "Cha muốn làm tất cả những gì có thể để vãn hồi hoà bình trên thế giới".


2. Vị Thánh của giới trẻ. 

* Sự điên dại trước mặt loài người là sự khôn ngoan trước mặt Chúa (ĐHV 106).

* Thánh giá là sự dại dột đối với người Do thái, là sự vấp phạm đối với người Hy Lạp (ĐHV 107).  

Thánh Gioan Boscô đã chấp nhận hết mọi đau thương, gian khổ của cuộc đời để đạt mục đích duy nhất: đưa giới trẻ về cùng Chúa. Ngài đi ăn xin từng miếng cơm, manh áo, tấm chăn để đem về cho tốp lâu la du đảng của ngài dùng. Hằng đêm, ngài phải thức khuya để làm báo, viết sách để huấn luyện giới trẻ, bênh vực Hội Thánh... đến nỗi lúc già, mắt ngài mờ đi vì phải thức khuya quá độ. 

Ngài chọn một khẩu hiệu: "Da mihi animos, caetera tolle", tạm dịch "Xin Chúa cho con được cứu nhiều linh hồn, còn mọi sự khác (của cải, danh vọng, thành công) Chúa cứ cất đi!".


3. Ơn được mắc bệnh ung thư. 

* Đừng nói tôi làm theo lương tâm. Còn lương tâm không để theo? (ĐHV 109).

* Tại sao tận hiến cho Chúa mà con so sánh mình với người đời, phàn nàn vì thua sút điều này, điều nọ. Con tiếc vì làm tôi Chúa thiệt thòi sao? (ĐHV 116).

Năm 1953, nhiều nhật báo Mỹ đăng tin: "Ngày 14.01.1953, tại Kansas, bác sĩ báo tin cho Julius Bussi đang nằm điều trị tại nhà thương rằng: Cha phải chết dần chết mòn vì bệnh ung thư". 

Là một người luôn có tinh thần siêu nhiên, hết lòng tin tưởng vào Chúa Quan Phòng, ngài mỉm cười đáp: "Đó là đặc ân, đó là thánh ý Chúa muốn. Nhờ bệnh ung thư tôi có đủ thời giờ để dọn mình chết lành hơn là bị các bệnh hoạn, tai nạn khác bất ngờ xảy đến, không chuẩn bị kịp". 


4. Làm vinh danh Chúa hơn. 

* Ở trong nhà thờ suốt ngày cũng chưa hẳn là nhân đức, nếu còn bắt lý lẽ, nếu còn phản ứng theo khôn ngoan thế gian, còn tự ái.. Gioan và Giacôbê ở với Chúa luôn, nhưng Ngài phải hỏi: "Chúng con có tinh thần của ai"? (ĐHV 108). 

* Hãy nhìn mọi sự với con mắt của Thiên Chúa, con sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác (ĐHV 111).

Khi lập Dòng Tên, thánh Ignatiô Loyola đã chọn cho Dòng một khẩu hiệu: "Ad majorem Dei gloriam": làm cho sáng danh Chúa hơn tất cả mọi công việc thuộc các lãnh vực: truyền giáo, mục vụ, giáo dục, khoa học... Luôn luôn phấn đấu trong tất cả để danh Chúa được vinh hiển hơn.


5. Con muốn phần thưởng nào? 

* Hãy vui mừng vì con thành công và hãy cám ơn Chúa vì có người khác thành công hơn con (ĐHV 105). 

* Nếu không có sự phục sinh thì người Công giáo là hạng vô phúc nhất trần gian (ĐHV 114). 

Là một tu sĩ Dòng Carmêlô, thánh Gioan Thánh Giá đã viết nhiều sách thiêng liêng có giá trị bất hủ. Ngày nọ Chúa hỏi ngài: "Con muốn phần thưởng nào?" Thánh Gioan Thánh Giá đáp: “Xin cho con được chịu đau khổ và xỉ nhục vì Chúa”.


6. Chúng tôi muốn la lớn một lời: Thiên Chúa. 

* Phaolô trồng, Apollô tưới, Thiên Chúa cho có kết quả (ĐHV 113). 

* Chúa "dắt con trên đường, để con ra đi, và thu được nhiều hoa trái". Đường ấy là đường hy vọng", và chan chứa hy vọng, vì "đẹp như hy vọng". Sao không hy vọng khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Đức Chúa Cha? (ĐHV l). 

Năm 1943, Cô Chiara Lubich đã khởi xướng phong trào Focolare với lý tưởng "Hiệp nhất tất cả mọi thành phần của Nhiệm Thể Chúa Kitô".  

Chiara Lubich lúc ấy là một Cô gái trẻ, vừa tròn 18 tuổi. Tuy nhiên Cô đã có một đời sống nội tâm sâu xa, yêu thích sống gần Thiên Chúa. Một lần nọ, mẹ Cô sai Cô đi mua sữa cho em, Cô vui vẻ làm công việc với tinh thần vui tươi, hăng hái. Trên đường đi, Cô cảm thấy dường như đã tìm được ơn gọi của mình là hoạt động bác ái giữa những người cùng khổ. Lúc đó Cô đang điều khiển một nhóm Công giáo Tiến hành. Sau chuyến đi dự khoá hội thảo tại Loretto, Chiara Lubich đã quyết tâm theo Chúa bằng cách sống ba lời khuyên Phúc Âm: Khiết tịnh, Khó nghèo và Tuân phục. 

Thế chiến thứ hai bùng nổ, Chiara Lubich vẫn còn ở lại Trentô để phục vụ các nạn nhân chiến tranh. Tình yêu của Cô đối với tha nhân đã quyến rũ nhiều thiếu nữ khác cùng sống lý tưởng Bác ái Hiệp nhất, thấy Chúa trong tha nhân, nhất là trong những người bị đời bỏ rơi và xua đuổi... Và nếp sống ấy đã vượt ra khỏi ranh giới thành phố Trentô.

Vào một ngày nọ, giữa năm 1948, một thanh niên 20 tuổi, chuyên viên điện, đến sửa điện tại nhà các cô. Nghe các cô nói về Thiên Chúa và về kinh nghiệm sống, anh thích thú và muốn nghe mãi. Lúc xong việc thay vì nhận tiền công, anh ta lại xin được trở thành Focolarinô, vì nghe thấy một tiếng thiêng liêng gọi anh sống đời sống đó. Rồi một kỹ sư nữa cũng đến xin gia nhập. Thế là "Tổ Nam" được thành hình. Trụ sở đầu tiên của tổ là một chỗ nuôi gà vịt được sửa lại. Ngày kia, có một linh mục đến gặp hai anh. Thấy hai anh sống trong chuồng gà, ngài chê là điên. Các anh trả lời: "Chúng con điên vì Tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa cũng điên". 

Ngày nay phong trào đã bành trướng khắp thế giới. Năm 1977, chị Chiara Lubich được giải thưởng quốc tế Templeton về tôn giáo trao tặng tại Luân đôn. Chị thường nói: "Chúng tôi lên tiếng để la lớn cho thế giới một lời: Thiên Chúa".


7. Dàn xếp lương tâm.

* Đừng nói tôi làm theo lương tâm. Còn lương tâm không để được theo? (ĐHV 109). 

Trước kia, Giáo Hội Việt Nam có luật buộc ngày thứ sáu phải kiêng thịt. Ông nọ vào quán, biết quán có cá, nhưng ông thích ăn thịt hơn. Vừa kéo ghế ngồi, ông gọi một loạt tên các thứ cá mà ông biết chắc chắn chẳng bao giờ có: "cho tôi dĩa cá sấu! cho tôi dĩa cá voi!". Chủ quán luôn miệng đáp: "Không có! không có!" 

Thế rồi ông tự nhủ: "Lạy Chúa, Chúa biết cho con, con đã làm hết sức, đã gọi nhiều thứ cá mà chẳng có. Thôi! Con đành phải gọi một tô phở thịt bò tái mà ăn trong ngày thứ sáu kiêng thịt vậy!" Cầu nguyện xong, ông ta thi hành liền "theo đúng sự dàn xếp của lương tâm".


_______________________

7. CẦU NGUYỆN

1. Thánh Phanxicô cầu nguyện. 

* Thứ nhất cầu nguyện, thứ hai hy sinh, thứ ba mới đến hoạt động (ĐHV 119). 

* Bí quyết nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu là cầu nguyện. Không cầu nguyện, dù có làm phép lạ, con cũng đừng tin (ĐHV 122). 

Vì suốt ngày mỏi mệt rao giảng Tin Mừng cho lương dân, nên mỗi khi đêm về quỳ gối trước Chúa Giêsu Thánh Thể, Thánh Phanxicô Xaviê có những lúc quá mệt mỏi phải ngủ gục trên bàn thờ. Lúc ấy ngài thường cầu nguyện: "Lạy Chúa, nếu linh hồn con không tỉnh thức được với Chúa thì ít nữa xác con đây muốn ở gần Chúa ".


2. Ông già xứ Ars. 

* Con tưởng trẻ em chưa làm gì được, người bệnh không làm gì được cho Hội Thánh nữa? Không đâu, sau lời cầu chính thức của Hội Thánh, lời nguyện của trẻ em và bệnh nhân rất đẹp lòng Chúa. Năng nhắc họ ý thức! (ĐHV 141). 

* Giờ cầu nguyện là giờ tâm sự với Chúa là Cha, chứ không phải là giờ làm bài, là giờ của quả tim, chứ không phải là giờ luận lý. Đừng nặn óc bóp trán để trình bày với Chúa (ĐHV 142). 

Người ta thấy một nông dân xứ Ars, mỗi ngày trước khi ra đồng, đều có ghé đứng vào cuối nhà thờ cầu nguyện giây lát rồi mới đi cày. Khi trở về ông cũng ghé vào nhà thờ cầu nguyện như vậy. 

Ai cũng để ý và cảm phục. Một hôm có người hỏi: "ngày ngày ông ghé vào nhà thờ mấy bận để làm gì thế?" Lão nông dân trả lời cách đơn sơ mà đầy ý nghĩa: "Tôi bàn chuyện với Chúa và Chúa bàn chuyện với tôi".


3. Thánh nhân mở cửa nhà chầu. 

* Con tin lời cầu nguyện toàn năng không? Hãy suy Lời Chúa: "Thầy nói thật với các con, hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở". Có công ty bảo hiểm nào bảo đảm cho chắc chắn hơn lời ấy không? (ĐHV 121). 

* Một người thánh mà không cầu nguyện là thánh giả. Con đợi xem, họ sẽ sụp đổ không mấy hồi (ĐHV 131). 

Những lúc gặp tội nhân cứng lòng, khuyên bảo mấy cũng chẳng chịu trở lại, thánh Vincent Ferrier càng gia tăng việc ăn chay, hãm mình, cầu nguyện để kéo ơn Chúa xuống cho họ nhiều hơn. Như thế vẫn chưa đủ. Đêm về, ngài lại thức khuya trước bàn thờ than thở cùng Chúa và nhiều khi còn bạo dạn mở cửa nhà chầu để nói chuyện cùng Chúa với một đức tin mạnh mẽ. Ngài nài nỉ Chúa ban ơn cho bằng được để cứu các linh hồn cứng cỏi ấy khỏi sa hoả ngục.


4. Cầu nguyện cho kẻ thù. 

Quá tức tối trước bài giảng của Stephanô, người Do Thái lôi ngay ông ra ngoài thành Giêrusalem để ném đá cho hả giận. Trước lúc lìa trần, Stephanô thều thào trong hơi thở: "Lạy Chúa, tội của họ xin Chúa đừng chấp xét!" (TĐCV 7,54-60).


5. Một cộng đoàn cầu nguyện. 

* "Khi hai hay ba người hiệp nhau vì Danh Ta, thì Ta ở giữa họ". Lời Chúa Giêsu đã ứng nghiệm, đặc biệt nơi nhiều cộng đoàn cầu nguyện, họ sống xa linh mục từng ngàn cây số mà vẫn hướng dẫn nhau cầu nguyện kiên trì giữa gian nan và cô đơn (ĐHV 124).

* Con tìm bạn để an ủi, nâng đỡ con khỏi cô đơn. Sao con không tìm gặp người bạn không bao giờ phản bội con, và có thể ở với con liên lỉ bất cứ nơi nào? (ĐHV 130).

* Sách thiêng liêng làm nhiều người nên thánh, đó là dầu nuôi lò lửa cầu nguyện (ĐHV 145).

Một bà nọ thuật lại trong cuốn sách nhan đề "Où Dieu pleure" rằng: "Bà cùng với một số người Đức bị đưa đi đày xa quê hương từ giữa lòng thế chiến thứ hai. Tất cả đều là người Công giáo và cùng lao động tại một nông trường. Nơi ấy không có nhà thờ cũng chẳng có linh mục. Nhưng họ được tụ họp mỗi chiều chúa nhật tại một nghĩa địa cũ để cầu nguyện với nhau. Khi biết cách đó 1000 cây số có linh mục, anh chị em Kitô hữu bèn quyết định hằng tháng góp tay nhau một ít tiền để mua vé xe cho một bà già đi về nơi ấy để mang Mình Thánh Chúa đến cho họ. Thế rồi từ đó, mỗi chiều chúa nhật, họ đều gặp nhau trong nghĩa địa với tâm hồn hân hoan vui sướng vì biết rằng có Chúa Thánh Thể, mà bà kia mang trong mình, đang ở cùng họ. Họ sốt sắng cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa... Những ai yếu liệt đều được trao tặng của ăn đi đàng quý giá ấy trước khi qua đời. 

