Suy Niệm Mùa Phục Sinh

Lawrence Nguyễn H Cường sưu tầm

Nguồn: vntaiwan.catholic.org.tw

Lễ kính nhớ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh (Thứ Hai sau CN Lễ Hiện Xuống)

Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích về việc cử hành lễ kính nhớ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh.

Roma (WHÐ 25-03-2018) - Ngày 03 tháng 03 năm 2018, Toà thánh đã công bố Sắc lệnh của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích - ký ngày 11 tháng 2 năm 2018, ngày kính nhớ Ðức Mẹ Lộ Ðức - về việc cử hành trong lịch chung Rôma lễ kính nhớ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, và cử hành hằng năm vào ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, theo lịch chung của Giáo Hội.

Sau đây là bản dịch Việt ngữ toàn văn Sắc lệnh, cùng bản văn phụng vụ với các bài đọc, và bài đọc II Giờ Kinh Sách của lễ này; bản dịch tiếng Việt của Uỷ ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

* * *

Sắc Lệnh

về việc cử hành trong lịch chung Rôma

lễ kính nhớ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh

Trong Hội Thánh hiện nay, việc hân hoan dâng lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa, dưới ánh sáng của những suy tư về mầu nhiệm Chúa Kitô và về bản tính của chính Hội Thánh, luôn phải nhắc đến hình ảnh của một người nữ (x. Gl 4,4): Ðức Trinh nữ Maria, Ðấng vừa là Mẹ của Chúa Kitô vừa là Mẹ của Hội Thánh.

Ðiều này đã được khơi lên trong suy tư của Hội Thánh từ những gợi ý của thánh Augustinô và thánh Lêô Cả. Theo thánh Augustinô, Ðức Maria là mẹ của các chi thể Chúa Kitô, vì Mẹ đã yêu thương cộng tác vào việc tái sinh các tín hữu trong Hội Thánh; theo thánh Lêô, khi Ðầu được sinh ra thì toàn thân thể cũng được sinh ra, vì thế Ðức Maria vừa là mẹ của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, vừa là mẹ của các chi thể trong nhiệm thể Người chính là Hội Thánh. Ðây là những khẳng định liên quan đến tư cách Thánh Mẫu của Ðức Maria và sự kết hợp mật thiết của Mẹ với công trình của Ðấng Cứu thế, đạt đến cao điểm trong giờ hy tế thập giá.

Bên chân thập giá (x. Ga 19,25), Mẹ đã đón nhận lời trối đầy yêu thương của Chúa Giêsu Con Mẹ, và nơi người môn đệ được Chúa sủng ái, Mẹ đã tiếp nhận mọi người như những người con phải được tái sinh vào đời sống thần linh, và như thế, Mẹ đã trở nên người mẹ từ ái của Hội Thánh đã được tác sinh trên Thánh giá khi Chúa Kitô trao ban Thần Khí. Trong khi đó, cũng nơi người môn đệ yêu dấu, Chúa Kitô muốn tất cả các môn đệ thay mặt Người thể hiện tình yêu thương đối với Ðức Maria, Người trao gửi để họ đón nhận Mẹ trong tâm tình thảo hiếu kính yêu.

Như một người hướng dẫn tận tâm của Hội Thánh vừa được thiết lập, Ðức Maria bắt đầu sứ mạng làm mẹ khi hiện diện với các Tông đồ nơi phòng Tiệc ly, cùng cầu nguyện đợi chờ Chúa Thánh Thần (x. Cv 1,14). Trong tâm tình đó, suốt bao thế kỷ, nền đạo đức Kitô giáo đã tôn vinh Ðức Maria với những tước hiệu khác nhau, mang ý nghĩa tương tự nhau, chẳng hạn Mẹ các môn đệ, Mẹ các giáo hữu, Mẹ các tín hữu, Mẹ của tất cả những kẻ được tái sinh trong Chúa Kitô, và "Mẹ của Hội Thánh", tước hiệu này đã xuất hiện trong những tác phẩm của các tác giả tu đức cũng như trong các văn kiện Huấn quyền của Ðức Bênêđictô XIV và Lêô XIII.

Vào ngày 21 tháng 9 năm 1964, khi bế mạc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II, Ðức chân phước Giáo hoàng Phaolô VI đã dựa vào những yếu tố nói trên như cơ sở nền tảng để công bố Ðức Trinh Nữ Maria là "Mẹ của Hội Thánh, nghĩa là Mẹ của toàn thể các Kitô hữu, giáo dân cũng như mục tử, những người vẫn gọi Mẹ là Mẹ vô cùng nhân ái", và Ðức Giáo hoàng xác lập việc "toàn thể đoàn dân Kitô giáo từ nay phải luôn gia tăng lòng tôn kính đối với Mẹ Thiên Chúa dưới tước hiệu vô cùng dịu ngọt ấy".

Trong Năm Thánh Hòa giải 1975, Tòa Thánh đã biên soạn và đưa vào Sách Lễ Rôma bản văn lễ ngoại lịch kính Ðức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh; tước hiệu này cũng được thêm vào Kinh cầu Ðức Mẹ (1980), một số bản văn khác cũng được phổ biến trong tập sách các lễ kính Ðức Trinh Nữ Maria (1986). Theo ý thỉnh nguyện, lễ này đã được phép ghi vào lịch riêng của một số quốc gia, giáo phận và hội dòng.

Ðức Giáo hoàng Phanxicô, sau khi thận trọng cân nhắc hiệu quả của việc sùng kính này có thể giúp nâng cao cảm thức làm mẹ của Hội Thánh, đồng thời cũng gia tăng lòng tôn kính Ðức Mẹ nơi các mục tử, tu sĩ và các tín hữu, đã quyết định đưa vào lịch chung của Hội Thánh Rôma, lễ nhớ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, được cử hành hằng năm vào ngày thứ Hai sau lễ Hiện xuống.

Việc cử hành lễ này sẽ giúp chúng ta nhớ rằng, sự tăng trưởng của đời sống Kitô hữu phải luôn gắn kết với mầu nhiệm Thánh Giá, với hy tế của Chúa Kitô nơi bàn tiệc Thánh Thể cũng như với tâm tình hiến dâng của Ðức Trinh Nữ, Mẹ của Ðấng Cứu thế và của những người được cứu chuộc.

Lễ nhớ này phải được ghi trong lịch và sách phụng vụ để cử hành Thánh lễ và Phụng vụ Giờ kinh. Bản văn phụng vụ liên quan được phổ biến cùng với sắc lệnh này, và các bản dịch sẽ được công bố sau khi đã được các Hội Ðồng Giám Mục phê duyệt và Bộ Phụng Tự chuẩn nhận.

Tại những nơi đã được phép đặc biệt để cử hành lễ Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, vào một ngày khác và với bậc lễ cao hơn, vẫn có thể tiếp tục cử hành như thế.

Bất chấp mọi điều trái nghịch.

Ban hành từ trụ sở Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích, ngày 11 tháng 2 năm 2018, ngày kính nhớ Ðức Mẹ Lộ Ðức.

 

Hồng y Robert Sarah

Tổng trưởng

Tổng Giám mục Arthur Roche

Thư ký

 

* * *

 

Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống

Ðức Trinh Nữ Maria Mẹ Hội Thánh

Lễ nhớ

 

Ca nhập lễ x. Cv 1, 14

Các môn đệ đồng tâm kiên trì cầu nguyện

cùng với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu.

 

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Thiên Chúa là Cha hay thương xót,

khi chịu treo trên thập giá,

Con Một Chúa đã trao ban Ðức Trinh Nữ Maria, thân mẫu Người,

làm Mẹ chúng con,

nhờ có Ðức Mẹ yêu thương trợ giúp,

xin cho Hội Thánh Chúa đang ngày càng thêm đông số,

được mừng vui vì sự thánh thiện của con cái,

và dẫn đưa tất cả muôn dân nhập đoàn cùng Hội Thánh Chúa.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô Con Chúa, Chúa chúng con,

Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa,

trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

 

Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin thương chấp nhận và biến đổi của lễ chúng con dâng

thành bí tích cứu độ,

xin cho lòng chúng con cũng cháy bừng lửa yêu mến

như Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh,

và ước chi sức mạnh của bí tích này

thúc đẩy chúng con cộng tác mật thiết hơn vào công trình cứu chuộc.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.

 

Kinh Tiền tụng: Ðức Maria là khuôn mẫu và là Mẹ của Hội Thánh.

X. Chúa ở cùng anh chị em.

Ð. Và ở cùng cha.

X. Hãy nâng tâm hồn lên.

Ð. Chúng con đang hướng về Chúa.

X. Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.

Ð. Thật là chính đáng.

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,

chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc,

thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.

Mỗi khi kính nhớ Ðức Trinh Nữ Maria,

chúng con dâng lời ngợi khen tung hô Chúa.

Khi đón nhận Lời Chúa với tâm hồn trong trắng,

Mẹ đã cưu mang Ngôi Lời trong cung lòng khiết trinh,

và khi hạ sinh Ðấng thiết lập Hội Thánh,

Mẹ đã cộng tác trong việc khai sinh Hội Thánh.

Khi đứng bên thập giá,

Mẹ đón nhận lời trối đầy yêu thương của Con Chúa,

và đã nhận tất cả mọi người làm con,

những người được tái sinh vào đời sống siêu nhiên

nhờ cái chết của Ðức Kitô.

Khi cùng các Tông đồ trông đợi Ðấng Chúa hứa ban,

Mẹ đã hợp với các ngài tha thiết khẩn cầu,

và nên mẫu gương cho một Hội Thánh không ngừng cầu nguyện.

Khi được đưa lên cõi vinh quang thiên quốc,

Mẹ vẫn lấy lòng từ mẫu dõi theo Hội Thánh đang còn lữ hành,

và ân cần phù trợ Hội Thánh trên đường về quê trời,

cho tới ngày Chúa Kitô ngự đến trong vinh quang.

Vì thế, cùng với toàn thể Thiên thần và các Thánh,

chúng con hợp tiếng ca ngợi Chúa và tung hô rằng:

Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh,...

 

Ca hiệp lễ x. Ga 2, 1. 11

Có tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa, và có mẹ Chúa Giêsu ở đó;

bấy giờ Chúa Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên

và đã tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ đã tin Người.

 

Hoặc x. Ga 19, 26-27

Lúc bị treo trên thập giá,

Chúa Giêsu nói với môn đệ Người yêu: Này là Mẹ con.

 

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa,

chúng con vừa lãnh nhận bảo chứng ơn cứu chuộc và sự sống,

xin cho Hội Thánh Chúa,

nhờ sự trợ giúp của Thánh mẫu Maria,

luôn nhiệt thành rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc

và làm cho địa cầu được đầy tràn Chúa Thánh Thần.

Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.

 

Bài đọc I St 3,9-15.20

"Mẹ của toàn thể chúng sinh"

Bài trích sách Sáng thế

Sau khi Ađam ăn trái cấm,

9 Chúa là Thiên Chúa đã gọi ông

và nói cùng ông rằng: "Ngươi ở đâu vậy?"

10 Ông thưa: "Con nghe tiếng Ngài trong vườn, nhưng con sợ hãi,

vì con trần truồng và con ẩn núp".

11 Chúa hỏi ông: "Ai đã cho ngươi biết ngươi đang trần truồng?

Có phải tại ngươi đã ăn trái cây mà Ta cấm ngươi ăn không?"

12 Ađam thưa: "Người phụ nữ mà Ngài đã cho làm bạn với con,

chính bà ấy đã cho con trái cây và con đã ăn".

13 Chúa là Thiên Chúa nói cùng người phụ nữ rằng:

"Tại sao ngươi làm điều đó?"

Người phụ nữ thưa: "Con rắn đã lừa dối con, và con đã ăn".

14 Chúa là Thiên Chúa phán cùng con rắn rằng: "Bởi vì mi đã làm điều đó,

mi là thứ bị chúc dữ giữa mọi súc vật và thú hoang!

Mi sẽ bò bằng bụng và sẽ ăn bụi đất suốt đời mi.

15 Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người phụ nữ,

giữa miêu duệ mi và miêu duệ Bà,

người miêu duệ này sẽ đạp đầu mi, còn mi sẽ cắn gót chân người".

20 Rồi Ađam đặt tên cho vợ mình là Evà, vì bà là mẹ của chúng sinh.

Ðó là Lời Chúa.

 

Hoặc: Cv 1,12-14

"Các Tông đồ đồng tâm kiên trì cầu nguyện cùng với Ðức Maria, mẹ của Chúa Giêsu"

Bài trích sách Công vụ Tông đồ

12 Sau khi Chúa Giêsu lên trời,

các Tông đồ rời núi Cây Dầu trở về Giêrusalem,

núi này ở gần Giêrusalem,

chỉ cách một quãng đường được đi trong ngày sabbat.