Nhờ đó trong suốt mấy mươi năm trời, cộng đoàn Kitô hữu ấy vẫn sống với niềm tin kiên vững, đùm bọc yêu thương nhau trong tình bác ái huynh đệ.

Năm 1972, được trả tự do, bà già ấy đã thuật lại câu chuyện cảm động cho tác giả cuốn sách. Bà cũng cho biết mình chính là người điều khiển cộng đoàn cầu nguyện vào những chiều chúa nhật tại nghĩa địa. Bà nói: "Tôi ra đi với tất cả niềm lưu luyến, nhớ thương, với biết bao kỷ niệm về cộng đoàn cầu nguyện và cộng đoàn huynh đệ Thánh Thể ấy".


6. Gương Hồng Y Gilroy. 

* Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện (ĐHV 120).

* Muốn biết công việc tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào (ĐHV 132). 

* Nếu con không phải là người cầu nguyện, không ai tin con làm việc vì Chúa thôi (ĐHV 133). 

Đức Hồng Y Norman Gilroy, Tổng Giám mục giáo phận Sidney (Úc đại lợi) là người sáng lập Hội Chầu Thánh Thể trong Tổng giáo phận của ngài cũng như trên toàn thế giới. Để nêu gương sáng cho mọi người trong việc tôn thờ Thánh Thể, mỗi ngày, dù bận rộn công việc, nhọc mệt, căng thẳng, hoặc phải đi công cán ở nước ngoài, ngài vẫn duy trì một giờ chầu Chúa Thánh Thể, ban ngày không được thì ban đêm, chẳng bao giờ bỏ.

7. Nếu điều đó có ích cho phần rỗi của con. 

* Một người chưa vào đạo mà cầu nguyện là dấu rất tốt; khởi sự cầu nguyện là khởi sự có đức tin (ĐHV 137). 

Xưa có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện bằng câu: "Nếu điều đó có ích cho phần rỗi của con". 

Một hôm, người ta dẫn ông đến mồ của Thánh Thomas thành Cantobery để xin Thánh nhân làm phép lạ chữa lành đôi mắt. Ông được nhận lời: đôi mắt vụt sáng lên ngay. Nhưng sau những giây phút vui mừng sung sướng, ông chợt nhớ mình quên kết thúc lời cầu nguyện bằng câu thường lệ: "Nếu điều đó có ích lợi cho phần rỗi của con", nên ông vội vàng trở lại trước phần mộ của thánh Thomas, xin được hoá mù lại, nếu điều đó có ích lợi cho phần rỗi của ông hơn là được sáng mắt. 

Đôi mắt ông lại hoá nên mù như trước, nhưng đời ông từ đó nên thánh thiện.


8. Cha - Con Ta. 

* Chúa dạy con đọc kinh để giúp con cầu nguyện, nhưng việc chính là gặp gỡ, nói chuyện giữa Cha và con: "Khi con cầu nguyện, đừng lo phải nói gì! Hãy vào phòng đóng cửa, cầu nguyện với Cha của con cách kín đáo, và Cha con thấy mọi sự sẽ nghe lời con". Không cần hình thức, chỉ cần tâm tình phụ tử (ĐHV 127).

Trong lần gặp gỡ thánh Phanxicô vào dịp thánh nhân qua Toà Thánh để xin phê chuẩn luật dòng Anh Em Hèn Mọn. Đức Thánh Cha thân mật hỏi ngài: 

- Con có bao giờ thấy Chúa chưa? 

- Con vừa thấy đêm qua.

- Người có nói gì với con không?

- Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì. Tuy nhiên, cứ mỗi lúc con nói "Cha" với Người thì Người trả lời lại với con: "con Ta". Cứ thế, chẳng có gì hơn... cho đến lúc trời sáng.

9. Đan sĩ Silouanne. 

* Hoạt động không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm hơn con (ĐHV 118). 

* Lời cầu nguyện của con phải phổ cập, quả tim con phải chứa đựng cả thế gian, nhưng đừng vì đó mà quên những thực tế trong con, và chung quanh con (ĐHV 144).

* Đặc biệt với tâm hồn toàn hiến, đáng lẽ trong căn cước phải khai: "nghề nghiệp: cầu nguyện". Các nghề khác thế gian đều làm cả. Thế gian đòi hỏi con làm đại lý và xin nài con: "cầu nguyện cho tôi!" (ĐHV 146)

Silouannne là một đan sĩ đơn sơ, thánh thiện, người Nga, thuộc Chính Thống giáo, tu ở núi Athos Hy Lạp, từ lúc 20 tuổi cho đến lúc qua đời (70 tuổi). Giáo chủ Antoine Bloom, đại diện Chính Thống giáo Âu châu, có kể lại một câu chuyện như sau trong đời ngài: 


10. Thằng quỷ làm dấu Thánh Giá. 

*Con hãy cầu nguyện luôn luôn bất cứ ở đâu. Chúa Giêsu đã nói: "Hãy cầu nguyện không ngừng" (ĐHV 123). 

Valentia mồ côi lúc mới lên 5, phải ở với mẹ tại một khu lao động nghèo khổ. Ngày ngày sau Thánh lễ, cậu phải vào các tiệm ăn để đánh giày cho khách. Mỗi lần khách trả tiền, cậu đều làm dấu Thánh giá cám ơn Chúa.  Tụi bạn nom thấy thế nhiều lần to nhỏ với nhau: "Gạo thì không lo mà lo giữ đạo!" Valentia vẫn cứ hiên ngang giữ hình thức cầu nguyện đơn sơ ấy. 

Năm 17 tuổi, cậu được ban văn nghệ khu phố cho đóng vai thằng quỷ. Màn đầu vừa dứt, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Sang màn thứ hai, trời đột nhiên đổ mưa, sấm sét nổi lên ầm ầm. Như bao nhiêu lần trước, "thằng quỷ trên sâu khấu quên mất mình đang đóng kịch, vội quỳ gối làm dấu Thánh giá. Khán giả cười rồ lên, tưởng thằng quỷ làm hề, không ngờ Valentia cầu nguyện thật!" 

Sau đêm ấy, mọi người trong khu xóm hiểu được hoàn cảnh của cậu, họ chung nhau quyên tiền để giúp Valentia ăn học. Đến sau, Valentia đỗ tiến sĩ lúc mới 30 tuổi!


_______________________

8. HY SINH

1. Thập giá đời tu sĩ. 

* Hy sinh và nguyện ngắm đi đôi: nếu con không hy sinh, con đừng phàn nàn vì nguyện ngắm nguội lạnh (ĐHV 148). 

* Con phải hy sinh nhiều khi sống giữa những người khác chính kiến con, khác địa vị con, khác lý tưởng con. Hãy xem gương Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Ngài sống giữa loài người tội lỗi, 33 năm hy sinh liên lỉ (ĐHV 149). 

* Nếu con không hy sinh bên ngoài, không ai tin con hy sinh bên trong. Hy sinh giác quan rất quan hệ, Đavid đã sụp đỗ vì không giữ mắt (ĐHV 160). 

Thánh Louis de Gonzaga là một tu sĩ dòng Tên sống đời trinh khiết, siêu việt như thiên thần. Tuy nhiên, vì vẫn là con người, nên ngài không thể không cảm thấy thấm thía những Thánh giá do đời sống cộng đoàn đem lại: đó là những xích mích, va chạm không làm sao tránh khỏi. Và ngài đã chấp nhận vác lấy cách khiêm tốn, vui tươi, coi đó là một dịp đền tội, như lời Ngài nói: "Việc đền tội lớn nhất của tôi là đời sống cộng đoàn, Mea maxima poenitentia, vita communis". 


2. Những hy sinh của vị Thánh Nhỏ.

* Gặp một người làm khổ, con có thể có hai thái độ: "Người này hại tôi; người này thánh hóa tôi" (ĐHV 150).

* Đừng hy sinh kiểu biệt phái, hãy hy sinh theo Phúc Âm (ĐHV 154). 

* Không hy sinh nơi những việc nhỏ, con sẽ đầu hàng trước những hy sinh lớn lao (ĐHV 164). 

* Để thúc đẩy con, mỗi lần hy sinh, con định rõ một mục tiêu: cứu một linh hồn; dâng cho một bệnh nhân; cầu cho Hội Thánh ở một địa phương gây cấn (ĐHV 165).

Trong truyện "Một tâm hồn", Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu có thuật lại một hy sinh rất đẹp của Thánh Nữ: "Một lần kia tại nhà giặt, con ngồi giặt đằng trước mặt chị. Chị này giặt khăn tay, chốc chốc lại làm bắn nước bẩn vào con. Thoạt đầu con muốn lùi ngay lau mặt cho chị ấy biết để đừng làm bắn nước bẩn vào con nữa. Nhưng nghĩ lại như thế là dại, vì bỏ mất những hạt ngọc người ta tặng mình một cách đại lượng, và con đã thôi không tỏ vẻ khó chịu gì hết. Hơn nữa, con lại cố nén mình để ước ao nước bẩn ấy bắn lên con rất nhiều. Qua nửa giờ con đã cảm thấy sự vui thú được vấy nước bẩn. Con định bụng hể sau này có dịp lại đến chốn đất lành ấy để được một cách làm giàu không mấy khó khăn". 

Nơi khác, ngài còn nói: "Với lòng kính mến Chúa, thì dù cúi xuống nhặt một cái kim nhỏ, ta cũng cứu được một linh hồn". 

Một lần nọ, chị coi nhà liệt khuyên ngài mỗi ngày nên đi bách bộ ngoài vườn 15 phút. Ngài coi lời khuyên đó như một mệnh lệnh. Bữa kia vào lúc quá trưa, một chị trông ngài bước đi khó khăn quá, mới thương hại bảo rằng: 

- Chị về nằm nghỉ có lẽ lợi hơn đi bách bộ, đi như thể chỉ thêm mệt. 

Ngài thưa lại:  

- Vâng, chính thế! Nhưng chị có biết em lấy sức gì để đi được như thế chăng? Em đi để làm ích cho một vị truyền giáo, với ý nghĩ: ở cõi xa xăm kia, có vị truyền giáo dường như đã kiệt sức vì mãi miết theo đuổi công cuộc mở mang Nước Chúa; em muốn dâng lên Chúa những bước đi mệt nhọc này để vị tông đồ ấy đỡ nhọc mệt.


3. Một chứng tích tình yêu. 

* Hy sinh con, đừng hy sinh kẻ khác (ĐHV 158).

* "Vì Chúa yêu thương môn đệ, Ngài đã yêu thương đến cùng!" Tận cùng ấy là Thánh giá. Hy sinh của con phải trọn vẹn, phải là lễ toàn thiêu, nếu "yêu tận cùng" (ĐHV 161). 

* Trong một cuộc hành hương long trọng, nghìn vạn người tham gia, ai cũng muốn vác thánh giá đi tiên phong. Nhưng trong cuộc hành hương của mỗi ngày, mấy ai sẵn lòng vác thánh giá của mình? Anh hùng thinh lặng khó lắm? (ĐHV 171).

Cha Maximilien Kolbe, người Ba lan, là một tu sĩ Dòng Phanxicô rất hăng say hoạt động. Ngài đã tình nguyện sang truyền giáo ở Nhật, đặc biệt chuyên ngành ấn loát sách báo để truyền giáo, người cũng đã có dịp ghé qua Sài gòn, nhưng vì bệnh lao phổi, phải trở về Ba lan điều trị. Tại quê nhà, M. Kolbe vừa chữa bệnh vừa hoạt động không ngừng. Ngài dùng sách báo để truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ. Ngài quá trông cậy, kính yêu Đức Mẹ đến nỗi được người ta gán cho biệt hiệu: "Người con điên của Đức Mẹ ". 

Lúc Phátxít Đức chiếm đóng Ba lan, chúng thấy ảnh hưởng ngài trên quần chúng quá mạnh nên đã tống ngài vào ngục. 

Ngày nọ, trại giam của ngài có một tù nhân vượt ngục. Sáng hôm sau, lúc điểm danh thấy mất một người, viên sĩ quan áp dụng ngay luật lệ của Phátxít Đức: hễ một tù nhân trốn thoát, mười người tù khác phải đền mạng. 

Trên sân nhà tù, ai nấy đều thinh lặng và khiếp đảm. Viên sĩ quan coi tù ngục vừa giận dữ rảo bước vừa đưa tay chỉ định: tên này.... tên này... Ai lâm vào sổ đoạn trường thì phải sang sắp hàng một bên. Chợt có tên kêu thất thanh: "Khốn cho tôi, tôi còn vợ và một đàn con nhỏ". 

Giữa bầu khí thinh lặng và rùng rợn ấy, một tù nhân bước ra khỏi hàng, đứng im cách nghiêm nghị. Viên sĩ quan Đức quát hỏi: 

- Mi là ai? 

- Maximilien Kolbe, linh mục Công giáo! 

- Mi muốn gì? 

- Tôi xin nguyện chết thay cho anh bạn tù này (ngài đưa tay chỉ vào người vừa la thất thanh), vì anh còn con thơ và vợ dại.

- Muốn ngu thì cho ngu! Vào sắp hàng thế, còn tên kia được tha! 

Mọi tù nhân có mặt trên sân đều ngơ ngẩn, ngạc nhiên, thán phục... Viên sĩ quan Đức hô lớn: "Sắp sẵn! Đi!". Mười người lặng lẽ đi vào phòng giam đói của nhà ngục. Theo lời các tù nhân thuật lại, thường những kẻ bị giam đói khóc lóc chửi rủa cho đến khi tắt hơi. Cha M. Kolbe luôn miệng khuyến khích, thúc giục mọi người cầu nguyện. Các tù nhân bên ngoài nghe tiếng họ hát và đọc kinh, ban đầu lớn, càng về sau càng yếu đi, rồi đến một lúc thì hoàn toàn im lặng. Ngày thứ mười hai, cửa phòng giam đói được mở ra. Mọi người đều đã chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân hình tàn rũ. Viên cai ngục bắt ngài đưa tay ra và chích cho một mũi thuốc độc ân huệ. Vị linh mục chết ngay. Họ đưa xe đến xúc xác ngài và các bạn tù đổ vào lò đốt. 

Mấy mươi năm sau, vào năm 1972, Toà Thánh đã tôn phong ngài lên bậc Chân phước, sau khi cứu xét kỹ lưỡng các nhân đức anh hùng của vị linh mục. Giây phút cảm động nhất trong Thánh lễ do Đức Phaolô VI chủ tế trong buổi lễ tôn phong ấy là hồi dâng lễ vật: một đoàn người tiến lên mang bánh, rượu, nến và hoa hồng trắng đỏ: hoa hồng trắng chỉ sự trinh khiết, hoa hồng đỏ chỉ sự hy sinh tử đạo. Đoàn người dâng lễ gồm có người Ba lan, đồng hương của ngài, và vài thiếu nữ mặc quốc phục Nhật Bản, nơi ngài đã đến truyền giáo. Cảm động hơn cả là lúc Đức Thánh Cha ôm hôn ông già bưng cái chén thánh tiến lên: đó chính là tù nhân đã được cha Kolbe thế mạng. Trong lúc ấy, toàn thể cộng đoàn hát vang khúc tình ca: "Không có tình yêu nào cao quý bằng chết thay cho bạn hữu". Chứng tích sờ sờ trước mắt khiến nhiều người hôm ấy không cầm nổi giọt lệ...


4. Cha Đamien Tông Đồ người hủi. 

* Nếu biết chế ngự bằng hy sinh: hồn và xác con là hai người bạn đoàn kết và vô địch. Nếu không biết chế ngự: hồn và xác con là hai kẻ thù không bao giờ lìa xa nhau được (ĐHV 168).

* Có những người hy sinh mà muốn mọi người biết mình hy sinh; có những người không hy sinh mà muốn mọi người biết mình hy sinh; có những người hy sinh luôn mà không muốn ai biết mình hy sinh (ĐHV 170). 

* Con có thể hy sinh mạng sống, hy sinh cả cuộc đời, vì hy vọng chan chứa với Chúa Giêsu: "Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người lên trời, Người sẽ trở lại trong vinh quang... Nước Người sẽ không bao giờ cùng" (ĐHV 174)

Cái đảo xa xăm ấy nằm cô đơn giữa lòng Thái-bình-dương mênh mông. Trên đảo toàn là người hủi: cụt tay, đứt chân, mắt đui mày lở, răng rụng... 

Một hôm, Đức Giám Mục đặc trách quần đảo gióng tiếng kêu gọi các linh mục ở Âu Châu tình nguyện hy sinh sang đó phục vụ. Một linh mục trẻ, đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh hăng hái đáp lời: đó là cha Đamien, người về sau được thêm biệt danh: "Tông đồ người hủi". 

Chiều hôm đó, trong nhà thờ đông nghẹt những người hủi da ngăm đen với mùi hôi tanh nồng nặc, Đức Giám mục đứng trên bàn thờ quay xuống giới thiệu với giáo dân: "Các con thân mến, các con hằng mong ước có một linh mục đến cùng các con, thì đây, cha Đamien, một linh mục người Bỉ sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết. Các con có sung sướng không?" 

Cả nhà thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Cha Đamien đứng cạnh Đức Giám mục chẳng hiểu tí nào. Rồi họ từ từ tiến lên cung thánh, dáng điệu chất phác đơn sơ. Cha Đamien càng nhìn thấy họ đến gần càng sởn tóc gáy. Họ trông như những thây ma còn sống, như những quái thai mất hẳn dáng người. Họ làm gì đây? Họ tiến đến bên Cha sờ vào mặt, vào tay, vào áo cha... Cha hỏi Đức Giám mục: "Họ làm gì thế? Nói gì thế?" Đức Cha trả lời: Họ nói, họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con huyết thống gì với họ, còn trẻ, đẹp trai, không bệnh tật như Cha, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mãnh đất cùng khốn này. Họ không tin mắt mình nên mới đến sờ mó vào người cha, xem thử cha có thực sự bị phung hủi như họ không. Rồi họ nói với nhau: "Không, cha đẹp quá!" 

Dần dần, cha Đamien hòa đồng được với họ. Ngài không còn cảm thấy tởm gớm họ như ngày đầu. Nói đúng hơn, ngài đã quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi trong họ nên chẳng còn thấy e sợ, gớm ghiếc chi! 

Một ngày kia, đến lượt cha cũng mắc bệnh hủi. Thân hình cha lở loét, nhức nhối. Mặt mày cha sù sì, đen đủi, u nần trông rất dễ sợ. Một số báo ở Bỉ đăng hình cha mô tả sự hy sinh vĩ đại của cha. Bà cụ của cha mắt mờ không đọc được, nhìn vào bức hình cũng chẳng nhận ra nổi đứa con yêu. Bà hỏi con cháu: "Hình ai đây mà trông ghê sợ vậy?" Con cháu trả lời: "Một người hủi bên đảo Molokai của anh Đamien đấy!" Qua mặt được bà cố, nhưng họ lại nhìn nhau và không ai bảo ai, tất cả đều xót xa rơi lệ.

Cha Đamien đã sống với người hủi cho đến chết. Tình yêu Chúa đã giúp cha hy sinh suốt đời vì họ.


5. Viên đá đầu tiên dính đầy máu đỏ. 

* Thiên hạ nói: "Người này là mối họa cho tôi!" Con phải nói: "Người này là khí cụ Chúa dùng biến đổi tôi!"(ĐHV 151). 

* Không hy sinh, không có nhân đức thánh thiện. Ai chưa "bỏ mình vác thánh giá" thì chưa "theo Thầy" được. Đó là điều kiện tiên quyết (ĐHV 157). 

* Người hy sinh biết rộng lượng trước khuyết điểm của người và nghiêm khắc trước khuyết điểm của mình (ĐHV 169). 

- Xin cám ơn ông, đây là viên đá đầu tiên của ngôi thánh đường tôi muốn xây lên đây trong một thời gian nữa. 

Đó là lời của một linh mục thừa sai thốt lên vào năm 1896 trên mảnh đất lương dân nghịch đạo ở Cayenne, vùng Saint-Ouen. Khi vừa thấy chiếc áo dòng thâm của vị thừa sai xuất hiện, một người dân đã lấy đá ném thẳng vào vị linh mục thừa sai. Ngài bình tĩnh cúi xuống nhặt viên đá dính đầy máu và thốt lên câu nói trên. 

Thời gian trôi qua, vị linh mục vẫn bền chí hy sinh, tiếp xúc, cầu nguyện, gặp gỡ, rao giảng... cho đến một hôm, viên đá dính đầy máu đỏ xưa kia trở thành viên đá đầu tiên của ngôi nhà thờ xây trên xứ ấy để dâng kính Đức Mẹ. Hội Thánh Chúa luôn luôn lớn lên từ những hy sinh của con cái mình.


6. Hy sinh để cám ơn Chúa. 

* Con nghĩ rằng con không có gì để hy sinh cho Chúa, nhưng Chúa thấy con bỏ quá nhiều dịp: tươi cười với một người nói móc họng con: thinh lặng trước một vụ vu cáo bất công; yêu thương một người bạn phản bội; không nói một lời hóc búa trả đũa. Mọi giây phút đều có dịp hy sinh (ĐHV 153). 

* Vì yêu thương sẵn sàng hy sinh tất cả: "Để thế gian biết Đức Chúa Cha yêu Thầy và Thầy yêu mến Đức Chúa Cha, chúng ta hãy chỗi dậy và ra đi?" (ĐHV 159). 

Hôm đó, trên chuyến bay từ Ý qua Mỹ, mang theo một số Giám mục mới đi dự Công đồng Vatican II về, có một cô chiêu đãi viên rất đẹp. Suốt chuyến bay, cô rất bực mình vì một đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, và đôi mắt đó không là của ai khác hơn là Đức Cha Fulten Sheen, vị tông đồ lừng danh của nước Mỹ. Khi phi cơ hạ cánh, và đợi cho các hành khách xuống hết, vị Giám mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêm trang nửa bông đùa: "Cô đẹp lắm! Cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp!" 

Vài hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng làm việc của Đức Cha Fulten Sheen, cô chiêu đãi viên hôm nọ xuất hiện. Nàng vào đề liền: 

- Câu nói của Đức Cha làm cho con suy nghĩ mãi. Con phải cám ơn Chúa thế nào? 

- Cô biết trại phong cùi Di Linh ở Việt Nam chứ? 

- Vâng, con đọc báo có nghe đến! 

- Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người cùi ở đó mà ban cho cô. Cô hãy qua bên đó mà an ủi họ. 

Chỉ từng ấy! Cô chiêu đãi viên sau đó trút bỏ cả tương lai huy hoàng, khoác bộ áo nữ tu, và sau một thời gian tập sự học hỏi, đã tình nguyện sang Việt Nam phục vụ, ngay giữa những người cùi Di Linh, để cám ơn Chúa vì đã ban cho mình sắc đẹp.


7. Đôi mắt trao tặng kẻ mù. 

* Ai cũng kính trọng những người được in Năm Dấu Thánh, nhưng ai cũng sợ Chúa in Năm Dấu Thánh trên mình bằng hy sinh (ĐHV 152). 

Cuối năm 1955, tại một bệnh viện, người ta nghe tiếng cha Don Gnochi thì thầm với bác sĩ: "Khi tôi mất rồi, xin bác sĩ móc hai mắt tôi để ghép vào cho hai đứa trẻ mù mà tôi đã nuôi nấng". 

Sau mấy tuần làm việc, bác sĩ đã thành công: hai đứa trẻ bắt đầu thấy ánh sáng và càng ngày, các em càng được trông thấy rõ. Bác sĩ tìm hết cách hỏi hai em về mối dây liên hệ giữa hai em và linh mục Don Gnochi. Hai em cho biết là chẳng có họ hàng gì. Thì ra trong suốt cuộc đời làm linh mục, cha Don Gnochi chuyên kiếm tìm những trẻ tàn tật đem về nuôi dưỡng, săn sóc, huấn luyện... Quá cảm kích trước tấm gương hy sinh vĩ đại, vị bác sĩ đã quyết đinh hiến dâng cả cuộc đời mình phục vụ các người xấu số. Gương hy sinh lôi kéo nhiều kẻ hy sinh.


8. Giọt nước mắt tha thứ.  

* Người thực sự yêu thương, luôn luôn hy sinh mà không bao giờ kể công (ĐHV 155). 

Đứng trước hung tin: Jacques, cậu con trai yêu quí vừa từ trần, nữ bá tước Littry vô cùng đau khổ và cảm thấy tiêu tan hết nghị lực; tuy nhiên, bà vẫn cố gắng lao mình vào công việc phục vụ các bệnh nhân trong bệnh viện do bà sáng lập năm 1870, ở thung lũng Marne, xứ Eperny. 

Ngày nọ, một thương binh người Đức được cho đến bệnh viện. Dù y thuộc thành phần quân đội thù nghịch đã giết chết con trai bà bá tước, nhưng bà vẫn tiếp nhận một cách vui vẻ. Đến khi lúc soạn đồ đạc, áo xống của người thương binh, bà bắt gặp chiếc ví và cái đồng hồ của cậu Jacques trong túi áo của tên lính Đức ấy. Vừa bàng hoàng, vừa tức giận, nữ bá tước Littry chỉ biết thốt lên: "Đúng đây là tên lính đã giết con trai mình!". Nhưng kìa, một mảnh giấy trong chiếc ví của Jacques rơi xuống. Bà Littry vội cúi xuống nhặt lên đọc, một hàng chữ đập mạnh vào mắt bà: "...Mẹ yêu quý! con luôn nhớ đến mẹ và cầu nguyện cho mẹ. Nếu chẳng may con tử trận, xin mẹ đừng quá bi lụy, nhưng hãy can đảm, quảng đại chịu đau khổ để cầu nguyện cho con..." 