13 Sau khi trở về thành, các ông lên phòng trên lầu.

Hiện diện tại đây có các ông Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê,

Philipphê, Tôma, Bartôlômêô, Matthêu, Giacôbê con ông Alphê,

Simon nhiệt thành, và Giuđa con ông Giacôbê.

14 Mọi người đều đồng tâm kiên trì cầu nguyện,

cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria, mẹ của Chúa Giêsu,

và các anh em Người.

Ðó là Lời Chúa.

 

Thánh vịnh đáp ca Tv 86 (87) 1-2.3 và 5.6-7

Ðáp: Hỡi thành đô của Thiên Chúa,

mọi người truyền tụng những điều hiển hách về thành.

 

1 Nền móng Sion được đặt trên núi thánh,

2 Chúa yêu chuộng cửa thành

hơn mọi nơi cư ngụ của nhà Giacob.

3 Hỡi thành đô của Thiên Chúa.

Mọi người truyền tụng những điều hiển hách về thành. - Ð.

 

5 Nói đến Sion, thiên hạ bảo:

"Tại đó, người người đã sinh ra,

chính Ðấng Tối Cao củng cố thành". - Ð.

 

6 Thiên Chúa ghi vào sổ bộ các dân:

"Kẻ này người nọ đã sinh ra tại đó",

7 và họ múa nhảy hát ca:

"Mọi nguồn mạch của tôi ở nơi thành". - Ð.

 

Alleluia

Kính chào Ðức Trinh Nữ diễm phúc, Mẹ đã hạ sinh Chúa Giêsu.

Kính chào Mẹ Hội Thánh, Mẹ là Ðấng giữ gìn trong chúng con

Thần Khí của Thánh Tử Giêsu Kitô

 

Tin Mừng Ga 19, 25-27

Này là Con Bà. Này là Mẹ con.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan

Khi ấy,

25 đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có mẹ Người,

cùng với chị mẹ Người là bà Maria, vợ ông Clêôpas

và Maria Mađalêna.

26 Khi thấy mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu,

Chúa Giêsu nói với mẹ rằng: "Thưa Bà, này là Con Bà".

27 Rồi Người nói với môn đệ: "Này là Mẹ con".

Và từ giờ đó môn đệ đã đón bà về nhà mình.

Ðó là Lời Chúa.

 

Bài đọc II Giờ Kinh Sách

Trích diễn từ của Ðức Giáo hoàng Phaolô VI

ngày bế mạc kỳ họp thứ ba của Công đồng Vatican II - 21.11.1964

Ðể tôn vinh Ðức Trinh Nữ Maria và để chúng ta được hưởng nhờ ơn cứu giúp, sau khi cẩn thận luận xét các lý chứng liên hệ đến mối tương quan giữa Ðức Maria và Hội Thánh, Chúng tôi tuyên nhận Ðức Maria là Mẹ của Hội Thánh, nghĩa là của toàn thể các Kitô hữu, giáo dân cũng như mục tử, những người vẫn gọi Ðức Maria là Mẹ vô cùng nhân ái; và Chúng tôi xác lập rằng từ nay toàn thể đoàn dân Kitô giáo phải luôn gia tăng lòng tôn kính đối với Mẹ Thiên Chúa và kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu vô cùng dịu ngọt ấy.

Thưa chư huynh đáng kính, tước hiệu này không hề xa lạ đối với lòng đạo đức của các Kitô hữu; trái lại các tín hữu và toàn thể Hội Thánh vẫn luôn gọi Ðức Maria là Mẹ. Danh hiệu này quả thật đã gắn liền với ý nghĩa đích thực của lòng sùng kính dành cho Ðức Maria, dựa trên chính phẩm giá Mẹ đã nhận được trong tư cách là Mẹ của Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể. Thiên chức Thánh Mẫu đã làm cho Mẹ có những mối liên hệ đặc biệt với Chúa Kitô và hiện diện trong công trình cứu rỗi nhân loại do Chúa Giêsu Kitô thực hiện, cũng chính thiên chức đó tạo nên mối tương quan giữa Ðức Maria và Hội Thánh; vì Ðức Maria là Mẹ của Chúa Kitô, Ðấng đã nhận lấy bản tính nhân loại trong cung lòng khiết trinh của Mẹ, Ðấng là Ðầu của Nhiệm thể là Hội Thánh. Vì thế Ðức Maria, Mẹ của Chúa Kitô, cũng là Mẹ của tất cả các tín hữu và mục tử, nghĩa là của Hội Thánh.

Ðó là lý do tại sao chúng ta, dù bất xứng, dù yếu hèn, nhưng vẫn luôn ngước nhìn lên Mẹ với đôi mắt bừng sáng niềm tin tưởng và lòng yêu mến của những người con. Nếu xưa Mẹ đã trao cho chúng ta Ðức Giêsu là nguồn mạch ân sủng bởi trời, thì nay Mẹ không thể không dành tấm lòng hiền mẫu của Mẹ cho Hội Thánh, đặc biệt trong thời điểm này, khi Hiền Thê của Chúa Kitô đang gia tăng nỗ lực để chu toàn sứ mạng thông ban ơn cứu độ.

Ðể tiếp tục nuôi dưỡng và củng cố niềm tin này, Chúng tôi muốn trình bày những tương quan mật thiết giữa người Mẹ trên trời của chúng ta và nhân loại. Dù được Thiên Chúa ban tràn đầy ân huệ cao trọng để xứng đáng là Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, Ðức Maria vẫn luôn thân cận với chúng ta. Như chúng ta, Mẹ là con cháu Evà, có chung bản tính nhân loại nên cũng là người Chị của chúng ta; được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ do hưởng trước công phúc cứu chuộc của Chúa Kitô, nhưng Mẹ đã lãnh nhận các ân huệ thần linh với đức tin trọn hảo, đến độ Mẹ đáng nhận được lời ngợi khen trong Tin Mừng: "Phúc cho bà là kẻ đã tin".

Trong cuộc sống trần thế, Mẹ đã thể hiện hình ảnh hoàn hảo của người môn đệ Chúa Kitô, nên mẫu gương của mọi nhân đức,và nếp sống của Mẹ phản ánh trọn vẹn các mối phúc thật được Chúa Giêsu Kitô rao giảng. Bởi đó, trong đời sống đa dạng và sinh hoạt đầy năng động của mình, toàn thể Hội Thánh phải noi theo mẫu gương của Ðức Trinh nữ Mẹ Thiên Chúa, người đã trọn vẹn sống theo gương mẫu Chúa Kitô.

 

Bộ Phụng Tự và Kỷ luật các Bí tích


Hãy Trỗi Dậy! – Suy Niệm Chúa Nhật Phục Sinh

Thánh sử Luca kể lại: sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần,  những người phụ nữ đạo đức ra nơi phần mộ đã an táng Chúa Giêsu. Họ muốn thực hiện những nghi thức tẩm liệm theo phong tục của người Do Thái, vì buổi chiều thứ Sáu, việc tháo đanh và táng xác được thực hiện quá vội vàng, nên họ chưa làm được. Khi thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ, họ đã bước vào và không thấy xác Chúa Giêsu, nhưng lại thấy hai người đàn ông mặc y phục sáng chói. Hai người này nói: Sao các bà lại tìm người sống ở giữa những kẻ chết? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi…” (x. Luc 24,1-7).

Trỗi dậy!” là động từ được dùng để diễn tả việc Chúa Giêsu phục sinh. Động từ này vừa có nghĩa “thức dậy”, vừa có nghĩa “vùng lên”. Một người đang nằm, trỗi dậy, tức là người đó tự mình ngồi dậy hay đứng lên mà không cần nhờ đến sự can thiệp hay giúp đỡ của người khác. Chúa Giêsu phục sinh là tự Người trỗi dậy từ trạng thái của một người đã chết. Chúng ta cũng có thể nói như thánh Phêrô trong bài giảng đầu tiên vào ngày lễ Ngũ tuần: Thiên Chúa đã làm cho Người ((Đức Giêsu) sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi (x. Cv 2,24). Chúa Giêsu vừa “được” Thiên Chúa làm cho sống lại, vừa tự “trỗi dậy” từ nấm mồ tối tăm để phục sinh vinh quang, vì Người là chủ của sự sống. Chính Người đã tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,18).

Chúa Giêsu trỗi dậy từ nấm mồ. Đây là khởi điểm của một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ. Có tác giả so sánh Chúa Giêsu an nghỉ trong mộ, giống như Ađam ngủ say ở khởi đầu lịch sử. Trong lúc Ađam ngủ, Thiên Chúa đã rút chiếc xương sườn của ông để làm nên người phụ nữ. Chính trong giấc ngủ của Chúa Giêsu mà Giáo Hội của Người được sinh ra và khởi đầu. Khi Ađam tỉnh giấc, ông nhìn thấy bà Evà và tuyên bố: đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Điều đó nói lên sự bình đẳng, ngang hàng và gắn bó. Khi Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết, Người kéo cả nhân loại, từ Ađam, từ âm ty (còn gọi là ngục tổ tông hay nơi ở của những người đã chết, theo quan niệm của người Do Thái) cùng trỗi dậy với Người. Vết thương tự cạnh sườn Chúa đã chữa lành vết thương ở cạnh sườn của Ađam. Cái chết của Chúa trên thập giá đã tiêu diệt sự chết nơi toàn thể nhân loại. Chúa Giêsu là Ađam mới. Nếu Ađam thứ nhất là nguyên nhân của sự chết, thì Ađam mới, hay Ađam sau cùng như lối nói của một số nhà thần học, lại là nguồn mạch của sự sống.

Khi trỗi dậy khỏi nấm mồ tăm tối, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng cho nhân loại. Quả vậy, qua sự phục sinh sáng láng của Người, chúng ta nhìn thấy tương lai của chính mình. Tương lai đó là sự phục sinh thân xác vào ngày tận cùng của thời gian. Tương lai đó cũng là sự sống vĩnh cửu Chúa dành cho những ai tin cậy, phó thác và yêu mến Người. Cuộc phục sinh của Chúa cũng nói với chúng ta về phẩm giá của con người. Bởi lẽ con người được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa. Cuộc sống này không thể chỉ kết thúc ở nấm mộ. Một số người Do Thái đã giết hại Chúa vì họ cho rằng Chúa là một người phản loạn. Giết được Chúa Giêsu, các kỳ lão và biệt phái vui mừng vì diệt được một đối thủ. Tuy vậy, Chúa Giêsu không ngủ yên trong nấm mộ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc những bất công và mưu mô, dù mạnh mẽ đến mấy, cũng không thể trường tồn trên thế gian. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết. Tình yêu đã chiến thắng hận thù và Chân lý đã chiến thắng dối gian. Chúa Giêsu phục sinh khẳng định với thế giới rằng, những mưu mô nhằm vu oan và làm hại người khác xem ra có đem lại thành công trước mắt, nhưng không đứng vững lâu dài. Những gì dối trá tất yếu sẽ bị vạch mặt và mưu mô gian ác phải cáo chung.

Người Kitô hữu tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và phục sinh. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến ý nghĩa đời sống của người tín hữu, đó là chết với Chúa Giêsu để được sống lại với Người. Trong các tác phẩm của mình, Thánh Phaolô không nhắc lại một phép lạ nào của Chúa Giêsu, nhưng ông luôn nhấn mạnh tới biến cố Phục sinh. Dưới cái nhìn của một người được đào tạo bài bản trong truyền thống biệt phái, ông nhận ra hình ảnh của chiên vượt qua, xuyên qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu là Chiên Vượt Qua mới. Từ nay, chiên vượt qua mà người Do Thái giết trong Đền thờ chiều ngày thứ Sáu, trước ngày Sa-bát, không còn ý nghĩa gì nữa, hoặc nếu còn thì chỉ là biểu tượng ôn lại quá khứ. Chính Chúa Giêsu là Chiên Vượt qua đích thực đã chịu sát tế. Máu người đổ ra, không chỉ giúp cho người Do Thái thoát chết khi Sứ thần đi ngang qua trong đêm Thiên Chúa giải phóng người Do Thái khỏi Ai Cập, nhưng máu Chiên Vượt Qua mới sẽ thanh tẩy toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ hay bất cứ dị biệt nào.

“Hãy trỗi dậy những ai ngủ mê!”. Người Kitô hữu được mời gọi chuẩn bị tâm hồn từ đầu Mùa Chay để cử hành lễ Phục sinh. Như thế, Phục sinh không phải một ngày hội, cũng không phải một nghi thức tưởng niệm một biến cố đã lùi vào dĩ vãng xa xưa. Phục sinh là một tiến trình cải hóa bản thân, canh tân cuộc đời. Kết thúc chuỗi dài của những ngày sám hối, khổ chế, canh tân là được sống lại với Đức Giêsu trong một cuộc sống mới, chan hòa yêu thương thay chỗ cho giận ghét hận thù, đầy ắp hy vọng thay vì ảm đạm chán chường, gắn kết liên đới thay vì ích kỷ tầm thường. Người tín hữu, khi mừng lễ Phục sinh cũng được mời gọi trỗi dậy với Chúa Giêsu. Như trên đã nói, Chúa Giêsu vừa được Thiên Chúa cho sống lại, vừa tự Người trỗi dậy từ nấm mồ. Trong tiến trình nên hoàn thiện, người tín hữu luôn cậy trông vào sự nâng đỡ của Chúa, nhưng đồng thời họ cũng cộng tác phần mình bằng thiện chí cố gắng nỗ lực. Bởi lẽ, “khi Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Người không cần đến chúng ta. Nhưng khi Thiên Chúa muốn cứu chuộc chúng ta, Người lại cần đến sự cộng tác của chúng ta” (Thánh Augustinô). Nói như thế không có nghĩa là Thiên Chúa bất lực, nhưng muốn nói lên sự tự do cộng tác của con người trong tiến trình hoàn thiện. Tình yêu không phải là điều bắt buộc, cưỡng ép, nhưng là tự nguyện chấp nhận với trái tim rộng mở chân thành. Tình yêu chỉ đạt tới viên mãn, khi có thiện chí từ hai phía, nếu không, mãi mãi chỉ là tình yêu đơn phương.

Năm nay, chúng ta mừng lễ Phục sinh trong một bối cảnh rất đặc biệt chưa có tiền lệ, do đại dịch viêm phổi Vũ Hán (COVID-19). Tính đến hôm nay (11-4-2020), trên thế giới đã có khoảng 1,6 triệu người dương tính với virus Corona. Số người chết đã lên tới trên 100 ngàn người. Trên toàn thế giới, lễ nghi Tuần thánh và Phục sinh được cử hành cách đơn giản. Các tín hữu dự lễ qua trực tuyến. Tuy vậy, nếu không có những cuộc rước ồn ào, thì mỗi chúng ta lại có thể lắng đọng tâm hồn trong tĩnh lặng để suy tư và lắng nghe tiếng Chúa rõ hơn. Là những người tin vào quyền năng Thiên Chúa, chúng ta phó thác nhân loại trong cánh tay yêu thương của Ngài. Như Đức Giêsu đã trỗi dậy từ ngôi mồ tăm tối, chúng ta tin rằng Thiên Chúa sớm đẩy lùi dịch bệnh. Sớm muộn thì dịch bệnh cũng qua đi, điều còn lại sẽ là rất nhiều thay đổi trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Có những thay đổi tích cực, nhưng cũng có những thay đổi tiêu cực. Dịch bệnh toàn cầu COVID-19 làm cho chúng ta nhận ra cuộc sống này rất mong manh nhưng thật là quý giá. Trong những ngày này, các thành viên trong gia đình liên kết gắn bó với nhau hơn. Người ta sống có trách nhiệm hơn đối với môi trường và công ích. Giữa những khó khăn đại nạn, có nhiều nghĩa cử nhân ái, đậm tính nhân văn để giúp đỡ nhau, nhất là nâng đỡ những người sa vào cảnh khó khăn vật chất trong lúc dịch bệnh. “Trỗi dậy” trong ngày lễ Phục sinh, chính là thay đổi quan niệm khô khan và buồn tẻ về cuộc sống, để cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho ta sự sống, ban cho ta gia đình và những người bạn bè để chia sẻ yêu thương. “Trỗi dậy” cũng chính là những nỗ lực cố gắng để cùng với mọi người xây dựng một xã hội nhân ái, chứa chan tình Chúa và thấm đậm tình người.

Lễ Phục sinh năm 2020

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên


Hy Vọng Giữa Gian Lao – Suy Niệm Chúa Nhật Phục Sinh

Cái chết và nấm mồ là kinh nghiệm đau thương và là nỗi lo sợ lớn nhất của kiếp người. Người nghèo chết, người giàu cũng phải chết. Chẳng ai thoát khỏi cái chết mặc dù sợ hãi và trốn tránh nó. Nói đến cái chết, chúng ta đứng trước một bức màn bí ẩn và đặt câu hỏi: bên kia bức màn đó là gì? Sau khi chết con người sẽ như thế nào? Đã bao thế hệ, người ta tìm cách đưa ra những giả thuyết khác nhau về thân phận con người sau khi chết.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đồng thời cũng là con người. Một số thủ lãnh và người dân Do Thái đã kết án tử cho Người phải chết bằng hình thức đóng đinh vào thập giá. Trên cây thập giá, Người đã chết. Cả bốn tác giả Tin Mừng đều xác nhận điều này. Đối diện với cái chết, Chúa Giêsu cũng lo sợ đến nỗi máu nhỏ thành giọt, lúc Người cầu nguyện trong vườn Cây Dầu. Người cũng muốn trốn tránh nó, như lời Người thưa cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu con thể được, xin cất chén này xa con”. Tuy vậy, tình yêu mến Người dành cho Chúa Cha lại vượt xa nỗi lo sợ. Vì vậy, Người tiếp lời: “Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha”. Như thế cái chết của Chúa Giêsu là cái chết tự nguyện, vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương loài người.

Như bao người khác, Chúa Giêsu đã chết. Nhưng nếu những người đã chết chịu đóng khung trong nấm mộ tăm tối và thân xác mục nát theo thời gian, thì thân xác Chúa Giêsu lại không chấp nhận quy luật ấy. Người là Con Thiên Chúa hằng sống. Người có quyền trên sự sống và sự chết, như chính Người đã tuyên bố khi sinh thời. Hơn thế nữa, Người chính là sự sống và là sự sống lại. Trước đó, qua hình ảnh hạt lúa gieo xuống đất chấp nhận mục nát để nảy mầm sinh bông kết trái, Chúa Giêsu đã có ý chỉ về cái chết của chính mình. Các tác giả Tin Mừng đều kể lại với chúng ta, mỗi người mỗi cách, nhưng cùng chung một nội dung là Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba, kể từ khi bị đóng đinh và chết trên thập giá. Sự phục sinh của Chúa là ánh sáng bừng lên giữa tối tăm, tình yêu trao gửi giữa hận thù và hy vọng bừng lên giữa gian lao.

Đó là niềm hy vọng trước hết cho các môn đệ và những người phụ nữ đạo đức, đã theo Chúa khi người còn ở trần gian. Cái chết của Chúa làm cho họ hoang mang. Một vài người trong họ hoàn toàn thất vọng và đã lên đường về quê. Niềm vui tràn đầy nhanh chóng thay thế cho sự lo buồn thất vọng. Tác giả Tin Mừng Gioan đã kể lại kinh nghiệm cá nhân của mình vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần. Ông đã kết luận trình thuật ngôi mồ trống bằng chính điều ông trải nghiệm: “Ông đã thấy và tin”. Đức tin của ông từ nay đã rõ ràng, được kiểm chứng và trải nghiệm. Ông đã chắc chắn Đức Giêsu, vị Thày khôn ngoan của ông là Thiên Chúa, Đấng đã sống lại từ cõi chết. Người trỗi dậy từ nấm mồ tăm tối, là kinh nghiệm thê thảm nhất của kiếp nhân sinh, để từ nay chiếu sáng huy hoàng dẫn đưa nhân loại về bến bờ bình an.

Giáo Hội năm nay có một Mùa Chay đặc biệt và một lễ Phục sinh cũng đặc biệt, đó là tình trạng dịch bệnh viêm phối Vũ Hán, hay còn gọi là COVID-19.  Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu không còn là câu chuyện do các tác giả Tin Mừng kể lại. Cuộc khổ nạn này cũng không dừng lại ở nghi thức phụng vụ, nhưng đó là kinh nghiệm cụ thể về mạng sống của bao người bị COVID-19 cướp đi. Cho đến hôm nay, trên thế giới đã có khoảng 1,5 triệu người nhiễm dịch và khoảng 100 ngàn người đã chết. Người ta còn nói đến đỉnh của dịch bệnh sẽ đến trong nay mai. Nhân loại đang trải qua nỗi kinh hoàng ghê gớm. Nhiều người đã đồn đoán về ngày tận thế. Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đang tiếp diễn nơi những bệnh nhân, nơi thân nhân gia đình và xã hội đang gồng mình để chống dịch, giảm thiểu sức lây lan và tàn phá của con virus bé nhỏ mắt thường không nhìn thấy. Không thể thống kê được thiệt hại do dịch bệnh gây ra. Kể cả vào lúc dịch bệnh chấm dứt, chúng ta phải mất nhiều năm mới khôi phục những hậu quả của đại dịch, trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực kinh tế.

Dưới lăng kính Kitô giáo, chúng ta nhận ra gương mặt của Đấng chịu đóng đinh nơi những người đau khổ bệnh tật trong xã hội hôm nay. Chúa Giêsu hiện diện với họ để nâng đỡ, chữa lành tâm hồn cũng như thân xác. Trong lúc hoảng loạn tăm tối này, chúng ta tin vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa, với lòng tín thác cậy trông Chúa sẽ ban ơn chữa lành và thế giới sẽ trở lại bình an. Như Đức Giêsu đã chết và đã phục sinh, mỗi chúng ta cũng tin rằng, Thiên Chúa sẽ sớm đưa nhân loại thoát khỏi đại họa, và giúp chúng ta khôi phục cuộc sống. Đó là niềm hy vọng giữa gian lao, hy vọng bừng lên từ nấm mồ trống mà Gioan và Phêrô đã được chiêm ngắm.

Ngôi mộ trống là chứng từ hùng hồn về mầu nhiệm Phục sinh. Hôm nay, mỗi Kitô hữu cũng hãy là chứng nhân của Chúa Phục sinh đang hiện diện trong cuộc đời. Đây là lệnh truyền của Chúa, như lời khẳng định của Thánh Phêrô: “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết” (Bài đọc I). Sự Phục Sinh của Chúa là một sứ điệp hy vọng, cần loan báo cho con người mọi nơi, mọi thời. Những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy đều là những sứ giả loan tin vui Phục Sinh. Như Phêrô, Mácđala và Gioan, mỗi người có cách loan báo riêng của mình, nhưng nội dung của lời loan báo luôn luôn là Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng vậy, mỗi người có hoàn cảnh riêng, những khó khăn và thuận lợi riêng, nhưng đều có sứ mạng loan báo Đấng Phục Sinh, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên


Mồ Trống Hiện Ra Cho Maria Madalena – Chúa Nhật Phục Sinh

(Xem thêm Chú Giải Phúc âm Chúa Nhật năm B và C. Thật ra bản văn phụng vụ chỉ gồm từ câu 1 đến 10. Nhưng chúng tôi xin trích  dịch cả phần chú giải câu 11- 18 (không được đọc trong phụng vụ) để làm tài liệu học hỏi và để liên tục với phần chú giải Tin Mừng  Chúa Nhật 2 Phục sinh (Ga 20, 19-31). Trong nguyên bản, tác giả (Van den Bussche) chú giải toàn thể chương 20 trong một bài với  tựa đề “Việc Phục Sinh”).

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Trong nhãn giới của Gioan, việc Sống lại có ý nghĩa nào? Đấng Phục sinh ra đi? trở lại? hay đến với các môn đồ Người?

2. Sự hiện diện của Đấng Phục sinh, theo Gioan có những tính cách gì?

3. Sáng ngày Phục sinh, việc khám phá dịch thực xảy ra lúc nào?

4. Thánh sử ngụ ý gì khi bảo: “Ông (người môn đồ dấu yêu) đã thấy và ông đã tin. Là vì họ chưa hiểu lời Kinh Thánh …” (c.8b- 9a)?

5. Maria Mađalêna có thật sự tin vào việc Phục sinh khi thấy Chúa hiện ra không?

6. “Đừng động đến Ta” (c. 17), lối dịch này có trung thành với nhãn giới của Gioan chăng? Phải thay thế bằng cách dịch nào?

7. “Vì Ta chưa lên cùng Cha Ta” (c. 17). Câu này đúng ra là lời của ai?

1. Ý NGHĨA TỔNG QUÁT CỦA BIẾN CỐ PHỤC SINH TRONG TM THỨ 4

Trong tư tưởng Gioan, một chương về Phục sinh thuộc về bản chất của cuộc Tử nạn chặt chẽ đến nỗi thánh sử không dời việc tôn vinh Chúa Giêsu vào lúc sống lại mà là đặt nó ngay từ khi Người chịu treo thập giá. Việc phục sinh chẳng phải là một biến cố tiếp theo cái chết, nhưng là một yếu tố của Giờ được xét như một bản thể Giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha. Thánh sử mô tả giá trị mặc khải và giá trị cứu rỗi của Giờ đó không phải tiếp theo cuộc Phục sinh, song từ trước lúc Chúa Giêsu chết, vì thần học của ông bao gồm toàn thể các sự kiện. Ngay đầu diễn từ giã biệt, ông trình bày cho thấy Chúa Giêsu đang giải thích làm sao việc Người ra đi chẳng phải là ra đi nhưng là đến thật sự với môn đồ. Vì thế các lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh, đối với Gioan, không hẳn là những bằng chứng hộ giáo về thực tại Phục sinh cho bằng là những giai đoạn mặc khải trong đó biểu lộ ý nghĩa đích thực của việc Người ra đi: ra đi là đến với thuộc nhân của Người.