Sau một hồi xúc động, bà Littry cúi xuống tiếp tục săn sóc tên lính Đức cách tận tình. Trên mặt y, một giọt nước mắt của bà rơi xuống, nóng hổi, lóng lánh như hạt sương mai...!.


9. Cha già lựu đạn. 

* Chúa thường gởi hy sinh đến những người Chúa yêu, những hạng người được Chúa yêu ít lắm, vì không mấy ai chấp nhận hy sinh (ĐHV 163). 

* Thánh thiện và tội lỗi, lắm lúc chỉ do thắng bại của một phút hy sinh (ĐHV 172). 

Nữ tu Antoinette vẫn thường gọi thế khi nhắc tới ông lính già kỳ chướng, khó tính nhất trong bệnh viện. Gặp ai ông cũng nhăn nhó, nạt nộ; có chuyện gì khó chịu ông ta la lối rùm beng. 

Ngày kia đang mãi mê phục vụ, nữ tu Antoinette nghe tiếng cha già lựu đạn hét lên: "đem cho tôi quả trứng!" Antoinette vui vẻ đem đến. 

- Trứng chưa chín đủ mà cũng đem cho tôi à! cha-già-lựu-đạn nhăn nhó bảo. Antoinette tươi cười đem trứng đi luộc lại.

- Trứng chín quá! luộc gì mà luộc vô hậu đến thế!  

Antoinette chẳng biết làm sao, chị bèn đi lấy lò kê một bên gường và trao cho ông lính khó tính một quả trứng để ông luộc lấy cho vừa ý ông. Ông già thấy thế nổi máu nóng lên, đạp đổ lò bếp, quăng trứng xuống sàn nhà, miệng quát lớn: "Cô không biết tôi là bệnh nhân sao! Bệnh nhân mà đi luộc trứng à?" 

Nữ tu Antoinette chẳng nói nữa lời, chỉ thinh lặng cúi xuống thu nhặt, quét dọn... Lát sau, chị lại đem đến cho ông lính già một cái trứng khác: "Anh cố gắng dùng thử cái này, tôi luộc vừa chín thôi!" Bất giác ông lính già rùng mình cảm động, nói lý nhí trong miệng: "Tôi ăn quả trứng mà cũng là ăn lòng tốt của bà nữa".


_______________________

9. QUẢ TIM

1. Quả tim của con người trở lại. 

* Con cảm thấy quả tim con yếu đuối. Các thánh cũng như con. Nhưng nhờ vậy họ mới làm thánh: nhờ ơn Chúa và ý chí (ĐHV 181). 

* Con dâng cho Chúa một quả tim, trong đó đủ mọi thụ tạo chen nhau chiếm chỗ, rồi con bảo Chúa nhận và giữ quả tim ấy sao? (ĐHV 182).

Sau khi con tim mình bị Chúa chiếm đoạt, Augustinô đã trở thành một Kitô hữu, một tu sĩ và là một Giám mục thánh thiện, lừng danh. Đặc biệt trong quãng thời gian làm Giám mục thành Hippone (Phi châu), Ngài đã thể hiện một tinh thần khiêm tốn và huynh đệ tuyệt hảo đối với các linh mục dưới quyền Ngài. Thánh nhân qua đời năm 430, hưởng thọ 76 tuổi, để lại nhiều bộ sách quí giá về thần học, minh giáo và chú giải Thánh Kinh.


2. Hai nàng trinh nữ. 

* Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: tình yêu Chúa đổ vào quả tim con (ĐHV 178). 

* Ngần ngại gì? Hãy cắt đứt xích xiềng ràng buộc con, dù là xiềng vàng, để tiến lên. Cuối đường có Chúa đón chờ con (ĐHV 179).

Clara là một thiếu nữ rất xinh đẹp, chào đời 16.7.1194 trong một gia đình quyền quí tại Alexandriô, miền Ombri, nước ý. Năm 16 tuổi, quả tim tươi trẻ ấy đã can đảm lìa bỏ gia đình để tận hiến cho Chúa Kitô. Nàng không ngần ngại cắt đứt mái tóc óng-ả của mình để trở thành một tu sĩ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Phanxicô khó khăn. Ngài đã lập dòng các Nữ tu tận hiến cho Chúa (Clarisses) và qua đời 11.8.1253 trước sự thương tiếc của mọi người. 

Thánh Rosa thành Lima cũng thế. Dầu được mọi người trong gia đình chiều chuộng, ngài vẫn luôn tỏ ra thùy mi, đơn sơ từ lời nói cho đến cách ăn mặc. Để giữ mình trinh khiết, ngài đã mặc áo dòng ba Đa-minh lúc vừa 22 tuổi. Từ đó ngài bắt đầu sống một cuộc đời ăn chay nhiệm nhặt, nàng tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện, đọc Thánh Kinh và suy gẫm về Thánh lễ. Ngài còn ước ao đi truyền giáo các nơi xa xôi, nhưng vì sức yếu lại thêm gánh nặng gia đình nên không thể thực hiện được ước mơ. Bù lại, ngài hăng hái giúp đỡ các bệnh nhân và người nghèo khổ. Ngày 24.8.1617, Ngài đã qua đời vì bệnh ung thư sau những năm dài say mê với công việc bác ái.


3. Quả tim nồng nàn. 

* Đừng dâng tim con cho Chúa, rồi tìm quả tim người khác thay vào. Chúa không muốn con chơi "trò ghép tim" ấy đâu (ĐHV 176).

* Chúa muốn tất cả lòng con, Chúa không chấp nhận chia sẻ với ai (ĐHV 186).

Thánh Nữ Maria Madalêna Pazi (Ý) khấn giữ mình đồng trinh ngay lúc mới 10 tuổi. Sáu năm sau, ngài từ hôn với một vị lãnh chúa, và từ giã cha mẹ để hiến thân trong Dòng Kín, sống một cuộc đời hoàn toàn bác ái, khiêm nhường. Ban đêm bà tình nguyện giúp các chị em yếu liệt và làm việc nhà cách kín đáo thay cho chị em...Lòng bà rất sốt sắng kính mến Chúa đến nỗi phải lấy nước lã đắp lên ngực mới chịu nổi...! Bà thường cầu nguyện: "Xin cho con được sống để chịu đau khổ vì Chúa, cứ đau khổ mà không chết". Bà qua đời lúc 41 tuổi, năm 1607, sau một thời gian lâu dài trên giường bệnh.


4. Hai cái xương sườn gãy.

* Các Thánh càng già thì quả tim họ càng tươi trẻ (ĐHV 177). 

* Con đổi một quả tim nhàu nát, để lấy Thánh Tâm yêu thương Chúa sao được? (ĐHV 183). 

* Con mang quả tim rao bán qua tay mọi người. Khi đã chê chán rồi, con đem dâng cho Chúa! Chúa dại hơn con sao? (ĐHV 185). 

Thánh Philipphê Nêri (1515-1595) có một quả tim yêu thương linh hồn người ta rất tha thiết. Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả thời giờ để ngồi tòa giải tội. Với nếp sống bình dân, dễ mến, ngài đã gây được ảnh hưởng trên nhiều người. Không ai quên được câu nói của ngài: "Với kẻ yêu mến Chúa thì không có gì nặng nhọc, mệt mỏi, nhưng đầy hân hoan trong nguồn suối chân thật". Trước tình trạng sa đọa trong Hội Thánh thời bấy giờ, ngài chủ trương: "Người ta chỉ có thể canh tân bằng sự thánh thiện chứ không thể bằng cách nào khác, vì thế ngài đã lập dòng Thăm viếng để góp phần canh tân Hội Thánh. Năm 1593, ngài khiêm nhường từ chối mũ Hồng Y và lui về tu viện sống đời ăn chay cầu nguyện. Quả tim ngài luôn bùng cháy lửa yêu mến Chúa và các linh hồn đến nỗi Chúa làm phép lạ cho hai cái xương sườn bên cạnh quả tim gãy và nổi cao lên rõ ràng trên lòng ngực.


5. Nên thánh nhờ một thây chết.

* Cứ mỗi lần con lại nói: "Phải mà tôi đã dứt khoát từ đầu!" Mong con đừng còn phải nhắc lại lời hối tiếc muộn màng ấy. (ĐHV 180)

* Con nói: "Đây là những tình bạn nâng đỡ tôi." Hãy xem nếu không tiến lên thì đó chỉ là gánh nặng đè bẹp con xuống. (ĐHV 184)

- Tôi đã đánh mất mọi sự, chỉ trừ Đức Tin. 

Câu nói ấy đã được thốt lên từ đôi môi của một cô gái hoang đàng, trụy lạc tên là Marguerite de Cortone. Trong suốt chín năm trời, sau cuộc tái hôn của thân phụ, cô Marguerite luôn sống dầm dề trong tội lỗi... Nhưng rồi một ngày kia, Thiên Chúa đã đánh động con tim hoang đàng của cô bằng một quang cảnh ghê rợn: ở một góc rừng, Marguerite rất đỗi bàng hoàng xúc động khi đứng trước thi thể thối tha của người yêu. Nàng tự hỏi: "Sau đó còn lại gì, lạy Chúa, và rồi cô gái trụy lạc ấy đã trở về lại với gia đình, xin lỗi thân phụ, tròng một giây thừng vào cổ để tỏ dấu ăn năn thống hối. Đoạn nàng đến xin các tu sĩ dòng Phanxicô hướng dẫn, và sau ba năm đầy thử thách với nhiều đêm dài miệt mài khóc lóc đền tội, Marguerite đã khoác lên mình bộ tu phục dòng ba Phanxicô... Sau đó, nàng biến nhà mình thành một bệnh xá vừa săn sóc các bệnh nhân vừa lao động sản xuất nuôi họ. Ma quỷ dùng trăm phương ngàn kế để cám dỗ Marguerite nhưng nàng đã mãnh liệt chống trả. Ơn Chúa tuôn xuống như mưa trên nàng, nhất là ơn làm cho tội nhân ăn năn trở lại.


6. Dẫn lực của một tâm hồn.

* Các Thánh bỏ mọi sự, nhưng các Thánh đi đâu, thiên hạ theo đến đó: xem Thánh Vianney, Cha Piô...(ĐHV 189)

- Tôi tín nhiệm cha mới sai cha đến xứ Ars, một xứ chẳng có lòng đạo đức bao nhiêu. 

Nghe lời đó thốt lên từ miệng vị Giám mục. Cha Vianney không nản lòng, trái lại vẫn một mực tin cậy vào Chúa. Khi về nhận sở, cha thấy lời Đức Giám mục quả không ngoa. Chẳng một ai đón tiếp, Thánh lễ đầu tiên chỉ một vài kẻ tò mò đến dự. Ngày Chúa nhật cả con nít lẫn người lớn đều đi làm chẳng ai màng đến Thánh lễ với ông cha. Thấy giáo dân khô đạo, xa Chúa như thế, cha Vianney rất đau khổ và tìm mọi cách để gần gũi họ. Chiều chiều, người ta thấy bóng cha lang thang ngoài đồng, thăm hỏi cười vui với nông dân. Nhờ thế, một thời gian cha con hiểu nhau, quý mến nhau tin cậy nhau. Người ta rất đổi ngạc nhiên trước sức hấp dẫn kỳ diệu phát xuất từ con người đơn sơ ấy. Ngài ngồi ở toà giải tội hàng giờ. Thành phần những người đi xưng tội thuộc đủ mọi giáo xứ, mọi địa phận và cả mọi quốc gia nữa! Cái gì thu hút họ đến thế? Thưa: quả tim của cha. Cha Vianney có quả tim tràn đầy tình yêu Chúa và những kẻ tội lỗi. Nhiều người đàn ông cứng cỏi ban đầu đến cố ý để chỉ trích chế nhạo ngài, đến sau đều phải thú nhận "từ nơi cha có một sức gì quá ư mãnh liệt khiến tôi không thể không vào toà giải tội, xưng hết các tội lỗi, rồi trở về đổi mới hân hoan!". Cả các Hồng Y, Giám mục cũng bị thu hút đến xưng tội và ban trưa tới ngồi ở ghế giáo dân nghe cha Vianney dạy giáo lý nữa! Một linh mục dốt nát nhất dạy cho hàng vị vọng trong Hội Thánh.