Ngay từ đầu, việc khám phá mồ trống (20, 1- 9) đã đòi hỏi cái nhìn đức tin. Nỗi lo sợ trộm xác, những lần đi đi về về bồn chồn trọn con đường dẫn tới mộ, tất cả bầu khí của buổi sáng hôm đó chứng tỏ các môn đồ kính yêu sâu xa vị Thầy đã khuất – và có lẽ cũng đắng cay thất vọng trước sự sụp đổ của Vương quốc Thiên sai nhưng không mấy biểu lộ cho thấy là họ am hiểu đúng đắn mọi sự kiện. Sự hiểu biết này chỉ bùng lên trước mồ trống nhờ ánh sáng của đức tin và lời Kinh thánh mà thôi.

Sau đó là ba lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh, mỗi lần tương ứng với một ý hướng riêng biệt của Thánh sử. Cả ba đều đặt dưới dấu hiệu sự hiện diện của Chúa Giêsu. Ca nhập lễ Phục sinh tóm tắt chúng như sau: “Ta đã sống lại và còn ở với chúng con!”. Hay đúng hơn: Chúa Giêsu đã sống lại và chỉ bây giờ Người mới  thực sự ở với thuộc nhân của Người. Thánh sử đào sâu sứ điệp đó theo phương pháp vòng đồng tâm của ông. Cho Maria Mađalêna, Chúa Giêsu mặc khải rằng sự hiện diện ngày xưa, xét cho cùng, chỉ là một sự cận kề, một sự hiện diện nửa vời, về phía Người cũng như về phía họ. Quả vậy, sự hiện diện lúc đó của Người còn mặc hình thức che dấu, chưa phát lộ trong chiều kích đích thực và tròn đầy. Giờ đây nó mới thực bày tỏ ra. Với người, sự hiện diện trọn vẹn của Thiên Chúa đã được thể hiện (20, 10- 18).

Sự hiện diện ấy từ lúc này cũng tràn đầy hiệu lực. Suốt cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã hoàn thành nhiều công việc và phép lạ để chuẩn bị sơ bộ cho việc Người đến lần sau cùng với tư cách Thiên sai mà hôm nay đã bắt đầu. Giờ đây, Chúa Giêsu đang ở trong chức vụ Con Người, này Người đã trở thành Con Thiên Chúavới quyền năng (Rm 1, 4), này Vương quốc đã đến (Mc 9, 1), này là thời của những công việc còn vĩ đại hơn các việc đầu tiên (1, 50- 51 ; 5, 20 ; 14, 12). Trên môn đồ đang tụ họp, người thổi Thần khí để ban cho họ quyền năng giải phóng thế gian khỏi ách nô lệ tội lỗi (20, 19- 23).

Và sau cùng, Chúa Giêsu hiện ra với Tôma (Ga 20, 24-29). Thánh sử kể lại sự kiện bất ngờ này chẳng phải để giảm uy tín bạn đồng liêu nhưng chỉ vì cái câu kết luận: Phúc cho ai không thấy mà tin! Sự hiện diện của Chúa Giêsu đâu dành cho những kẻ mà ta thường nghĩ là hạng ưu đãi của giờ đầu tiên, những kẻ đã được thấy người sống động thực. Không! Mọi thế hệ Kitô hữu đều sẽ có thể sống sự hiện diện của Chúa Giêsu, cũng trực tiếp như Tôma và mấy môn đồ khác. Các độc giả đầu nên của cuốn Tin Mừng này đều thuộc về thế hệ thứ hai và thứ ba, nhưng họ không chịu thua những người đi trước. Chúa cũng ở với họ, trực tiếp và hiệu lực không kém gì.

Chúa Giêsu đã công bố trước Đại Công nghị rằng từ nay thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự bên hữu quyền năng và đến trên mây trời (Mt 26,24; Mc 14,62; Lc 22,69). Lời ấy, trong tư tưởng Gioan, được thực hiện rõ ràng trong các lần hiện ra sau Phục sinh. Cuộc Quang lâm, tực sự hiện diện của Thiên Chúa mà ngày Chúa Giê-su trở lại sẽ hữu hình hoá, từ nay đi vào trong trật tự các thực tại vô hình: nó biểu lộ một cách thoáng qua trong những lần hiện ra. Tuy nhiên không vì thế mà gạt bỏ niềm mơ ước một cuộc trở về hữu hình, trái lại việc Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội là bảo chứng chắc chắn nhất của việc Người trở lại trong vinh quang. Các tín hữu bấy giờ sẽ thấy vinh quang mà nay đã được chia sẻ cho (17,22-24), bấy giờ sẽ tỏ lộ ra bản tính Con Thiên Chúa của họ, bản tính họ đã được từ lúc này đây (1 Ga 3, 1-2). Các cuộc hiện ra của Đấng phục sinh đã có đó để bảo đảm không hẳn sự sống lại cho bằng là sự hiện diện bền lâu của Chúa Giêsu. Chúa đã hiện ra cho các môn đồ đầu tiên, chính Người cũng ở trong Giáo Hội đến tận cùng thời gian, đến ngày sẽ thực sự biểu lộ trong vinh quang sung mãn tước vị Con Người của Người. Nói theo ngôn ngữ chuyên môn, đó là thực hiện trước cuộc cánh chung (eschatologie mticipée). Mối hy vọng, nỗi mong chờ ngày Quang lâm, Gioan chuyển thành sự chắc chắn – chắc chắn theo đức tin, dĩ nhiên rồi? Trạng huống của thời sau hết từ bây giờ đã được thể hiện, tuy nhiên vẫn không loại trừ một nỗi ngong ngóng đợi chờ cuộc Quang lâm hữu hình. Người Kitô hữu nào mong mỏi ngày tận cùng tất nhiên cũng hy vọng và ao ước sự hoàn thành sau hết, ao ước cái lúc mà Thiên Chúa sẽ trở nên mọi sự trong mọi người (1 Cr 15,28).

Sau cùng các cuộc hiện ra đó chỉ là áp dụng, vẽ ra, cụ thể hóa những gì Chúa Giêsu đã nói và lặp đi lặp lại trong diễn từ giã biệt. Việc ra đi của Người mặc ý nghĩa đầu tiên là đến cùng Cha, và ý nghĩa thứ hai tương ứng với ý nghĩ thứ nhất, là về gặp lại các môn đồ. Và đó không phải là một cuộc trở về tạm bợ, một buổi tái ngộ mau qua làm như để an ủi, song là việc đến thực sự, dứt khoát, chất chứa sự hiện diện trọn vẹn và tràn đầy hiệu lực của Thiên Chúa. Quả vô ích khi lấy lại mọi bản văn lần nữa; chỉ cần đọc lại 14, 12- 24, 16, 16- 27 ; 17, 20- 24. Hai trong ba cuộc hiện ra có một từ ngữ chủ chốt: Chúa Giêsu “đã đến ” hay “đến” (20, 19.24.26). Đấy chính là đề tài của toàn chương. Việc Chúa Giêsu đến như thế mặc ý nghĩa nào? Các trình thuật không được viết ra để thỏa mãn cái khoái kể chuyện: Chúng đáp lại một ý định thần học; chúng minh giải thần học về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong thời gian nằm giữa việc Người đến thực sự (việc Người ra đi) và việc Người trở lại vinh quang.

Dù nặng chất thần học đến đâu, các trình thuật này vẫn không kém sống động. Chúng chẳng những nói lên một kinh nghiệm sống động phi thường trong mọi chi tiết, mà còn đặc biệt diễn tả lột cảm giác ngỡ ngàng còn kéo dài mãi về sau. Chúng thật sự làm sống lại cuộc khám phá sau đây: phục sinh có nghĩa là Chúa Giêsu hiện diện mãi mãi. Cùng với các môn đồ đầu tiên, chính độc giả cũng cảm nhận được cú va chạm mở tung cho mình sự hiểu biết trong đức tin. Một bút pháp rời rạc, một diễn từ trực tiếp, một mở hỗn tạp thì hiện tại và bán quá khứ, từng ấy các yếu tố đều góp phần làm nổi bật cách mạnh mẽ cảm thức của một kinh  nghiệm sống. Thánh sử đã sống trong bao năm trường sự hiện diện của Chúa Kitô; thế nhưng ông vẫn không quên được ấn tượng của giây phút ban đầu ấy. Với tài khéo léo, ông giữ lại được ở đây giây phút của sự’ khám phá đó, giây phút duy nhất trong muôn ngàn. Các trình thuật làm ta bỡ ngỡ vì tính chất tươi mát, vì bút pháp trực tiếp, vì nồng độ tình người của chúng. Dù chú tâm chiêm ngửng trong đức tin cái thực tại sâu xa của việc Thiên Chúa hiện diện qua các biến cố, bản văn vẫn không vì đầy tính trở thành một suy tư thần học. Chúa Giêsu đứng đó, thình lình, trước mặt những con người đích thực, và lộ những phản ứng đầy tính chất người đến nỗi về sau có kẻ trách là không mấy hợp lý. Chúa Giêsu tỏ ra rất nhân bản, ân cần và đầy vẻ khôi hài … đến nỗi vài nhà phê bình dã từng cho rằng Tin Mừng này là một khái luận thần học, cũng nói đến tính khôi hài của Người! Ngay cả lúc ấy, Ngôi lời vẫn nhập thể; nhưng chỉ lúc ấy, sự hiện diện thần hình trọn vẹn nới trở thành một thự( tại nhân loại mãi mãi. 

2. MỒ TRỐNG (20, 1- 9)

Lễ Vượt qua Do thái trôi đi mà chẳng ai bàn đến ngôi mộ bị niêm phong của Chúa Giêsu. Đối với các môn đồ, đại lễ ấy thật là một lễ buồn thảm. Mộng vàng tan mây! Người mà thiên hạ tưởng là Đấng Messia nay nằm dưới ba tấc đất. Câm lặng, họ nhìn đống tro tàn hoài bão của mình. Chúng tôi đã hy vọng … các môn đồ làng Emmau sẽ nói thế (Lc 24, 21).

Ngày đầu tiên ấy của tuần lễ chỉ một nhịp mới trong trật tự thời gian: nó sẽ trở thành Ngày của Chúa (Kh 1, 10). Đó là ngày thứ ba sau vụ xử đóng đinh. Các phụ nữ đã có mặt bên thập giá (Mc 15,47 và song song ; Ga 19,25) đi đến mồ theo thói quen, để xức thuốc thơm (Mc 16,1 và ss) . Gioan chỉ kể tên Maria Mađalêna, nhân vật chính của lần Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra đầu tiên; bà cũng là kẻ được Tin Mừng Nhất lãm xướng danh trước hết: chắc hẳn vì là người hoạt động nhất. Khi nghe người thanh niên đứng trong mồ trống báo tin là Chúa đã sống lại và nói các bà đi báo tin cho Phêrô và các môn đệ của Người.

Không tìm gì hơn, Maria vụt bỏ chạy. Bà đi báo động cho đội tiền phong của nhóm nhỏ môn đồ: Phêrô và người môn đồ dấu yêu Hai kẻ này đã từng đấu tranh để dành chỗ nhất biết mấy! Trình thuật chúng ta là một tiếng vọng xa xôi của mối tranh chấp giữa họ. Người môn đồ yêu dấu đã theo Chúa Giêsu trước Phêrô (1,37-40). Nếu ông này đã là phát ngôn viên của cả nhóm trong một giây phút khủng hoảng (6,68-69), thì Gioan vẫn là người môn đồ thân thiết nhất, gần gũi nhất với Chúa Giêsu trong bữa Tiệc cuối cùng (13,23), bữa tiệc mà Phêrô chỉ được cái là xử trí sai lầm. Tính táo bạo thiếu suy nghĩ của Phêrô còn lộ liễu ở vườn Ghetsêmani, nơi mà nhát kiếm vô ích của ông cho thấy ông kém thông minh rõ ràng (18, 10- 11). Và khi đến giây phút quyết định thì ông lại chối Chúa Giêsu (18, 17). Người môn đồ dấu yêu trái lại đứng kề thập giá và được Chúa Giêsu trao phó mẹ người cho (19,25). Nếu xét khách quan kỹ lương, thì ông này là kẻ xứng đáng cầm đầu nhóm nhất. Người đồ đệ ấn hành tác phẩm Gioan quả không lầm về điểm đó: nịnh thuật việc trao quyền cho Phêrô cố ý “hóa giải” ba lần chối Chúa và Phêrô anh như cũng bỡ ngỡ thấy mình được cho đứng trên người môn đồ dấu yêu (21, 15-22). Chúng ta đừng quên rằng đây là một sự tuyển chọn.