Vào những năm cuối đời, người ta không còn nghe rõ tiếng cha nữa, chỉ thấy môi cha mấp máy; chốc chốc cha lại chỉ tay vào nhà chầu, nước mắt chảy ròng ròng... cả nhà thờ thấy thế đều cảm động. Người ta tuôn đến xứ Ars để xưng tội càng ngày càng đông. Nhà nước phải đặt một đường xe lửa chạy dài đến thôn trang hẻo lánh ấy, lập thành một ga mới để phục vụ khách hành hương. Cha Vianney qua đời ngày 4.8.1859. Hơn một trăm năm sau, khách hành hương vẫn không ngớt kéo về Ars để nhìn ngắm chiếc giường đơn sơ và đôi guốc gỗ, suy gẫm những bài giảng với nét chữ nguệch ngoạc còn sai lỗi chính tả của cha. Quả như một lời danh nhân đã nói: "Tài năng tuyệt tác chỉ khiến người ta đứng ngoài mà thán phục, nhưng quả tim vĩ đại lại thu hút người ta vào bên trong". Mà quả tim nào vĩ đại bằng quả tim các Thánh?


7. Sức hút lên cao. 

Cha Abel là một tu sĩ rất đạo đức thánh thiện. Dù tu viện của Ngài ở tận trên cao chóp núi Liban (xứ Libia), đường đi trắc trở, thế mà ngày ngày tội nhân trên khắp xứ đều tuôn về đó để xưng tội. Khi ngài đã ly trần, người ta còn kéo nhau đến bên mồ ngài cầu nguyện, xin ơn. 


8. Chinh phục bầy ngựa hoang.

* Dùng tình yêu để làm tông đồ, một cớ rất hay! Nhưng hãy xét lại, bây giờ chỉ còn tình chứ không còn gờ-ram nào tông đồ nữa. (ĐHV 192) 

Lúc còn là linh mục trẻ, cha Thánh Gioan Boscô thường hay ra vào trại cải huấn thăm viếng các chú bé bị giam. Ngày kia, ngài đến gặp ban giám thị trại và đề nghị: "Tôi xin ban giám thị cho phép tôi đưa các em đi cắm trại một ngày ngoài trời để chúng tự do, thoải mát đôi chút". Cả ban giám thị nhìn nhau ngớ ngẩn. Xưa nay có ai đề nghị như thế bao giờ! Lỡ ra mấy trăm tù nhân nhóc con ấy bỏ chạy tán loạn thì chết cả lũ! 

- Không được đâu cha! Tụi nó trốn hết.

- Xin các ông cứ tin tưởng vào tôi. Tôi sẽ dẫn đi trong trật tự, trả về đủ số, không thiếu mất một người!

- Thiếu thì sao?

- Tôi xin ở tù thay. Mà chắc không thiếu đâu. Trái lại tôi hy vọng sau khi trở về chúng sẽ vui vẻ tử tế hơn, các ông điều khiển càng dễ... 

- Xin lỗi cha, nếu không quen năng gặp cha ra vào trại giam này mấy năm qua, chúng tôi đã tưởng cha là một thằng điên hoặc mát mát tốc tốc làm sao ấy. Nguy hiểm lắm cha à! 

Cha Boscô cứ dai dẳng năn nỉ một hồi, ban Quản đốc ưng ý nhưng với một điều kiện: sẽ cho đội lính đi bọc hai bên. Cha Boscô không chấp nhận điều kiện, cương quyết chỉ có mình ngài dẫn đi. Sau hết họ xiêu lòng, đánh bạo cho phép.

Rồi ngày chúa nhật trù định đã đến. Cha Boscô sắp các tù nhân trẻ tuổi thành đội, mỗi đội có một đội trưởng phụ trách. Cửa tù mở rộng. Các tù nhân hớn hở đi ra. Vượt khỏi thành phố Torinô, họ đến một khu rừng mát mẻ, soạn lều cắm trại, dọn bếp nấu ăn, thi đua thể thao, hát hò văn nghệ thoả thích... Thật là một khung cảnh ngoạn mục! Cha Boscô lăng xăng giữa họ đùa chơi, chuyện trò hay khuyên bảo. 

Trời càng về chiều, ban Giám thị càng hồi hộp nhìn đồng hồ, mặt mày tái mét bảo nhau: "Dại dột quá! Không chừng chết cả lũ!" Bỗng thấy nghe tiếng đàn tiếng hát từ xa vọng lại. Họ thở phào nhẹ nhỏm. Cửa tù lại mở rộng. Các tù nhân theo hàng ngũ tiến vào. Ban Giám thị giở sổ điểm danh: Không thiếu một mống! 

Mấy ngày sau, ban giám thị mở một cuộc điều tra. Tất cả các tù nhân trẻ đều trả lời: "Cha Boscô yêu thương chúng tôi. Chúng tôi yêu thương cha Boscô. Bởi thế nhiều lần chúng tôi muốn đào tẩu, nhưng nhìn ngài, chúng tôi không thể nhẫn tâm được!" Gặp lại cha Boscô, ban giám thị bắt tay ngài và nói: "Cha làm cho chúng tôi một phen hú hồn, mất vía! Nhưng chúng tôi hết sức cảm phục cha. Cha đã trao quả tim cho họ và chinh phục quả tim của họ cho cha. Chứ chúng tôi đây, với mấy vòng gác, hàng rào, khoá sắt, chó berger, bóng đèn pha, trăm người lính gác... mà tháng nào cũng có đứa trốn được?"


9. Một quả tim vĩ đại.

* Bao nhiêu mối tình vẩn vơ vấn vương, hay nhiều vòng xích buộc con không bay lên cao được (ĐHV 193).

* Không phải tổng số hoạt động là quan hệ, nhưng chính cao độ của tình yêu nó biến đổi hành động của con mới quan hệ. (ĐHV 194). 

Là một cô gái yếu đuối, chỉ sống đến 24 tuổi, ở trong kín cổng cao tường của Dòng Kín Carmêlô, Têrêxa Hài Đồng Giêsu vẫn có một quả tim tràn đầy nguyện vọng cao cả. Cô đã ghi lại trong "Truyện một tâm hồn" như sau:  "Lạy Chúa Giêsu, được nên bạn Chúa, được làm nữ tu nhà Kín, được làm mẹ các linh hồn bằng sự phối hợp với Chúa, những sự đó đáng lẽ đủ cho con rồi. Nhưng con cảm thấy trong con còn có những ơn kêu gọi khác nữa: ơn kêu gọi làm chiến sĩ, làm linh mục, làm tông đồ, làm tiến sĩ, làm thánh Tử đạo. Con muốn được hết những việc anh hùng nhất, con muốn can đảm như một nghĩa quân, con muốn hy sinh trên bãi chiến trường hầu bênh vực Hội Thánh.  "...Con muốn soi chiếu các linh hồn như các thánh Tiên tri, các Thánh tiến sĩ. Con muốn chạy rảo cùng trái đất rao giảng danh Chúa và trồng Thánh giá vinh hiển của Chúa trên đất ngoại đạo... Nhưng một sứ mệnh đó mà thôi thì cũng chưa đủ cho con, con muốn một trật rao giảng Phúc Âm trong các miền trên thế giới, cho đến tận những cù lao xa xôi nhất. Con muốn làm thừa sai, nhưng không phải chỉ trong một ít năm, mà con muốn làm từ thuở tạo thiên lập địa và tiếp tục cho đến tận thế... 

"Ôi! Điều con muốn hơn hết là được Tử đạo. Tử đạo đó là sự con ước ao từ lúc nhỏ. Sự ước ao đó đã lớn lên trong con nơi phòng nhỏ hẹp của Dòng Kín. Nhưng càng điên dại hơn nữa, là không phải con chỉ muốn chịu một thứ hình khổ mà thôi; còn chịu tất cả mọi giống hình khổ thì mới thoả mãn ý con. 

"Như Chúa, ôi Bạn đáng kính thờ, con muốn bị đánh đòn và chịu đóng đinh. Con muốn chết bị lột da như thánh Batôlômêô. 

"Con muốn như Thánh Gioan bị bỏ vào vạc dầu sôi; con muốn như thánh Ignatiô bị răng các thú dữ nghiền nát để nên bánh xứng đáng dâng lên Chúa trời. Con muốn giương cổ cho lý hình chém, như thánh Agnès và Thánh Cêcilia; và như Thánh nữ Jeanne d'Arc, con muốn kêu tên Giêsu trên đống lửa hồng. 

"Khi tư tưởng con nhớ đến những khổ hình chưa hề thấy giữa những người có đạo với nhau trong thời quỷ vương, thì lòng con cũng bắt nhảy mừng, con muốn những khổ hình đó được dành để cho con. Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy mở cuốn sách hằng sống ghi lại những việc lành của tất cả các thánh cho con thấy. Những việc làm đó con cũng muốn làm tất cả vì Chúa. 

"Với những ý nghĩ điên dại này, Chúa sẽ trả lời làm sao hả Chúa? Ở trên thế gian này có một linh hồn nhỏ mọn và bất lực hơn con nữa không? Song le, chính vì nó yếu đuối bất lực mà Chúa đã thương làm thỏa mãn muôn vàn khát vọng trẻ con của nó; và ngày hôm nay đây, Chúa lại muốn lấp đầy bao nhiêu khát vọng của nó lớn hơn trời cao đất rộng.  

"...Lạy Chúa, con không dám ước xin thêm gì nữa, con sợ e sẽ bị đè bẹp dưới sức nặng của những điều ao ước táo bạo của con... Những điều con ước mênh mông, là sự điên cuồng? Nếu thật thế thì xin Chúa soi sáng cho con... và đánh tan nó đi. 

"...Ôi lạy Chúa Giêsu, nguyên sự ước ao yêu Chúa đã gây êm dịu ngọt ngào đến thế, thì khi được yêu Chúa thật sự và yêu Chúa đời đời, sẽ còn hạnh phúc êm đềm chừng nào nữa?"


10. Quả tim hiếu hoà.

* Ngần ngại gì? Hãy cắt đứt xích xiềng ràng buộc con, dù là xiềng vàng, để tiến lên. Cuối đường có Chúa đón chờ con. (ĐHV 179)

Thánh Phanxicô Assisiô có tinh thần và cuộc sống rất nghèo khó. Ngài lại khiêm tốn, chỉ xin chịu chức phó tế không dám lãnh nhận chức linh mục. Nhưng dưới lớp áo và dáng vẻ thô sơ ấy che dấu một quả tim hơn vàng, một quả tim tốt đẹp lạ thường mà chúng ta có thể tìm hiểu phần nào trong "Kinh Hoà bình" của thánh nhân: 


11. Bầu nhiệt huyết của một sĩ quan.

* Không chịu theo ý Chúa, nhưng con đành làm nô lệ, theo ý riêng của người nọ người kia! (ĐHV 190)

* Quả tim và bổn phận? Phải chọn bên nào? Hãy chọn bổn phận và thực hiện với tất cả quả tim. (ĐHV 191)

Lúc quyết định lập Dòng Tên, Thánh Ignatiô Loyola đã lên núi Mont-Serrat, ở trong hang Hanrôse (Tây ban Nha) thinh lặng tĩnh tâm nhiều ngày để chuẩn bị toàn hiến cuộc đời cho Chúa. Ngài trao khí giới dưới bàn thờ Đức Mẹ, giả từ nếp sống binh nghiệp và bắt đầu thời kỳ tự tập nhân đức (1523). Năm 1534, trên ngọn đồi Montmartre (Pháp), ngài đã cùng chín người bạn cùng đồng chí hướng thuộc nhiều quốc tịch khác nhau đặt nền móng đầu tiên cho Dòng Tên. 

Với bầu nhiệt huyết nóng hổi của một cựu sĩ quan, Ignatiô đã quyết tâm trở thành một chiến sĩ can trường của Chúa. Tâm tình ấy biểu lộ trong một kinh mà các hướng đạo sinh khắp thế giới quen đọc: 


12. Ảnh hưởng của một con người thánh. 

Năm 1964, dịp Đại Hội Thánh Thể tại Bombay (Ấn Độ), Đức Thánh Cha Phaolô VI đã qua chủ lễ và chính thức thăm nhân dân Ấn độ. Ngài đã chiếm được quả tim mọi người, đa số theo Ấn giáo, Phật giáo và Hồi giáo, vì đã có một tâm hồn vô cùng quảng đại và tế nhị. Nhân dân Ấn nhắc đến ngài không ngớt, và gọi ngài là Gandhi của Tây phương. Họ còn nhớ mãi những nghĩa cử ngài đã làm trong chuyến viếng thăm ấy: như không dùng phi cơ riêng mà chỉ đáp máy bay của hàng không Ấn với tấm vé của một du khách thường, như tặng 5000 đô la cho gia đình của một phóng viên Ấn bị giết vì tai nạn xe cộ trên đường hành sự; như ngồi ăn chung trên một ghế băng với các cô nhi và với khẩu phần của chúng; như tặng nguyên chiếc xe hơi Lincoln (xe chính thức của ngài) cho Mẹ Têrêxa để rồi chỉ dùng một chiếc xe Jeep đi đây đi đó thăm viếng; như ký chi phiếu hơn 500 triệu francs để giúp cho các kẻ nghèo, như nhờ các phóng viên đăng tải lời kêu gọi các nước giàu có hãy để ra một phần ngân sách giúp đỡ các nước kém phát triển. Ngài chỉ qua Ấn hơn một tuần, nhưng để lại trong lòng dân Ấn nhiều kỷ niệm sâu đậm. Như các bác tài xế taxi nọ từ chối chạy trên một số đường vì theo lời bác nói, đó là đường thánh, bởi Đức Thánh Cha Phaolô VI đã đi qua. Như một bác tài xế khác, trong khi đi mua hơn 4000 chiếc gường và 4000 chiếc chăn với số tiền do Đức Thánh Cha gởi tặng các cô nhi của Mẹ Têrêxa, đã bị cảnh sát bắt vì lái xe vô một con đường ngược chiều. Được biết bác đang đi mua quà cho Đức Thánh Cha tặng kẻ nghèo, viên cảnh sát tha ngay không phạt nữa. 