Cuộc chạy bộ đến mồ buổi sáng phản ảnh mối tranh chấp xa xưa kia. Vị thánh sử hồi tưởng chuyện cũ không một chút oán hờn. Việc rong ruổi trong buổi rạng đông đó còn sống động trong trí ông đến nỗi những tình cảm vô thức hồi xảy ra biến cố tự nhiên tái xuất hiện. Hai ứng cử viên quyền tối thượng đều được Maria  Mađalêna báo động với những từ ngữ ngụ ý việc trộm xác. Maria nói Chúa Giêsu là Chúa, theo nghĩa là rabbi: Thầy (x.20,13); nhưng chính sử lại gán cho hạn từ ấy cái nghĩa nó sẽ mặc về sau trong các lời tuyên tín: nhờ việc Phục sinh, Chúa Giêsu trở thành vua và được sử dụng quyền tài phán cánh chung. Maria thêm: Chúng tôi không biết họ đặt Người ở đâu … Tiếng số nhiều “chúng tôi” có thể xem như là một hình thức tập hợp chỉ các môn đồ, hay như một kiểu nói Sêmita, song có lẽ Maria nói nhân danh các phụ nữ đã đi theo với bà đến mộ. Phản ứng của bà bộc lộ lòng bà thương mến sâu xa: lần tiếp sẽ xác nhận điều đó.

Bắt đầu chạy! Người môn đồ dấu yêu đến mộ trước tiên. Phải chăng đó là dấu hiệu của một tình yêu lớn hơn đối với Thầy? Phải chăng là vì trẻ tuổi? Một vài nhà chú giải xưa bảo ông chạy nhanh hơn bởi lẽ không có gia đình. Hãy gác lại những vấn đề ấy và hãy để cho đầu tóc trắng xóa của vị thánh sử già nua hưởng niềm vui tưởng nhớ thành tích của mình? Việc hơn thua đó cũng chẳng có ý nghĩa biểu tượng gì. Người ta đã muốn cho rằng Gioan tượng trưng Kitô hữu gốc lương dân, cởi mở hơn với đức tin, còn Phêrô tượng trưng cho Ki-tô hữu gốc Do thái, là những kẻ đầu tiên vào Giáo Hội mặc dầu đức tin thua kém. Nhưng vào trong mộ không phải là tin, và trình thuật hình như ngụ ý rằng Gioan, vào mộ sau cùng, lại đạt đức tin trước hết.

Tuy nhiên niềm vui tường thuật vẫn pha lẫn một chút gì đó. Thánh sử hình như còn tiếc nuối là đã không vào lập tức. Phải chăng ông chờ Phêrô vì kính trọng, vì tinh thần đồng đội? Chúng ta đừng phê phán Gioan với một cặp kính màu hồng như thế. Vài tác giả đã chẳng nghi ông sợ ma đó sao? ông chỉ cần kiểm nhận mồ mở và vài đãi vải là đủ để suy ra rằng Maria Mađalêna đã có lý. Mồ trống không còn là một lời đồn đãi (Mc 16, 11. 13 ; Lc 24,22-23) vì sự kiện được xác nhận bởi hài chứng nhân. Công chứng này sẽ có ích về sau khi phải chống lại tin đồn người Do thái tung ra là chính các môn đồ đã đánh cắp xác (Mt 27, 64 ; 28, 12- 15).

Nhưng này Phêrô đến! ông đi vào trong mộ. Đây mới là lúc khám phá thực sự. Trong trường hợp trộm xác, ngôi mộ hẳn lộn vô cùng; thế mà dải vải, khăn liệm đều được cuốn lại gọn gàng, đâu vào đấy. Ánh sáng chợt bùng lên trong trí của người môn đồ dấu yêu. Chuyện xảy ra trước mắt làm ông nhớ lại lời Kinh thánh, lời Chúa Giêsu vẫn nhắc tới thường xuyên. Bí mật được giải đáp. Không cần phải nhìn sự kiện cụ thể mới thấu hiểu được trong đức tin; Kinh Thánh cũng có thể soi sáng cho những ai không thấy chính các sự kiện (20,29). Gioan ám chỉ lời Kinh thánh nào? Ta không rõ. Chỉ biết cộng đoàn Kitô hữu sơ khai có nhắc tới một vài Thánh vịnh, chẳng hạn như  Tv 16,8-11 trong Cv 2, 24-31 ; Tv 2,7 trong Cv 13,32-37. Chính Chúa Giêsu sẽ lấy ánh sáng Kinh thánh giải thích việc phục sinh của Người (Lc 24,25-26.32.44.46). Lời rao giảng cổ kính nhất cũng có nại đến Thánh Kinh (1Cr 15,4).

Gioan chẳng bảo người môn đồ có thể lộ cho Phêrô cái trực giác đức tin đầu tiên của mình hay không; thế nhưng trình thuật xem ra ngụ ý điều đó. Phêrô có chia sẻ trực giác ấy chăng? Chúng ta không thể suy ra được. Dầu sao chính Chúa Giêsu đã phải củng cố và tăng cường đức tin chớm nở ấy. Tuy nhiên đức tin này, từ giờ trở đi có một đối tượng rõ ràng: Chúa Phục sinh.

Người môn đồ thấy và tin: nét nghịch lý của cuộc Tử nạn đã tìm được lời giải nghĩa. Tất cả đều đáp lại ý hướng của Thiên Chúa diễn tả trong Thánh Kinh. Vị thánh sử già nua mỉm cười hồi tưởng đức tin chớm nở ấy, nhớ làm sao mình đã là người đầu tiên linh cảm chân lý. Nhưng bây giờ ông cần phải đưa độc giả của ông đến, sự hiểu biết trong đức tin đó, làm cho họ hiểu lâu nhớ kỹ như ông ý nghĩa của cuộc phục sinh đối với họ: đó là một sự hiện diện tròn đầy hữu hiệu và thường xuyên của Chúa.

3. MARIA MAĐALENA (20, 10-18).

Giữa lúc ấy, Maria Mađalêna trở lại mồ. Bản văn hình như  ngầm bảo hai môn đồ còn ở đó. Nhưng họ bỏ bà và ra về. Phải  chăng các ông đã không chia sẻ cho Maria mối linh cảm của mình, hay bà vẫn thờ ơ với chuyện ấy?

Bà đến để than thở theo tục lệ, thành ra vẫn đứng khóc cạnh mồ, mặc dầu xác chẳng còn bên trong. Nước mắt bà chứng tỏ lòng quyến luyến sâu xa. Nhưng đây đâu phải là nơi tuôn đổ giọt lệ nhân trần? Chúng làm cho Maria không thấy rõ ràng trong ngôi mộ trống. Người môn đồ yêu dấu đã chỉ cần nhìn là đủ tin, vì nhớ lại lời Kinh Thánh.

Phần Maria, phải có sự trợ lực của hai thiên sứ. Thật là một cuộc hiện ra rất gợi hình: họ mặc áo trắng, như thói quen của các nhân vật thiên quốc (Mc 9,3 và ss; 16,5 và ss: Cv 1, 10 ; Kh 3, 4-5 ; 4, 4). Nhị vị ngồi hai đầu nơi đã đặt xác Chúa Giêsu (Lc 24, 4) : nghĩa là thực tại thiên giới muốn phân định đâu là nơi đã an táng Người. Dấu hiệu này lẽ ra đủ cho Maria hiểu. Nhưng một lần nữa, phản ứng nhân loại của bà lại cản trở sự hiểu biết của đức tin. Đáp câu hỏi của thiên thần, bà trút cả nỗi niềm xao xuyến và như vậy cho thấy chẳng hiểu gì trơn. Người ta đã cất xác Chúa bà và không biết họ đặt Người ở đâu. Trên miệng bà, tiếng Chúa có nghĩa là Thầy yêu dấu. Nhưng đối với thánh sử và độc giả, đó là Đấng Phục sinh. Song Mana còn khuya mới nghĩ tới chuyện sống lại! Đấy là chủ đề “ngộ nhận” trong Gioan (.x. 11, 23-24).

Vì sự thể như vậy, nên chính Chúa Giêsu phải đích thân xuất hiện … thế mà bà vẫn chưa nhận ra Người? Chẳng phải bởi trời còn mờ tối; song vì như hai môn đồ làng Emmau, mắt bà cũng bị “bưng bít” không thể nhận ra Người được. Chúa Giêsu Phục sinh chỉ hiển lộ rõ ràng cho những ai có đôi mắt được niềm tin mở rộng (Lc 24,16; x.Ga 21,4; Lc 24,37; Mc 16,12). Thế mà Maria còn lâu mới nghĩ đến chuyện sống lại. Cho dù có thật sự phục sinh vẫn là một chân lý đức tin. Đừng tưởng Đức Giê-su hoá trang thành kẻ làm vườn. Maria, vì chỉ biết phản ứng theo kiểu nhân loại, nên không thể nhận ra Người, và vì đang ở trong một thửa vườn, nên bà tưởng Chúa Giêsu là một người làm vườn nào đó.

Cũng câu hỏi lúc nãy được nêu lên: “Tại sao bà khóc?”. Một lần nữa, Madalena lại để trào ra nỗi thất vọng của mình cách mãnh liệt hơn. Bà muốn tìm xác. Phải chăng người làm vườn đã di chuyển? Bà muốn mang nó đi chôn cất ở một nơi mà bà có thể đến khóc thương mãi mãi. Bà tìm một kẻ chết, trong lúc Người lại sống!

Bà không nhận ra Chúa Giêsu, nhưng Người,  Người biết bà quá rõ! Người gọi tên bà, như trước đây đã từng cho Nathanael thấy Người biết rõ ông (1,47- 48). Mắt bà sáng lên: Lạy Thầy! Tiếng rabbouni long trọng hơn “rabbi” và đặc biệt được dùng để gọi Thiên Chúa. Song Maria chưa đạt đến chỗ mà Tôma sẽ đạt tới sau khi rờ các vết thương (20, 8). Bà tràn ngập niềm vui, thế nhưng vẫn không nhận ra bản tính đích thực của Thầy. Bà nghĩ là Người đã trở lại. Ba ngày vừa qua chỉ là một cơn ác mộng ghê gớm. Sự sống có thể tiếp tục. Vì Thầy vô vàn kính yêu nay lại trở về. 

Nhưng Chúa Giêsu không phải trở về! Cuộc Khổ nạn và cái chết của người đâu bị hủy bỏ, biến thành một thứ ảo giác! Đây không phải là Người trở về, song là đến: chỉ giờ phút này ta mới có thể bảo thật rằng Chúa Giêsu đến. Xưa kia, các môn đồ đã theo Người mà không hiểu Người; họ đã hoan hô Lời Người, đã phấn chấn vì phép lạ người, đã há hốc nhìn người như nhìn một kỳ quan của thế giới. Nhưng rốt cục Người vẫn xa lạ đối với họ, như quả thật Người đã xa lạ. Không bao giờ bạn hữu Người đã đi sâu vào bản tính đích thật của Người, đến tận Cha trong Người. Họ chỉ thấy Người ngoại diện. Nhưng bây giờ, Người ở bên họ, hoàn toàn là Người. Do đấy cái mà ta gọi là cuộc trở về của người thật ra là việc Người đến (Ga 14,3.18.23; 16,16.22.27).

Đừng cầm Ta lại như thế. Maria, trong niềm vui tái ngộ, ôm chầm lấy chân Chúa Giêsu, theo kiểu đông phương. Bà muốn kéo dài những giây phút gặp gỡ này. Nhiều người dịch: “Đừng động đến Ta”, như thể Đấng Phục sinh cảm thấy bị xúc phạm vì người trần chạm tới. Vậy Tôma thì sao? … Không phải Đấng Phục sinh bị tổn thương, nhưng là đức tin của Maria Mađalêna: nếu Chúa Giêsu để bà làm, bà sẽ càng chìm sâu vào ngộ nhận … Vì Ta chưa lên cùng Cha Ta, Chúa Giêsu bảo, và tiếng này có giá trị cho bà hơn là cho Người. Đối với bà, Chúa Giêsu chưa phải là Đấng đã trở về cùng Cha.

Vì trong tư tưởng Gioan, việc sống lại không phải là một chặng trên con đường dẫn từ mồ đến nơi trú ngụ thiên quốc. Cái chết của Chúa Giêsu là thăng thiên: việc hiện ra của Đấng Phục sinh có mục đích làm cho các môn đồ hiểu rằng cái chết của Người thực ra là một cuộc thăng thiên và thăng thiên thực ra là việc Người đến với môn đồ. Maria bấu víu Người, không cho Người lên với  Cha là vô ích: Người đã ở bên chúa Cha rồi. Cử chỉ của Maria muốn kéo dài một sự hiệp thông nhân loại vô nghĩa và vô dụng. Trong tâm trí bà, Chúa Giêsu còn ở trên trần gian và đã không có việc trở về với Cha. Bởi thế Chúa Giêsu dùng những hạn từ nhân ái mà bà hiểu được và bảo với bà rằng người đang lên cùng Cha. Nhưng bà cần phải đi vào và đào sâu sự hiểu biết các biến cố ấy trong đức tin. Bà phải hiểu rằng cuộc hiện ra đây chỉ là sự biểu lộ nhất thời của một trạng huống đã thực hiện dứt khoát rồi. Chúa Giêsu ở với Cha; là hình ảnh của Cha, Chúa Giêsu cũng ở với thuộc nhân, bằng một sự hiện diện vô hình, nhưng xác thực và hữu hiệu.