_______________________

10. CHÍ KHÍ

1. Bát cơm bị vỡ.

* Đừng ham cãi vã sôi nổi, con sẽ ra mù quáng. Đam mê như mây mù, che khuất ánh sáng khôn ngoan của Thiên Chúa (ĐHV 210).

* Đừng đùng đùng quát mắng khi người khác có lỗi. Hãy nhẫn nại đợi chờ, với lời lẽ dịu dàng và tất cả ý ngay lành, con đạt nhiều kết quả hơn là chửi mắng nhau từng giờ. Thành công cho bản thân con và con chế ngự tính tình của con (ĐHV 217).

* Hãy quay lưng cho hạng người bất nhân, họ rỉ tai con: "Dại gì cho khổ cái đời!" Chúa Giêsu đã đuổi Phêrô: "Satan hãy cút đi!" (ĐHV 223).

Thánh Bênêđictô chào đời năm 480 tại Mercia. Trong thời kỳ đang mải mê theo đuổi việc học, ngài đã nhận ra thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa muốn ngài vào một khu rừng vắng ở Subiacô cách Roma 40 dặm để sống đời tịch liêu thân mật với Chúa. Và chính tại nơi đây, ngài đã lập nên đời sống Đan tu, sống cộng đoàn, chiêm niệm và lao động, một lối tu trì lúc đó chưa có ở Âu châu. Ngày nay, tại Subiacô, vẫn còn tất cả di tích của Tu viện nguyên thủy. 

Tiếng nhân đức của ngài đồn vang khắp nơi; nhiều kẻ đến xin dâng mình cho Chúa theo luật dòng của ngài đặt. Phần đông môn đồ đều hăng say, quảng đại; nhưng cũng có một số ít không chịu nổi, muốn ngài nới rộng luật đôi chút. Ngài cương quyết giữ vững lý tưởng tu trì. Thấy thế, ngày nọ, có kẻ lén bỏ thuốc độc vào bát thức ăn của ngài; nhưng lạ thay, lúc ngài làm dấu Thánh giá, tự nhiên bát thức ăn ấy vỡ ra. Các kẻ ác tâm kia vội quỳ gối thú lỗi.


2. Thiếu phụ can trường.

* Người chí khí biết thinh lặng. Ăn nói bừa bãi, thiếu suy nghĩ, gieo rắc chia rẽ, thủ đoạn đó là khí cụ của ma quỉ để hạ đức bác ái (ĐHV 204).

* Người chí khí không tọc mạch dòm ngó việc người khác, nhưng đem tất cả ý chí để biết mình rõ hơn (ĐHV 205).

* Đừng nói: "Tôi tự nhiên vậy, sửa sao được." Không, đó là những khuyết điểm, con phải "nên người", "nên con Chúa". Những tính ấy bất xứng với con (ĐHV 222).

- Bá tước Chantal đã tử nạn! Tin sét đánh ấy đập vào tai Gioanna Phanxica Chantal. Bà bàng hoàng đến ngất xỉu. Lại thêm một Thánh giá nặng trong đời của bà. Thánh giá thứ nhất Chúa gởi đến là cái chết của mẹ bà vào lúc bà chưa được hai tuổi. Bây giờ lại một Thánh giá thứ hai đúng lúc bà mới 28 xuân xanh. Tuy đau khổ trước cái chết của chồng, người thiếu phụ trẻ tuổi ấy vẫn can đảm, quyết ở vậy nuôi 4 con thơ và ôm ấp lý tưởng chỉ thuộc về Chúa. Chính lòng đạo đức, bác ái và chí khí của bà đã nâng đỡ bà trong cơn thử thách. Hành động sáng chói sau đây là một bằng chứng cụ thể: bà đã tình nguyện mang đứa con của kẻ bắn chết chồng mình đến nhà thờ chịu phép Rửa tội và làm mẹ đỡ đầu cho nó. 

Nhờ sự hướng dẫn của thánh Phanxicô de Sales, bà đã dâng mình vào dòng Thăm Viếng và đã hy sinh đóng góp rất nhiều để làm cho Dòng phát triển mọi mặt.


3. Một thông điệp bí mật.

* Người ích kỷ tránh trách nhiệm, tránh nhọc mệt, tránh hy sinh; họ muốn tạo hạnh phúc, tạo một "thiên đàng dành riêng" cho họ giữa trần gian, nhưng họ sẽ mất thiên đàng vĩnh viễn (ĐHV 196).

* Đừng cho khiếp nhược là khôn ngoan. Chính vì nhiều người còn ánh sáng "khôn ngoan" kiểu đó mà còn tối tăm chiếm đoạt nhiều môi trường họ không dám mơ ước (ĐHV 199).

* Chúa không sinh con để làm đàn cừu, đàn vịt, nhưng để lãnh đạo môi trường của con. Lãnh đạo là thúc đẩy, là lôi cuốn (ĐHV 214). 

Chế độ Phátxít cũng như thuyết phân biệt chủng tộc của Hitler, được quân đội và vũ khí che chở, đang trên đường bành trướng mãnh liệt, thì bỗng dưng phải một tường thành: tiếng nói bênh vực nhân quyền của Hội Thánh Công giáo.

Đức Thánh Cha Piô XI đã cương quyết nói lên tiếng nói của lương tâm và sự thật. Ngài bí mật cho ấn loát và đưa vào nước Đức một bức thông điệp lên án sự sai lạc và tàn ác của thuyết phân biệt chủng tộc cũng như của chế độ Phátxít Hitler. Một ngày chúa nhật nọ, bức thông điệp ấy được đọc lên trên khắp nơi toà giảng ở các nhà thờ thuộc lãnh thổ nước Đức, trước sự bàng hoàng và tức giận của Hitler cũng như của mật vụ Gastapa. Vì sự thật, Đức Piô XI cũng như toàn thể Giáo Hội Đức đã sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả, và hậu quả sau đó đã thực sự đến. Đức Piô XI bị thoá mạ. Nhiều Hồng Y, Giám mục, giáo sĩ cũng như giáo dân nổi tiếng của Giáo Hội Đức đã bị bắt. Nhưng lịch sử muôn đời sẽ còn khâm phục chí khí và ý thức sứ mạng của Đức Piô XI.


4. Đứa con yêu của tổ quốc.

* Lợi dụng quần chúng để tiến thân, không phải là tư cách người lãnh đạo. Con sẽ làm lãnh tụ xứng đáng nếu con không tránh quần chúng, nhưng tìm đến với họ và liều thân cứu họ (ĐHV 198).

* Va chạm người khác là sự thường. Sống một xã hội không va chạm nhau chỉ có thể là thiên đàng. Một hòn đá nhờ va chạm mà láng hơn, tròn hơn, sạch hơn, đẹp hơn (ĐHV 211).

* Thời giờ và sức lực là của Chúa, tại sao phí phạm vì những trở ngại dọc đường. Đại dương bao giờ cũng có sóng, thuyền cứ vững vàng lướt đi, không nghĩ gì đến sóng (ĐHV 220). 

Đức Cha Mannix, một Giám mục gốc Ái Nhĩ Lan (Irlande), đã được Toà Thánh cử sang làm Tổng Giám mục giáo phận Melbourne (Úc Đại Lợi). Trong thời kỳ Ailen tranh đấu với Anh quốc để giành lại độc lập, ngài có một thái độ rất quả cảm và một tiếng nói rất uy tín. Ngày nọ theo dự tính, ngài về thăm quê hương Ailen bằng tàu thủy; nhưng khi tàu vừa về đến gần Ailen thì chính phủ Anh quốc cho hải quân ra cản đường với pháp lệnh: "Tổng Giám mục Mannix không được đặt chân lên Ailen mà phải về Anh quốc. Hơn thế, dù ở Anh, Tổng Giám mục cũng không được lên vùng Tô Cách Lan (Scotland) là nơi có nhiều người gốc Ái Nhĩ Lan đang ở". Trước lệnh đó, Đức Cha Mannix trả lời: "Không được lên Tô Cách Lan thì tôi sẽ lên một tỉnh gần Tô Cách Lan vậy". Sau đó, ngài đã đến New Castle, một tỉnh gần Tô Cách Lan và các nơi khác đều tựu về New Castle để nghe ngài diễn thuyết về bổn phận của người Công giáo đối với nền độc lập của Tổ quốc. Cuộc diễn thuyết thành công không thể tưởng tượng. Các báo chí đăng tải những bài diễn thuyết của ngài sang đến tận Ái Nhĩ Lan, gây nên một bầu khí sôi nổi trong mọi tầng lớp dân chúng. 

Một thời gian sau, Ailen giành lại được độc lập nhưng vẫn lệ thuộc một phần vào Anh quốc. Trong Hiến pháp có ghi một điều khoản buộc Quốc trưởng hay Thủ tướng Ái Nhĩ Lan trước khi nhậm chức phải tuyên thệ bảo vệ Anh giáo (Tin lành) và trung thành với Nữ hoàng Anh là người đứng đầu Anh giáo. Trước điều khoản ấy, phần đông các vị Giám mục Ái Nhĩ Lan đều bảo: "Người Công giáo không được tuyên thệ như vậy".

Mà chúng ta biết tại Ailen, 95% dân chúng là người Công giáo, nên các Thủ tướng được bầu lên là người Công giáo, nhưng sau đó ai cũng phải từ chức và nhường ghế thủ tướng cho một ứng cử viên tin lành vì thấy không thể tuyên thệ như hiến pháp đòi buộc. Liên tiếp mấy nhiệm kỳ, các dân biểu Công giáo trong Quốc hội cảm thấy rất phân vân giữa hai điều phải lựa chọn: tuyên thệ thì mắc lỗi, không tuyên thệ thì thiệt thòi cho Tổ quốc. 

Đến một nhiệm kỳ kia, ông Edmond de Valera được bầu lên. Lúc ấy, một bức điện tín từ Úc Đại Lợi đánh sang cho Quốc hội Ailen, nội dung gọn lỏn: "Khi ta tuyên thệ mà nước Anh biết là ta sẽ không giữ lời, thì được phép tuyên thệ! Ký tên: Tiến sĩ Mannix". Theo lời khuyên, ông Edmond de Valera đã tuyên thệ. Trên ghế Thủ tướng ông đã ra sức hoạt động cho Ái Nhĩ Lan được độc lập hoàn toàn... và quốc hội đã nhất trí bỏ phiếu xoá hẳn điều khoản trên ra khỏi Hiến pháp.


5. Tiếng nói của lương tâm. 

* Người chí khí có tinh thần hy sinh, như viên đường, hạt muối! Chấp nhận tan biến để làm cho thức ăn có mùi vị ngon lành mà không khoe khoang (ĐHV 201).

* Người chí khí có tâm hồn ngay thẳng và cảm thấy đê nhục khi bươi móc việc kẻ khác hoặc sống quanh co (ĐHV 202). 

Trước sự đàn áp Tôn giáo một cách khoa học và dã man của Mao trạch Đông, Đức Cha Kỳ Ân đã can đảm đọc trên toà giảng nhà thờ chính toà Thượng Hải một bài diễn thuyết nói rõ lập trường đúng đắn của Hội Thánh và của chính ngài. Trong bài ấy có câu: "Nếu có hai linh hồn, tôi có thể hy sinh một, nhưng bởi chỉ có một linh hồn, một lương tâm, nên tôi không thể hy sinh nó với bất cứ giá nào cả... Bản thân tôi có linh hồn và thể xác, linh hồn tôi xin phó thác cho Chúa, hiến dâng cho Hội Thánh, còn thể xác tôi xin trao tặng Tổ quốc..." 

Vì trách nhiệm, vị Tổng Giám mục Thượng Hải đã nói lên tất cả sự thật, dù quá biết những cái chi đang chờ đợi ngài. Ngài sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả. Và thật thế, hai ngày sau, ngài bị bắt và mất tích cho đến hôm nay.


6. Ở tù trong Chúa.

* Trước trở ngại, con hãy đứng vững như một tên khổng lồ. Ơn Chúa không thiếu. Nếu con phải hạn chế hoạt động một thời gian, có cần gì đâu! Việc con làm là việc của Chúa, hơn là việc của con (ĐHV 219).

* Chiếu sáng đời con bằng đức tin và đức ái. Đốt cháy thế gian với ngọn lửa Chúa đặt trong tim con (ĐHV 226).

* Làm thế nào mà tư tưởng, ngôn ngữ, hành động con khiến người ta phải phản ứng: Con người này đã say mê một cuốn sách: PHÚC ÂM, đã bị lôi cuốn bởi một lý tưởng: CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU (ĐHV 227). 

Trong thời gian bị cầm tù, mục sư Wurmbrand người Roumanie phải ở dưới một cái hầm tối tăm, lạnh lẻo. Khổ hơn nửa là phải ăn uống và làm mọi việc vệ sinh tại chỗ! Các bạn tù với ông la lết trong đó, cuối tuần mới được phép quét dọn. Ông đã chịu lắm nhục hình. Có lần lính gác bắt ông ăn phân, ông xin được phép ăn phân của mình nhưng họ không chịu, bắt phải ăn phân của người khác. 

Suốt 17 năm tù ngục như thế, mục sư Wurmbrand vẫn kiên trì, dũng cảm, trước sau như một. Ông luôn hăng hái phục vụ các bạn tù, động viên tinh thần họ, cư xử với mọi người trong tâm tình bác ái, yêu thương. Bí quyết của ông: Tôi đang ngồi tù với Chúa. (Sau khi được trả tự do, ông cho xuất bản một cuốn sách được dịch sang tiếng Pháp, nhan đề: "Mes prisons avec Dieu".)


7. Cậu bé can đảm. 

* Con phải tập "biết từ chối", "biết nói không" (ĐHV 224). 

* Nghiêm trang và vững vàng, cử chỉ bên ngoài phải chiếu dọi tâm hồn bên trong: tâm hồn bình an, tự chủ của con, không trẻ nít lúng túng hồi hộp (ĐHV 228). 

Thời Cách mạng Pháp, Giáo Hội bị bách hại dữ dội. Một hôm cha xứ Bretagne cải trang đến dâng lễ tại một gia đình đạo đức trong xứ, là gia đình của cậu Benjamin. Cậu bé rất sung sướng vì đây là lần đầu tiên cậu được giúp lễ, cậu theo cha xứ đi đưa Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Bỗng có tiếng xì xào... một toán lính đang tiến lại... Cha xứ vội trao Mình Thánh Chúa cho cậu Benjamin rước, dù cậu chưa được rước lễ vỡ lòng! Cha cũng trao cho cậu giữ luôn cả Mặt Nhật, rồi cả hai chia tay nhau, mỗi người chạy một ngả. Vì còn nhỏ, chạy yếu, Benjamin bị toán lính bắt được. Một lát sau, cha xứ cũng bị bắt. Chúng tra hỏi cha: "Mày cất dấu Mình Thánh Chúa ở đâu? Cha một mực im tiếng. Tức giận, chúng bắn cha chết tại chỗ. Lục soát một hồi cũng chẳng thấy Mình Thánh Chúa đâu, chúng liền quay sang Benjamin: "Chắc chắn mày đang giữ Mình Thánh Chúa, đưa ngay cho tụi tao kẻo thiệt mạng", Benjamin vừa can đảm vừa ngây thơ trả lời:

- Mình Thánh Chúa tôi đang còn giấu... 

- Ở đâu? 

-...trong lòng tôi, các ông mổ ra mà lấy!" 

Điên tiết, bọn lính giết liền Benjamin tại chỗ, bên một cây sồi cổ thụ. Mấy năm sau, Giáo Hội Pháp được bình yên trở lại. Một cơn bão làm đổ cây sồi cổ thụ. Dưới gốc cây bị trốc lên, người ta tìm thấy hai xác: trên xác cậu bé, Mặt Nhật còn đó, sáng ngời.


_______________________

11. CHÚA HIỆN DIỆN

1. Nhà tạm Cựu Ước. 

* Chúa hiện diện không phải là lý thuyết. Chúa là Cha, ở bên con, với tất cả quyền năng và tình yêu. Cha năn nỉ, Cha khuyên bảo, mời gọi, trách móc, tha thứ và luôn luôn yêu thương (ĐHV 234).

Trong suốt 40 năm trường phiêu cư trong sa mạc, Nhà Tạm là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với dân Israel mà đại diện là Môisen và Aaron. Cứ mỗi lần Môisen vào Nhà Tạm thì cột mây buông xuống, đứng lại nơi cửa và Môisen cùng với Thiên Chúa đàm đạo với nhau, diện đối diện như bằng hữu thân thiết, trong lúc bên ngoài thì dân chúng ai ở lều nấy, cúi mình phục lạy. Hai ông thường vào đó để nhận lệnh Chúa hoặc cầu bầu thay cho dân. Lần kia, Côrê, Đatan và Abiran cấu kết với 250 người khác nổi lên làm phản. Hai ông liền vào Nhà Tạm cầu nguyện và mặt đất liền nứt ra nuốt những kẻ nổi lên chống lại các vị đại diện Chúa.


2. Đền thờ Giêrusalem.

* Ở lầu son gác tía, hay lều tranh vách đất con không lo, miễn là con luôn luôn cho nhà ấy đáng yêu thương, lúc ấy biến thành thiên đàng vì có Chúa (ĐHV 246). 

Đó là một Thánh đường nguy nga, với những dãy cột đồ sộ bằng cẩm thạch muôn màu óng ánh; những cây cột này được dát vàng trên chóp và đỡ nâng một mái lớn cũng dát vàng. 

Sau khi đi qua một khu đất gồm nhiều dãy hành lang rất đẹp, ta phải leo lên một cái thang 10 cấp rồi qua một trong chín cửa (trong đó cửa Đẹp là cửa chính, tương tự như Ngọ Môn ở thành nội Huế) để vào sân phụ nữ. Qua sân phụ nữ, bước lên mấy bậc, ngang qua cửa Nicaner lộng lẫy, ta sẽ vào tiền đường Israel rộng 300 thước vuông, chứa được 1000 người. Tiến vào trong nữa là Sân các tư tế. Từ sân ấy, leo lên 12 bậc nữa là tới Nội điện. Trong thâm cung nội điện, chìm mờ trong ánh sáng vàng nhạt là một căn phòng hình chữ nhật dài 20 thước, rộng 10 thước. Đây là Cung thánh, giữa nổi lên một bàn thờ bằng vàng, ngày đêm nghi ngút khói hương. Bên hữu bàn thờ, một chân nến bằng vàng 7 ngọn cung kính dâng, đối diện với một cái bàn nhỏ dát vàng ở bên tả, trên có 12 chiếc bánh không men tượng trưng 12 chi tộc Israel. 

Cung thánh là nơi tôn nghiêm thánh thiện chỉ có chủ tế được vào mỗi ngày hai lần để dâng hương, ngoài ra không ai được lai vãng. Nhưng chính trong cung thánh còn một nơi tôn nghiêm hơn nữa, quen mệnh danh là nơi Cực Thánh. Một tấm màn lớn mỗi bề sáu thước ngăn Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh này. Xưa kia, đây là chỗ đặt Hòm Bia và cây gậy nở hoa của Aaron; bây giờ chỉ còn trơ lại một phiến đá đã dùng làm bệ đỡ. Ngoài ra không còn đồ vật nào khác. Vì nó biểu hiệu nơi Đấng Tối Cao ngự trị một cách đặc biệt, nơi chỉ mình vị Thượng tế mới được diễm phúc mỗi năm một lần vào đó để tế lễ mà thôi.


3. Như thấy Chúa hiện diện. 

* Chúa hiện diện bên con, không phải chỉ là một tâm tình, nhưng Chúa phải chiếm hữu cả con người con, hướng dẫn, yêu thương, an ủi con (ĐHV 241). 

Tất cả những ai đã từng được thấy Đức Piô XII trong các cuộc lễ ở đền thờ Thánh Phêrô hay các buổi triều yết chung riêng, đều đồng thanh xác nhận rằng: "Chúng tôi có cảm giác như người đang thấy Chúa hiện diện."


4. Niềm an ủi trong chốn lao tù. 

* Một hồi chuông, một ngọn tháp nhắc nhở con: Chúa đang ở trong Nhà Tạm gần con, lòng con nóng nảy, hướng đến thờ lạy yêu mến Chúa (ĐHV 233). 

* Hãy nhờ Đức Mẹ đưa con đến với Chúa Giêsu, con sẽ quen sống bên Chúa (ĐHV 240). 

Linh mục Scheider, thuộc Dòng "Ngôi Lời" ở Trung Quốc, sau làm Giám đốc trường Thánh Phêrô tại Roma, có thuật lại rằng: "Lúc bị giam tù ở Thượng Hải, chúng tôi biết cách trại giam vài trăm thước có Dòng Carmêlô, và ai trong chúng tôi cũng xem đó là nguồn an ủi lớn lao nhất đối với chính mình, vì chúng tôi tin có Chúa Giêsu Thánh Thể đang hiện diện ở đó. Chúng tôi luôn hướng về nơi ấy để cầu nguyện và tế lễ với Chúa suốt thời gian bị giam giữ".


5. Nhìn qua khe cửa. 

* Năng đặt tay trên lòng và bảo con: "Chúa ở với tôi, trong tôi." Dần dần Chúa sẽ cho con nếm hạnh phúc ấy (ĐHV 230). 

* Tại sao người Kitô hữu than van mình cô đơn? Chúa Kitô của họ ở đâu? (ĐHV 237). 

Thánh Phanxicô Salêsiô có một người bạn chí thân là Đức Cha Camus. Lần nọ, Đức Cha Camus đến nghỉ hè với Thánh nhân một thời gian khá lâu. Lúc về, vị Giám mục phát biểu: “Trước đây, tôi nghe Đức Cha Phanxicô Salêsiô hằng luôn sống trước mặt Chúa như thể Chúa luôn luôn hiện diện bên ngài, nhưng tôi vẫn chưa tin. Tiện dịp, tôi xin đến nghỉ nhà ngài để tự mình kiểm chứng. Nhờ chiếm được một phòng cạnh phòng ngài đêm ngày tôi đã quan sát mọi thái độ, mọi cử chỉ của ngài qua một khe hở: lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngủ, lúc viết lách cũng như lúc cầu nguyện... Nay tôi xác nhận rằng: ngài hằng sống trước mặt Chúa. Ngài ở một mình nhưng có Chúa hiện diện bên ngài luôn”.


6. Tôi đã thấy Chúa trong một con người.

* "Chúa ở đâu?" - "Chúa ở trên trời" - Đó là câu trả lời của trẻ em, đó là một thiếu sót lúc dạy giáo lý. "Chúa ở trong con", sung sướng, gần gũi, xác đáng biết bao! (ĐHV 231). 

* Hãy sống bên Chúa, và con sẽ nên thánh, thiên đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện (ĐHV 242).

Trong cuộc điều tra để phong thánh cho linh mục M. Vianney, Toà án Hội Thánh đã cho mời tất cả những ai đã từng có dịp tiếp xúc với thánh nhân đến đặt tay trên Phúc Âm và thề nói hết sự thật hay cũng như dở về ngài. Trong số các nhân chứng được mời đến, có một bác nhà quê chất phác nói một câu đơn sơ, vắn tắt mà đầy ý nghĩa: "Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người."


7. Chúa là của con. 

* Chúa Giêsu là tất cả của con: là cùng đích các ý hướng, là lý do các quyết định, là động lực các tình cảm, là mẫu gương các hành động của con (ĐHV 235). 

* Chúa Ba Ngôi ở trong con, con trở nên đền thờ Chúa, con cũng là của lễ toàn thiêu, con là lời ngợi khen không ngừng, con là đóa hoa muôn sắc dâng lên Chúa. (ĐHV 244). 

Thánh Phanxicô Assisiô đã từ bỏ mọi sự, chọn nếp sống khó nghèo để theo Chúa. Một đêm mùa đông kia, ngoài trời đầy tuyết lạnh, ngài được Chúa cho cảm nghiệm một cách thấm thía về Chúa đang hiện diện trong ngài. Quá sung sướng, ngài quên tất cả rét lạnh, lăn lóc trên tuyết suốt đêm và chỉ lặp đi lặp lại một câu: "Chúa là của con, là tất cả mọi sự của con!" = Deus meus et omnia.


8. Không còn chỗ núp. 

* Từng ngàn bệnh nhân trong nhà thánh Cottolengo có một nét đặc biệt trên khuôn mặt, lâu lâu máy vi âm lại dịu dàng nhắc: "Chúng ta đang ở bên Chúa!" (ĐHV 232). 

* Đối với Thiên Chúa, lương tâm đã đủ; đối với con mắt người đời, cần cả khôn ngoan, vì mắt họ không nhìn thấu lương tâm con (ĐHV 239). 