Maria thấy mình được trao nhiệm vụ mang đến cho các môn đồ sứ điệp phục sinh của mọi thời: Ta lên cùng Cha Ta (từ nay trở thành) Cha các con. Có người đã muốn coi sứ điệp này là một sự phân biệt giữa tử hệ thần linh của Chúa Giêsu, Con độc nhất, với từ của các tín hữu. Nhưng chẳng ai trong Tân ước, kể cả Gioan: hồ nghi. Sự khác biệt giữa tử hệ tự nhiên của Chúa Giêsu và tử hệ ân sủng của chúng ta cả (1, 13), nên đấy không phải là nội dung chính yếu của sứ điệp trao cho Maria Mađalêna. Mục đích của nó chẳng phải là dạy các môn đồ biết họ là nghĩa tử, song là mặc khải cho họ thấy từ rày họ đích thực là con, rằng Cha Chúa Giêsu đã thực sự trở thành Cha của họ. Một khi ra đi, Chúa Giêsu làm cho Cha hiện diện sung mãn tràn đầy (14,21- 23). Vì thế mà chỉ bây giờ họ mới được ban danh hiệu “anh em”: lúc này cùng với người, họ là con của Ta, sống sự sống thần linh mà Chúa Giêsu đã trở thành nguồn mạch đầu tiên (14. 19). Tử hệ ấy được thực hiện nhờ ân sủng, dĩ nhiên ! nhưng không vì thế mà kém đích thực. Loài người cần phải được quyền trở nên con cái Thiên Chúa (1, 12), và họ phải đón nhận quyền ấy nhờ Thiên Chúa sinh lại (1, 13 ; 1Ga 3,1 -2). Sứ điệp phục sinh nhắm tới chân lý đó, nhắm tới việc thể hiện có tính cách cánh chung của phụ tính thần linh: Cha yêu loài người như yêu Con (16, 27); loài người được thâu nhận với Con vào tình yêu phụ tử của Thiên Chúa. Tử hệ của Chúa Giêsu làm cho tử hệ của loài người thành tựu. Vì Cha chỉ yêu trong Con những ai yêu Cha trong Con (16, 27).

Như thế sứ điệp phục sinh tóm kết diễn từ giã biệt và công bố sự hoàn thành của diễn từ đó. Nó cũng đồng thời loan báo rằng lời hứa Cựu ước, chứa đựng trong công thức giao ước sau đây, đã thực hiện: Các ngươi sẽ là dân Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. Bởi vì từ nay Thiên Chúa là Cha, nên giao ước đã đạt tới mức độ thể hiện cao nhất. Phụ tính của Thiên Chúa theo giao ước xưa, chỉ là lời hứa một sự hiện diện bảo vệ, cứu giúp. Từ nay đó là một sự hiện diện nội tâm, thường xuyên và hiệu lực tộ độ (Ga 14, 23 ; 1, 14 ; 2, 21- 22 ; 4, 21- 24): Giavê “Ta là” của lời hứa đã trở thành, trong Giêsu, Đấng “Ta là” vĩnh viễn (8,24-28). Thiên Chúa đã thật sự trở thành Thiên Chúa của họ, bởi vì thần tính của Ngài được thể hiện trong phụ tính của Ngài.

Vững mạnh nhờ sứ điệp nên Maria, vốn là người đầu tiên đã báo động anh em, rày có thể đi trấn an họ. Không một chữ nào về phản ứng của bà trước lời Chúa Giêsu (x.Lc 24,11- 22). Trình thuật chẳng có để mô tả trường hợp Maria Mađalêna, nhưng là để mang một sứ điệp cho mọi tín hữu. Vì thế Maria phải lập tức lên đường. Bà đã thấy Chúa.

Đối với thánh sử, thị kiến này vừa hữu hình vừa thiêng liêng. Chắc hẳn Maria đã không lãnh hội ngay tất cả ý nghĩa cuộc khám phá của mình. Trước tiên bà muốn loan báo mình đã thấy Thầy tận mắt (20,2. 1 3), nhưng đối với thánh sử, dùng lời ấy có một âm hưởng phục sinh. Các hạn từ “thấy và Chúa” nằm trong một viễn tượng Kitô giáo: đó là thấy và hiểu rằng Chúa Giêsu là Chúa phục sinh, là thấy và tin rằng từ nay Người ở với chúng ta mãi mãi, rằng Người là Con người đã đi vào  vinh quang của mình. Người sống và sống giữa chúng ta, vâng, trong chúng ta Maria Mađalêna đã “thấy” và đó là điều quan trọng: nhung chính những lời của Chúa mới gán cho việc hiện ra tất cả tầm mức, ý nghĩa của nó. (Xin xem tiếp bài sau).

(H. Van den Bussche, Jean. Paris, DDB, 1967. Tr. 540-549. )

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô chắc hẳn là điểm mà đức tin ta thường vấp phải. Lời Chúa hôm nay soi chiếu ta về ba thái độ giải thích việc ta gặp khó khăn trong niềm tin.

1. Ai tin vào Người thì được lãnh ơn tha tội nhờ Danh Người (bài đọc 1 : Cv 10, 34a.37- 43). Nếu ta không tin bằng một niềm tin thay đổi cả đời ta, có lẽ vì ta chưa chịu nhìn nhận mình là tội nhân, và vì đó cảm thấy không cần được cứu độ. Thế mà quá trình của cuộc Vượt qua – được thực hiện ngày hôm nay – là như sau: nhìn nhận mình là tội nhân, chấp nhận việc được cứu độ nhờ một Đấng khác, nhờ Người ta được ơn tha tội, là ơn cứu độ tuyệt hảo.

2. Lòng trí hãy hướng về những điều trên cao, đừng hướng về những điều dưới đất (bài đọc 2: Cl 3, 1- 4). Ta bị dính chặt vào những điều khả giác, mắt thảy tai nghe, vào kỹ thuật máy móc, năng suất. Các thực thể vô hình, dù không chối bỏ, nhưng ta khó công nhận chúng là những yếu tố chi phối cuộc đời ta. Tuy nhiên ta cũng cảm nghiệm rằng một lý tưởng nào đó có thể làm cho đời thêm đẹp, một tình yêu nào đó, kín đáo nhưng chắc chắn, có thể biến đổi và tái sinh. Chìa khóa và bí quyết đời ta là chính Thiên Chúa, là tình yêu sâu đâm của Ngài đối với ta : đó. là cuộc sống đích thực của ta, cuộc sống đã được ẩn tàng nơi Thiên Chúa.

3. Lời họ chưa hiểu lời Kinh Thánh (bài Tin mừng). Lời Chúa vẫn còn làm họ chưng hứng. Nhưng kể từ các sứ đồ, nhờ chứng tá của họ, qua sứ điệp của Giáo Hội được lưu truyền từ đời này sang đời khác, năng lực của Lời Chúa đã được chuyển đến cho ta. Sau cùng, chính Chúa Giêsu, Lời hằng sống của Thiên Chúa, mà ta phải quy chiếu; chính Lời Người mà ta phải xác tín: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống”.

Ước gì Giáo Hội, là người đã dạy ta nói lúc hãy còn thơ ấu:  tôi tin xác loài người ngày sau sống lại “, hôm nay cũng giúp ta nói lại điều đó qua kinh Tin Kính ta sắp đọc.

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt


Tôma - Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Một phần nào đó, tất cả chúng ta đều giống Tôma. Thực vậy, chúng ta chỉ tin một khi đã thấy. Tinh thần khoa học ngày nay làm cho chúng ta đặt lại tất tất cả các vấn đề. Chúng ta phê bình, chúng ta phân tích, chúng ta thí nghiệm, chúng ta kiểm chứng trước khi ưng thuận.

Rồi từ đó chúng ta bước sang lãnh vực đức tin. Chúng ta đòi hỏi đức tin phải có những lý lẽ hợp lý, xác thực như những sự kiện của khoa học. Vì thế, những chân lý mạc khải, đối với chúng ta thật khó mà chấp nhận.

Tuy nhiên, để khỏi lầm lẫn tai hại, chúng ta cần phải xác định: đối tượng của đức tin không phải là đối tượng của khoa học. Phạm vi của khoa học là vật chất, cho nên nó đòi hỏi những sự vật cụ thể, khả dĩ có thể thực nghiệm được. Còn phạm vi của đức tin là siêu nhiên, cho nên nó đòi hỏi những chân lý khả dĩ đem lại cho con người sự giải thoát. Và những chân lý ấy phải được dựa trên uy quyền và lời chứng của Đức Kitô. Khoa học chỉ có thể biến đổi cái thế giới vật chất bên ngoài, nhưng đức tin sẽ biến đổi cái thế giới tâm linh bên trong của mỗi người chúng ta.

Chúng ta thấy khi Chúa hiện đến, Tôma liền nhận ra Ngài và quỳ gối xuống tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Tất cả mọi nghi ngờ đều tan biến. Tôma chấp nhận toàn bộ thực tế và nhìn nhận Đức Kitô, người đã chết mà nay lại đang sống. Ông không cần sờ vào vết thương của Ngài, chỉ sự hiện diện của Ngài, một sự hiện diện đầy yêu thương và uy quyền đã củng cố niềm tin và thay đổi hẳn con người Tôma.

Và như thế, chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá, đó là trong phạm vi đức tin, chúng ta cần tìm tòi, cần đào sâu để có được một đức tin kiên vững. Đó mới chỉ là bước thứ nhất. Bởi vì có đức tin mà thôi chưa đủ, điều quan trọng hơn là phải sống đức tin. Hay nói một cách khác liệu đức tin có đủ mạnh để làm chuyển biến cuộc đời, cũng như đổi thay chính con người chúng ta hay không?

Muốn được như thế, không gì hơn là hãy sống gắn bó và tiếp xúc thân mật với Đức Kitô. Sự tiếp xúc này, ngày xưa đã biến đổi các môn đệ từ những người u mê dốt nát, hèn nhát và sợ sệt trở thành những người thông suốt giáo lý Tin Mừng và nhất là can đảm loan truyền và làm chứng cho Tin Mừng đó. Lạy Đức Kitô phục sinh, xin hãy biến đổi và uốn nắn con người chúng con.


Tin vào Chúa sống lại - Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Đoạn Tin Mừng hôm nay kể lại hai lần Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra cách nhau vừa đúng một tuần.

Lần thứ nhất Ngài hiện ra với nhóm các môn đệ đang run sợ trong một căn phòng đóng kín. Ngài đã cầu chúc bình an, còn các ông thì vui mừng khi gặp lại Ngài. Chúa Giêsu hiện ra không phải chỉ để đem lại cho các ông niềm vui mừng và an ủi sau những giờ phút kinh hoàng của cuộc thương khó. Nhưng hơn thế nữa, Ngài còn muốn mời gọi các ông tham dự vào sự biến đổi sâu xa nơi bản thân Ngài. Hay nói cách khác, Ngài muốn đưa các ông đi vào mối quan hệ với chính Ngài. Các ông đã biết Ngài trong cuộc sống thân xác, nhưng cuộc sống ấy đã qua bởi vì Ngài đã sống lại, đã được đổi mới trong Thánh Thần cho một cuộc sống mới, trong một cuộc sáng tạo mới.

Đúng thế, khi tạo dựng Adong nguyên tổ loài người, Thiên Chúa đã hà hơi ban sinh khí thì nay vào ngày đầu tiên của công cuộc tạo dựng mới, Đức Kitô Phục sinh cũng đã hà hơi trên các môn đệ đang như chết cóng vì hợ hãi, để ban cho các ông sinh khí mới là Thánh thần. Chính nguồn sinh khí mới này sẽ đem lại cho các ông quyền tha tội, mà trước đây chỉ dành cho một mình Chúa Giêsu. Các con hãy chịu lấy Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Như thế, chúng ta thấy: Chúa Thánh Thần và quyền tha tội được nối kết chặt chẽ với nhau, vì mục đích chính yếu của Chúa Thánh Thần là tẩy luyện, là đổi mới. Tiếp đến các ông được Chúa sai đi, hầu tham dự vào công cuộc tẩy luyện và đổi mới trần gian. Trước kia, khi Chúa Giêsu còn ở với các ông, các ông có thể sống ỷ lại và tầm thường, nhưng giờ đây thì không được nữa, bởi vì các ông đã lãnh nhận một sứ mạng lớn lao: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. VÌ thế các ông tiếp nối chính sứ mạng được sai đi của Chúa Giêsu. Các ông sẽ lên đường và làm chứng về Ngài cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.