Một thiếu nữ trắc nết nọ đến cám dỗ một thánh nhân phạm tội với mình. Ngài bảo: "Được lắm, ta hãy kiếm nơi nào kín đáo đi". Cô dẫn ngài vào một căn phòng và khoá cửa lại. Ngài bảo: "Đây tôi sợ cũng chưa được kín đáo". Cô lại đưa ngài đến một căn phòng khác có một lối vào cong queo lại thêm hai lớp cửa thật là vững chắc. Ngài nói: "Tôi vẫn còn ngại, chỗ này cũng chưa kín đủ, với lại nhỡ có ai đột nhập thì làm sao thoát nạn!" Cô lại đưa ngài lên tầng lầu cao nhất, chỗ kín đáo bí mật nhất, lại có hệ thống báo động và nhiều lối thông thương, chuồn đi rất dễ. Cô bảo: "Như thế này thì thật là cẩn mật!!! muốn thấy đã là điều không thể, huống nữa là đi vào!" Lúc ấy thánh nhân mới dốc bầu tâm sự ra: "Cô ơi, không có chỗ nào kín cả!". Cô ta trố mắt ngạc nhiên nhìn ngài. Ngài nói tiếp: "Làm sao ta che mắt Thiên Chúa được? Ngài là Đấng thấu suốt mọi sự, cô không biết sao?" Rồi ngài khuyên răn, dạy dỗ cô gái. Về sau cô trở thành người đạo đức, có lòng sám hối sâu xa...


_______________________

12. HỘI THÁNH

1. “Vì Hội Thánh, vì Hội Thánh!”

* Mỗi khi có ai tỏ ý lo sợ Ngài đau khổ, nhọc mệt, Đức Phaolô VI luôn luôn trả lời: "Vì Hội Thánh! Vì Hội Thánh!" Con hãy sống và trả lời như vậy (ĐHV 247).

* Phân biệt vấn đề thần học lịch sử và vấn đề khả năng; Đức Giáo Hoàng không buộc phải là người có nhiều khả năng hơn cả, nhưng bất cứ ai là người Chúa chọn và trao quyền thì con vâng phục vì Chúa "giao chìa khóa Nước Trời" cho người ấy (ĐHV 255).    

* Con hãy sẵn sàng hy sinh cho Hội Thánh và hy sinh do Hội Thánh (ĐHV 265).  

Trong một bữa cơm thân mật, có người hỏi Đức Ông Polgallo:

- Đức Ông là người thân cận Đức Thánh Cha, vậy có điều gì nơi Đức Thánh Cha đánh động Đức Ông hơn cả?   

- Dĩ nhiên Đức Thánh Cha Phaolô VI là một vị Giáo Hoàng rất thông minh và thánh thiện. Nhưng riêng tôi, điều làm cho tôi cảm kích hơn cả nơi ngài là lòng ngài muốn hy sinh vì yêu Hội Thánh. Mỗi khi hòa mình vào đám đông ở Bombay, ở Manilla chẳng hạn, hầu như ngài quên tất cả. Ngài để cho mọi người lôi kéo. Chúng tôi những kẻ có nhiệm vụ bảo vệ ngài, phải lắm phen cực nhọc... Nên những lúc thân mật cha con, chúng tôi vẫn thưa với ngài: "Thưa Đức Thánh Cha, chúng con thấy Đức Thánh Cha vất vả quá, với muôn ngàn lo âu, thức khuya dậy sớm, lắm phen nguy hiểm đến tính mạng. Đức Thánh Cha để cho đám đông lạ mặt lôi kéo mình như thế, chúng con ngăn cản bảo vệ không nổi. Xin Đức Thánh Cha giữ gìn sức khỏe cho". Nhưng mỗi lần như thế, ngài đều đáp lại với chúng tôi như một điệp khúc nhỏ nhẹ, dịu dàng: "Tất cả vì Hội Thánh! Vì Hội Thánh!" Nhiều khi chúng tôi mệt lả, ngao ngán, nhưng nhớ đến câu nói của ngài, chúng tôi phải vươn lên theo ngài, không thể bỏ ngài, và cảm phục kính mến ngài hơn!


2. Hội Thánh của Chúa.

* Nhiều người chê cách tổ chức của giáo triều La Mã. Tôi đồng ý rằng giáo triều La Mã không trọn lành, nhưng tôi xin họ xem thử chính nước họ có hoàn hảo hơn không? Hơn thế, còn phải phân biệt, giáo triều là một cơ quan, không phải là Hội Thánh (ĐHV 252).        

* Yêu mến Hội Thánh, vâng lời Hội Thánh, trung thành với Hội Thánh, cầu nguyện cho Hội Thánh (ĐHV 253).       

* Có người hễ nghe nói đến Hội Thánh là chỉ trích giáo triều ù lì, nhà thờ tốn tiền, nghi thức rườm rà... Hội Thánh đâu phải giáo triều, nhà thờ, nghi thức, hiểu như thế là sai lạc quá! Hội Thánh là toàn thể dân Chúa đang tiến về Nước Trời (ĐHV 254).   

Từ ngày thành lập đến nay, Hội Thánh hầu như liên lỉ gặp những thử thách bên trong cũng như bên ngoài.         

Thử thách bên trong: hết lạc thuyết này đến lạc thuyết khác nổi lên, hết ly giáo này đến ly giáo nọ xuất hiện:       

- Ariô: Năm 321, linh mục Ariô giảng dạy rằng: Chúa Kitô chỉ có một Bản tính, là Bản tính loài người thôi. Quả là sai lạc! Vì thế, năm 325, Công đồng Nicêa đã được triệu tập và công bố một bản tuyên xưng đức tin khẳng định rằng: "Chúa Kitô là Thiên Chúa thật, đồng Bản tính (consubstantialis) với Đức Chúa Cha". 

- Nestôriô: là Thượng phụ Giáo chủ thành Constantinôpôli, Nestôriô chủ trương rằng: Đức Giêsu Kitô có hai Ngôi vị là Ngôi vị Thiên Chúa và Ngôi vị loài người, nên Đức Maria chỉ là mẹ của một con người chứ chẳng phải là Mẹ của Thiên Chúa. Vì thế năm 431, một Công đồng chung nhóm họp ở Êphêsô đã cất chức Nestôriô, kết án mười hai luận đề của ông và khẳng định: Maria là Mẹ của Thiên Chúa (Thêotokos). Đến ngày 22 tháng 6 năm đó, kinh "Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội" ra đời. Công đồng Êphêsô còn khẳng định thêm: Chúa Kitô chỉ có một Ngôi vị và hai Bản tính.    

- Otykô: Chưa hết, một Đan viện phụ ở Constantinôpôli, đối thủ của Nestôriô, lại đi quá trớn mà quả quyết rằng: Ngôi Lời kết hợp chặt chẽ với nhân tính đến nỗi chỉ còn một bản tính duy nhất là Thiên tính thôi, khiến Công đồng Calcêđônia, năm 451, phải tái khẳng định: Chúa Kitô có hai Bản tính.       

- Phêcius: Nhưng từ đời Thượng phụ Phêcius (891), do nhiều nguyên nhân tâm lý, địa dư, chính trị, não trạng, Giáo Hội Đông và Tây phương đã dần dần tách xa nhau và đến thời Thượng phụ Micae Xêrulariô (1054) thì ly khai nhau hẳn; tất cả các giáo đoàn thuộc nghi thức Hy-lạp đều theo họ, lập ra Chính Thống giáo. Ly giáo này không nhận quyền tối thượng thẩm và ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng Roma.            

Đến thế kỷ XIV, XV ở bên Tây phương, các vua chúa lại nhúng tay vào nội bộ của Hội Thánh. Lúc nào họ cũng tìm cách đặt con cháu mình vào chức vụ Giám mục hoặc Đan viện phụ để vây cánh thêm mạnh mẽ và nhất là để hưởng bổng lộc của nhà Dòng, nhà Chung. Phần đông các Giám mục và Đan viện phụ ấy chỉ sinh hoạt ở triều đình, mỗi năm về địa phận hay đan viện vài lần để thu hoạch hoa lợi. Do đó đời sống tu trì sinh ra nguội lạnh, sút kém; hàng giáo sĩ thì không được đào luyện cho đủ khả năng đạo đức.

Các vua chúa còn dùng cả ảnh hưởng của mình để tranh ngôi Giáo Hoàng nữa. Có những thời kỳ vô cùng đen tối: Trong Hội Thánh có hai Giáo Hoàng, không biết ai giả ai thiệt (thế kỷ 14, 15). Hay mấy chục năm liền, các Giáo Hoàng về ở tại Avignon, phải bỏ thành Roma hoang vắng, lạnh lẽo. Giáo sử gọi thời kỳ này là "thế kỷ sắt".       

Sang thế kỷ XVI, Hội Thánh lại gặp một cơn khủng hoảng về Đức tin rất trầm trọng. Nhiều nơi chủ trương theo Giáo Hội Tin lành, không thông hiệp hoặc cấm thông hiệp với Đức Giáo Hoàng, như các giáo phái:   

- Luthêrô (1483-1546): ông là thầy Dòng Augustinô, người Đức, tính tình hung bạo cứng cổ, nhưng rất thông minh, làm giáo sư luân lý và Kinh Thánh. Vốn sẵn tính bi quan lại bị lương tâm bối rối hành hạ, Luthêrô đưa ra lạc thuyết: Bản tính loài người sau nguyên tội đã ra bại hoại nên mọi hành động đều xấu xa tội lỗi. Muốn được cứu rỗi, chỉ cần tin vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, còn mọi cố gắng để lánh tội và tập nhân đức đều vô ích. Nên năm 1521, Đức Lêô X đã ban hành Tông hiến "Decet Romanum Pontificem" kết án và tuyệt thông Luthêrô.  

- Zwingli (1484-1531): Đồng thời với Luthêrô ở Đức, Ulrich Zwingli người Thụy sĩ xây dựng lạc thuyết của mình dựa trên quan niệm: ý muốn của Thiên Chúa chỉ được biểu hiện trong Thánh Kinh. Ông từ chối Thánh truyền và các luật lệ của Hội Thánh, khởi xướng lý thuyết Giáo Hội Quốc gia Dân chủ.          

- Calvinô (1509-1564): Calvinô cũng chủ trương con người hoàn toàn xấu xa và chỉ chấp nhận hai Bí tích: Rửa tội và Bí tích Thánh Thể. Suốt mười mấy năm liền, ông tổ chức Giáo hội Tin lành ở Thụy sĩ và sau đó đã lan truyền sang các nước Đức, Thụy điển, Ý, Pháp...

- Anh Giáo: Vì say mê cô hầu Anne de Boleyn, Vua Henri VIII nước Anh đã muốn ly dị vợ chính là Catharine xứ Aragon. Đức Thánh Cha Clêmentê VII không chấp nhận cuộc toan tính ấy. Nổi tức, Henri bèn lập ra Giáo hội quốc gia, phủ nhận quyền của Đức Giáo Hoàng. Đến đời vua Edouard VI (1558-1603) thì họ hoàn toàn ly khai Giáo Hội. Năm 1583, Nữ hoàng Êlisabeth tuyên bố chiếu chỉ: "Một tôn giáo duy nhất": Anh giáo được thành lập.  

Trong thời kỳ này, có thể nói Hội Thánh phải hứng chịu một "cơn bắt đạo lạnh". Các vua chúa đã có những thái độ khắc nghiệt như:          

* Tịch thu nhà thờ và tài sản của Hội Thánh Công giáo mà trao cho Tin lành.        * Giết chết, trục xuất những ai không bỏ Công giáo mà theo Anh giáo, kể cả các vị có chức lớn trong nhà nước như Thánh Thomas More (chưởng ấn), Hồng Y Gioan Fisher.  

* Người Công giáo không được giữ một số chức vụ cao cấp như Thủ tướng, tướng lãnh quân đội.       

Đến thế kỷ XIX, XX lại nổi lên những lạc thuyết như: Duy lý, Cải tân với Renau, Loisy... Thời đại hôm nay lại xuất hiện thêm thuyết Tục hoá, những khủng hoảng quyền bính, sự ra đi của nhiều linh mục, tu sĩ.

Nếu là một tổ chức trần thế thì qua bao nhiêu biến cố "tự hủy diệt" như trên, chắc Hội Thánh đã sụp đổ từ lâu rồi. Nhưng cứ mỗi lần có lạc thuyết nỗi lên, Chúa lại cho xuất hiện nhiều người đứng lên bênh vực Hội Thánh: Trong mấy thế kỷ xác định giáo thuyết ban đầu thì có thánh Augustinô (354-430), thánh Basiliô (329-379), thánh Grêgôriô Nazian (325-390), thánh Hilariô (315-369), thánh Athanasiô (295-373)...Những lúc thế quyền vật chất lan tràn vào cung thánh để lủng đoạn thì Thiên Chúa lại sai thánh Đa Minh (1170-1221), thánh Phanxicô Assisiô (1182-1226), thánh Bênađô (1090-1153) nêu gương sống khó nghèo, cầu nguyện để thức tỉnh.        

Lúc nhiều bậc vị vọng trong Hội Thánh chỉ đi lại với triều đình vì thuộc dòng dõi của vua chúa, bỏ rơi đám dân nghèo, thì Chúa lại sai thánh Vinh Sơn đệ Phaolô (1581-1660) lập Dòng Bác Ái chăm sóc người cùng khổ, thánh Gioan Lasan (1631-1719) lập Dòng Sư huynh dạy dỗ các trẻ bần dân, và thánh Gioan Thiên Chúa (1495-1550), thánh Camillô Lellis (1550-1614) phục vụ kẻ bệnh hoạn tật nguyền.