Lần thứ hai Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, trong đó có cả Tôma một người vốn cứng lòng. Và chúng ta thấy Tôma đã tuyên xưng đức tin của mình sau khi đã nhìn thấy những vết thương nơi tay chân và trái tim của Chúa. Từ đó, Ngài mời gọi các ông hãy có lấy một lòng tin mới. Từ nay lòng tin sẽ không còn đặt nền tảng trên giác quan, mà là trên chứng từ của những người đã thấy. Chính với lòng tin này mà người Kitô hữu được kết hiệp mật thiết với Đức Kitô Phục sinh.

Ngày nay, Giáo Hội nói chung và mỗi người tín hữu nói riêng cũng sẽ tiếp nối sứ mạng được sai đi mà ngày xưa Ngài đã trao cho các môn đệ. Chúng ta được sai đi để rao tỉang sự sống lại, để xây dựng một quan hệ mới giữa con người với con người. Con người tội lỗi, thuộc thế giới cũ, bị đặt dưới quyền lực của sự chết và bị coi như thù địch. Trong khi đó, con người phục sinh với cuộc sống mới, phải đối xử với nhau như anh em phải yêu thương và đùm bọc lấy nhau. Thực hiện được sứ mạng sai đi như thế, là chúng ta đã chu toàn được điều Đức Kitô Phục sinh nhắn gởi đến mỗi người chúng ta.


GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH - Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra. Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian. Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người. Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới. Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài. Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo. Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài. Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài. Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian. Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya. Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng. Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày. Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối. Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt. Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định. Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.. Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá. Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa. Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi. Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con”. Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo. Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình. Rồi Thần LinhChúa bay là là trên mặt nước. Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình. Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần. Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến. Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ. Các môn đệ tuyệt vọng. Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường. Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy. Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi. Đức Kitô là linh hồn của họ. Linh hồn đã ra đi. Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó. Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bât chấp trời đã tối đen. Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh. Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”.

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ. Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng. Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”.

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta. Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên. Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời. Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú me. Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách. Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ. Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường. Người ở bên ngững cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người. Hãy khao khát đón chờ Người. Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người. Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.


Đấng Phục Sinh đang ở giữa chúng ta - Chúa Nhật 2 Phục Sinh

Suy niệm của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta đã long trọng mừng lễ Phục Sinh. Mọi ồn ào của những cuộc kiệu rước đã lắng xuống. Những bận rộn của Tuần Thánh cũng đã đi qua. Đối với nhiều người, Tuần Thánh và lễ Phục Sinh giống như những ngày lễ hội mỗi năm tổ chức một lần, lễ xong là hết. Điều còn lại có thể chỉ là những lời bình phẩm về cách tổ chức lễ năm nay có gì hơn hay kém năm ngoái. Để tránh lối suy nghĩ lệch lạc đó nơi các tín hữu, Phụng vụ hôm nay khẳng định với chúng ta rằng Chúa phục sinh đang hiện diện trong cộng đoàn các tín hữu. Người hiện diện như mối dây liên kết chúng ta nên một trong tình bác ái và sự chia sẻ nâng đỡ lẫn nhau. Hình ảnh cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem là lời mời gọi chúng ta hãy noi gương mà sống xứng đáng với danh nghĩa những môn đệ Chúa Kitô (Bài đọc I). Nếu các tín hữu có thể coi mọi sự là của chung và chuyên cần tham dự bẻ bánh, siêng năng cầu nguyện và nhiệt thành thực thi bác ái là vì họ tin Chúa Giêsu phục sinh đang ở giữa họ và chứng kiến những điều tốt lành họ đang làm.

Tuy vậy, vấn đề người chết sống lại, xưa cũng như nay, được coi là một câu chuyện hoang đường, không thể chấp nhận. Ngay như các môn đệ là những người đã cùng sống với Chúa và đã được nghe Người tiên báo về sự phục sinh, mà các ông còn chưa dễ dàng tin vào sự kiện này. Thánh Máccô ghi lại sự nghi ngờ đến mức cứng lòng của các ông: Khi bà Maria Mácđala kể với các ông là bà đã gặp Chúa phục sinh, các ông cũng không tin. Các ông cũng không tin khi hai môn đệ từ Emmau trở về quả quyết đã gặp Chúa (x. Mc 16, 9-13).

Lời Chúa hôm nay dẫn chứng một nhân vật cụ thể nữa, đó là Tôma. Ông không có mặt khi Chúa hiện ra với các môn đệ. Điều các bạn kể lại không thể thuyết phục ông chấp nhận một điều “ngược đời”. Dấu đinh ở tay, vết thương ở cạnh sườn Chúa… là những điều ông đã chứng kiến như bằng cớ của việc Chúa Giêsu đã chết. Đối với ông, việc được xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn bị đâm thủng là bằng chúng xác thực về việc Chúa sống lại. Thực ra, Tôma không thách thức Chúa, ông chỉ cần bằng chứng thiết thực để ông tin.

Chúa Giêsu đã đáp trả những điều kiện Tôma đã đưa ra. Tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa đã hiện đến với các ông với những thương tích trên thân thể Người. Nếu trước đây Tôma đã ra điều kiện để tin, thì nay Chúa mời ông thực hiện những điều ấy. Ông chẳng còn lòng dạ nào mà xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Đúng hơn, ông chẳng cần làm những điều đó, vì Chúa đang ở trước mặt ông bằng xương bằng thịt và đang nói với ông: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Qua lời nói với Tôma, Chúa Giêsu phục sinh muốn gửi đến cho chúng ta một thông điệp: “Phúc thay những người không thấy mà tin.” Thông điệp ấy vẫn có giá trị đến ngày hôm nay. Là những tín hữu, chưa ai trong chúng ta được thấy Chúa trực tiếp. Chúng ta chỉ cảm nhận Chúa bằng Đức tin. Con tim và lý trí mách bảo chúng ta Chúa đang hiện diện và những ai tin vào Người thì sẽ không phải thất vọng. “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.

Trong trình thuật của mình, thánh sử Gioan hai lần nói đến chi tiết “các cửa đều đóng kín,” để diễn tả Đức Giêsu phục sinh không còn bị giới hạn bởi không gian, nghĩa là Người trở nên thiêng liêng giữa thế giới của chúng ta. Cũng như Người có thể vào trong phòng khi các cửa đều đóng kín, hôm nay Người đang hiện diện nơi dung mạo và cuộc đời của những ai mang tên Người, tức là các Kitô hữu. Thánh Phêrô đã khuyên chúng ta: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của Đức tin là ơn cứu độ con người” (Bài đọc II)

Chúa Giêsu phục sinh hôm nay đang hiện diện cách huyền nhiệm nơi cuộc đời này. Sự hiện diện của Chúa có thể được chứng tỏ qua đời sống đạo đức yêu thương của các tín hữu. Xin cho mỗi chúng ta biết nhận ra Người đang sống giữa chúng ta để hăng hái nhiệt thành làm chứng cho Người. “Đức tin là sự tin tưởng sống động và táo bạo vào ơn Chúa, chắc chắn và vững bền tới mức một người có thể cược cả đời mình cho nó hàng nghìn lần” (Sưu tầm).


Đường Emmaus - Chúa Nhật 3 Phục Sinh

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đường Emmaus thật lạ kỳ. Cùng một con đường, cùng một buổi chiều mà hai môn đệ đi lại hai lần, mỗi lần lại mỗi dáng vẻ hoàn toàn khác nhau. Khi đi thì đường xa vời vợi, mãi không thấy đến. Lúc về thì sao chóng vánh, chưa đi đã đến. Khi đi thì ảo não u sầu. Lúc về lại phấn khởi hân hoan. Khi đi trời còn sáng mà tưởng như đi trong đêm đen. Lúc về trời đã tối mịt mà tưởng đi giữa ban ngày. Khi đi tuyệt vọng chán chường. Lúc về tràn đầy hi vọng. Chắc hẳn ai cũng hiểu, lúc về có kết quả tốt đẹp như thế là vì hai môn đệ đã gặp được Chúa Kitô Phục Sinh. Chính Chúa Kitô Phục Sinh làm nên khác biệt. Gặp Chúa Kitô Phục Sinh là bí quyết giúp thay đổi cuộc đời, giúp cuộc đời có ý nghĩa, có niềm vui, có hi vọng và có lẽ sống.

Nhưng làm thế nào để gặp được Chúa Kitô Phục Sinh? Thực ra sau khi phục sinh, Chúa không còn bị giới hạn trong không gian. Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa ở ngay bên ta. Nhưng ta không thấy được Ngài và có khi thấy nhưng không nhận ra Ngài. Muốn gặp Ngài và nhận ra Ngài, ta hãy học hỏi bí quyết của hai môn đệ Emmaus: bí quyết đó là xây dựng những cộng đoàn chia sẻ.

Trước hết là chia sẻ Lời Chúa. Hai môn đệ không đi một mình nhưng lúc nào cũng bên nhau. Hai môn đệ không nói chuyện vu vơ, nhưng cùng nhau nhớ đến Chúa, nói chuyện về Chúa, chia sẻ tâm tư về Chúa. Các ngài đã thực hành Lời Chúa: “Ở đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thày thì Thày ở giữa họ”. Chúa đã thực hiện lời hứa nên đã đến đồng hành với các môn đệ. Hơn nữa, Chúa còn chia sẻ Lời Chúa giúp các ngài hiểu biết và yêu mến Lời Chúa.

Tiếp đến là chia sẻ bác ái. Chúa giả vờ muốn đi xa hơn. Nhưng các môn đệ van nài: “Xin ở lại với chúng tôi vì trời đã chiều và ngày sắp tàn”. Thật cảm động khi lỡ đường mà được mời chia sẻ một mái nhà, dù chỉ là quán trọ. Và chia sẻ một bữa ăn dù đơn sơ đạm bạc. Nếu các môn đệ không có lòng bác ái chia sẻ như thế, có lẽ Chúa đã bỏ đi. Cảm động trước tấm lòng chia sẻ chân thành nên Chúa đã ở lại. Các môn đệ đã thực hành Lời Chúa: “Mỗi lần các con làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40). Nhờ chia sẻ bác ái, các ngài đã được gặp Chúa. Và chính Chúa đã ở lại để chia sẻ tâm tình với các ngài.

Sau cùng là chia sẻ Thánh Thể. Ngồi vào bàn, Chúa Giêsu “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”. Đúng như cử chỉ Chúa làm khi lập phép bí tích Thánh Thể. Mắt các môn đệ mở ra và nhận ra Chúa. Phép Thánh Thể cho các ngài bảo chứng về sự hiện diện của Chúa. Phép Thánh Thể ban cho các ngài niềm vui được gặp gỡ Chúa. Phép Thánh Thể ban cho các ngài sức sống mới để tiếp tục xây dựng các cộng đoàn chia sẻ rộng lớn hơn. Từ đó nhân lên các cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa, chia sẻ bác ái và chia sẻ Thánh Thể đi khắp thế giới.

Tôi rất vui mừng vì giáo xứ nhà thờ chính tòa chúng ta đang phấn đấu xây dựng thành một cộng đoàn theo gương các môn đệ. Cha Xứ và Anh chị em đang tích cực khuyến khích nhau học hỏi, chia sẻ và thực hành Lời Chúa, khuyến khích tổ chức các nhóm họat động từ thiện bác ái, và khuyến khích mọi người đến tham dự thánh lễ ngày càng đông đảo. Đó là dấu hiệu Chúa đang ở giữa chúng ta. Có Chúa hiện diện tôi tin chắc cộng đoàn giáo xứ chúng ta sẽ được ơn biến đổi, sẽ tràn đầy niềm vui, niềm bình an, sẽ ngày càng thêm đoàn kết yêu thương và sẽ hăng hái đi loan Tin Mừng. Xin Chúa cho con đường cộng đoàn chúng ta đang đi trở nên con đường Emmaus, khi đi dù có khó khăn vất vả, nhưng với sự phấn đấu ta sẽ gặp Chúa và đường về sẽ tràn ngập niềm vui.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh xin cho chúng con được sống lại thật về phần linh hồn. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Có những cuộc gặp gỡ đốt nóng lên ngọn lửa yêu mến, hăng hái nhiệt tình trong tâm hồn. Bạn có kinh nghiệm này bao giờ chưa?

2) Gặp Chúa Giêsu đã biến các môn đệ thành những con người khác hẳn. Bạn có mong ước được gặp Chúa để thay đổi cuộc đời không?

3) Để sống tinh thần chia sẻ, bạn phải làm gì?


Đường hy vọng - Chúa Nhật 3 Phục Sinh

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Bài Tin Mừng hôm nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hia ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Chúa Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất Người Thầy yêu quí. Sầu vì giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.

Những giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.

Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1) Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đã công nhận Người là một “Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói”. Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đã phục sinh, về kể lại cho các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông “Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy”. Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2) Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.

Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Chúa Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu. Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3) Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra ChúaGiêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Hết còn những bàn tin bán nghi. Hết còn những hoang lo lắng. Hết còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mị đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.

Hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng vì luôn có Chúa ở bên con.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa Giêsu đã chiếu soi các môn đệ Emmaus bằng những ánh sáng nào?

2) Có khi nào đang buồn, bạn cảm nhận được niềm vui vì gặp Chúa không?

3) Bạn đọc Kinh Thánh thế nào? Tìm kiến thức hay tìm Chúa?

4) Khi tham dự Thánh Lễ, bạn có cảm nhận mãnh liệt sự hiện diện của Chúa trong phép Mình Thánh không?


Mời Ông ở lại với chúng tôi - Chúa Nhật 3 Phục Sinh

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Dưới dáng dấp một người khách lạ, Chúa Giêsu phục sinh đến với hai môn đệ Emmau. Ngài đến đúng lúc, đúng lúc họ đang bỏ cuộc, quay quắt và ray rứt vì chuyện đã qua. Ngài đi cùng với họ, đi gần bên họ, khiêm tốn trở thành một người bạn đồng hành. Ngài gợi chuyện, hay đúng hơn, Ngài muốn tham dự vào câu chuyện dở dang của họ.

Chúa Giêsu không nản lòng trước câu trả lời lạnh nhạt: “Chắc chỉ có ông mới không biết chuyện vừa xảy ra…”. Ngài không cắt đứt cuộc đối thoại: “Chuyện gì vậy?” Ngài giả vờ không biết để họ nói cho vơi nỗi buồn. Chúa Giêsu kiên nhẫn lắng nghe lời họ tâm sự. “Trước đây, chúng tôi hy vọng rằng…” Như thế niềm hy vọng này chỉ còn là chuyện quá khứ. Cả niềm tin cũng trở nên chai lì, họ đâu có tin vào lời của các bà ra thăm mộ.

Khi lắng nghe, Chúa Giêsu nhận ra cái gút của vấn đề, những câu hỏi mà họ không tìm ra lời giải đáp. Tại sao một người của Chúa, người mà họ tin là Đức Kitô lại bị đóng đinh như một kẻ bị Thiên Chúa chúc dữ?

Chúa Giêsu vén mở ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ. Đau khổ là nhịp cầu mà Đức Kitô phải vượt qua để sang bờ bên kia là vinh quang bất diệt. Đau khổ không phải là chuyện xui xẻo, rủi ro, nhưng nó có chỗ đứng trong chương trình cứu độ.

Lời của Chúa Giêsu là Tin Mừng ngọt ngào, khiến nỗi đau của họ dịu đi, lòng họ như ấm lại.

Họ cố nài ép Ngài ở lại dùng bữa chiều. Và chính lúc Ngài cầm bánh bẻ ra trao cho họ thì họ nhận ra vị khách lạ chính là Thầy Giêsu.

Kinh nghiệm của hai môn đệ Emmau cũng là của chúng ta. Lúc ta tưởng Ngài vắng mặt, thì Ngài lại đang ở gần bên. Lúc ta nhận ra Ngài ở gần bên, thì Ngài lại biến mất rồi. Nhưng chính lúc Ngài biến mất, ta lại cảm nghiệm sâu hơn sự hiện diện của Ngài.

Ngài đến lúc ta không ngờ. Ngài đi mà ta không giữ lại được. Ngài ở lại với ta cả khi ta không thấy Ngài nữa.

Đấng Phục Sinh vẫn đến với ta hôm nay qua một người bạn hay một người lạ ta gặp tình cờ. Qua họ, Ngài thổi vào lòng ta niềm hy vọng tin yêu.

Ngài vẫn đến với ta qua từng thánh lễ. Ngài đích thân giảng Tin Mừng và bẻ bánh trao cho ta.

Sống như Chúa phục sinh là tập đến với tha nhân, tập đồng hành, tập gợi ý, tập lắng nghe, tập soi sáng…

Hôm nay vẫn có nhiều người bạn đang lê gót về Emmau.

Gợi Ý Chia Sẻ

Cầu Nguyện

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa. Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ. Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần được thêm sức mạnh để khỏi ngừng lại dọc đường.

Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời. Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.

Xin ở lại với con vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn.


Một Thiên Chúa đồng hành với con người - Chúa Nhật 3 Phục Sinh

ĐGM. Cosma Hoàng Văn Đạt

Trong hành trình cuộc sống, nhiều khi chúng ta tự hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Người tín hưũ đôi khi cũng bị người khác hỏi: Thiên Chúa bạn ở đâu? Bài Tin Mừng về Chúa Giêsu phục sinh đồng hành với 2 môn đệ đi Emmau giúp chúng ta trả lời được những thắc mắc như vậy.

Hai môn đệ ở trong hoàn cảnh “mộng vàng tan mây, nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài” như cha Thành Tâm diễn tả. Lúc ấy hẳn là họ nghĩ Thiên Chúa ở nơi đâu hết sức cao xa. Nhưng thật ra Chúa Giêsu phục sinh đang đồng hành với họ mà họ chưa nhận ra ngay. Trên đường, Chúa cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ, khiến lòng họ nóng lên. Lúc đồng bàn, Chúa bẻ bánh trao cho họ, khiến họ nhận ra Chúa. Từ chỗ hoang mang bỏ Giêrusalem ra đi, họ vui mừng quay trở lại Giêrusalem với anh em. Hôm nay Chúa Giêsu phục sinh vẫn đồng hành với chúng ta như vậy.

Và Chúa cũng muốn đồng hành với con người thời nay như vậy. Có người không biết tại sao mình có mặt trên đời để. Có người đau khổ vì bệnh tật hay vì ác tâm của người đời. Có người buồn sầu vì những mất mát… Chúa muốn đồng hành với họ, soi sáng họ, dẫn đưa họ vào con đường Chúa đã đi để đến nơi Chúa đã đến. Chúa thực hiện điều ấy qua các môn đệ của Chúa. Tôi phải đóng vai của Chúa Giêsu phục sinh đối với người này, bạn phải đóng vai Chúa Giêsu phục snh đối với người kia. Chúng ta trở thành Chúa Giêsu phục sinh cho nhau.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin Chúa ở lại với chúng con, để chúng con vượt qua những hoang mang trong cuộc sống, đạt gới niềm vui, nhờ đó chúng con cũng có thể giúp anh em như vậy trong cuộc sống của họ.


Chúa Phục Sinh Trao Ban Thần Khí - CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

I.HỌC LỜI CHÚA

1.TIN MỪNG: Ga 20,19-23

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !”. (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”.(22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.

2.Ý CHÍNH:

Chúa Giê-su Phục Sinh hiện đến mang lại cho các môn đệ sự bình an (c 19) và niềm vui (c 20). Sau đó Người sai các ông đi (c 21a), giống như Chúa Cha đã sai Người (c 21b). Cuối cùng, để giúp các ông chu toàn sứ mạng, Người đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông (c 22), nhờ quyền năng Thánh Thần, các ông sẽ tha hay cầm giữ tội của người ta tùy theo họ tin hay không tin lời rao giảng của các ông (c 23).

3.CHÚ THÍCH:

– C 19-20: + Vào chiều ngày ấy, ngày thứ Nhất trong tuần: Theo sách Sáng Thế, ngày thứ Nhất là ngày sau ngày Sa-bát. Từ nay, ngày thứ Nhất được gọi là Chúa Nhật nghĩa là Ngày của Chúa để kỷ niệm mầu nhiệm Chúa Phục Sinh và các Ki-tô hữu có bổn phận hội họp nhau lại cử hành nghi thức Bẻ Bánh. + Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái: Lý do cửa đóng then cài, là vì các ông bị hoang mang giao động. Các ông sợ người Do thái sẽ đến bắt bớ các ông như họ đã bắt Thầy các ông.+ Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông: Điều này cho thấy thân xác Chúa Phục Sinh không còn bị giới hạn trong không gian và thời gian như khi Người còn đang sống. +”Bình an cho anh em !”: Trong bữa Tiệc ly trước khi nộp mình chịu chết, Đức Giê-su đã hứa ban bình an cho môn đệ (x. Ga 14,27), và động viên các ông can đảm đương đầu với những thử thách sắp đến (x. Ga 16,33). Giờ đây sau khi sống lại, Người đã thực hiện lời hứa ấy bằng việc hai lần chúc bình an cho các ông (x. Ga 20,19.21). + Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Chúa Giê-su cho môn đệ xem các dấu đinh đã bị đinh đóng xuyên thủng nơi hai bàn tay (x. Ga 19,23) và vết thương bị lưỡi đòng đâm thâu ở cạnh sườn (x. Ga 19,34). Điều này chứng tỏ thân xác Chúa Phục Sinh cũng chính là thân xác Người đã từng chịu khổ nạn trước đó.

-C 21-23: + Như Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em: Việc hiện ra và sai các môn đệ ngay sau khi sống lại, cho thấy mầu nhiệm Phục Sinh là nền tảng của ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin mừng của Hội thánh. Như Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai xuống trần gian, thì giờ đây, sau khi phục sinh và được Chúa Cha siêu tôn làm “Chúa” (x. Pl 2,11) và được trao toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28,18), Người lại sai các môn đệ ra đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người (x. Mt 28,19), và làm chứng nhân cho Người (x. Cv 1,8). + Người thở hơi vào các ông và nói: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần: Xưa khi sáng tạo lòai người, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào hình nhân bằng đất sét, để hắn trở thành một người sống động là ông A-dam (x St 2,7). Thì nay, Chúa Phục Sinh cũng thổi Thần Khí để biến đổi các môn đệ nên người mới, đầy ân sủng sự sống của Thánh Thần. Tuy nhiên ngay lúc này các ông chưa đón nhận được ơn Thánh Thần, vì còn thiếu đức tin. Vì thế Chúa Phục Sinh đã phải hiện ra nhiều lần và dùng nhiều cách để tăng cường đức tin cho các ông. Chờ đến lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần được ban trước đó mới phát huy tác dụng trên các ông (x. Cv 2,1-4). + Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ: Đức Giê-su đã được Gio-an Tẩy giả giới thiệu là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Sứ mạng của Người là tẩy xóa tội lỗi loài người bằng việc ban ơn tha thứ cho những tội nhân thực lòng sám hối và biết đặt trọn niềm tin nơi Người (x Lc 23,40-43). Giờ đây các môn đệ cũng được Người trao quyền tha tội trong quyền năng Thánh Thần.

4.CÂU HỎI:

1) Tại sao Chúa Giê-su cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn Người sau khi sống lại ?

2) Người dã sai các ông đi rao giảng Tin mừng khi nào ?

3) Đức Giê-su đã làm gì để ban Thánh Thần cho các môn đệ ?

4) Các ông đã nhận được ơn Thánh Thần vào lúc nào? Nhưng các ông chỉ được Thánh Thần tác động thực sự khi nào ? Tại sao ?

5) Chúa Phục Sinh đã ban quyền tha tội và cầm buộc cho các môn đệ qua câu nói nào ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1.LỜI CHÚA: “Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ tội ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).

2.CÂU CHUYỆN: THÁNH THẦN TÁC ĐỘNG TRONG CÁC TÍN HỮU:

Trên một toa tàu chợ phát xuất từ thành phố Can-quýt-ta Ấn Độ, giữa đám hành khách nghèo khổ đang ngồi la liệt trên sàn tàu, có một phụ nữ tay cầm tràng hạt, mắt nhắm lại và miệng lẩm bẩm đọc kinh. Người phụ nữ đó không ai khác hơn là bà Tê-rê-sa. Về sau người đời đã gọi bà bằng một cái tên thân thương: “Mẹ Tê-rê-sa thành Can-quýt-ta”. Bà là người đã sáng lập dòng Thừa sai Bác ái, với nhiệm vụ chuyên lo tìm kiếm những bệnh nhân nghèo khổ đang hấp hối gần chết và bị bỏ rơi trên các hè phố thành Can-quýt-ta. Họ thuộc giai cấp cùng đinh trong xã hội nước Ấn. Sứ mệnh của chị em nữ tu này là mang những người đó về tu viện chăm sóc và giúp họ được chết trong bình an. Về sau mẹ Tê-rê-sa đã kể lại ơn gọi ấy như sau: “Khi nhìn thấy đám người nghèo khổ kia đang nằm ngồi ngổn ngang trên sàn tàu, đột nhiên có một sức mạnh đã đổ ập xuống trên tôi, làm cho tôi tự nhiên cảm thấy họ chính là những Chúa Giê-su đang bị bỏ rơi. Tôi sẽ phải làm gì để giúp đỡ họ đây ?”. Sau đó bà đã quyết định lập một dòng nữ với sứ mệnh chuyên lo phục vụ cho những người nghèo khổ này. Rồi bà bắt tay vào việc đầu tiên là tìm mướn một căn nhà để làm nơi phục vụ cho họ, đang khi trong túi bà chỉ còn đúng ba đồng bạc Ấn ! Nhưng nhờ ơn Chúa giúp mà ngày nay dòng Thừa sai Bác ái của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã lan truyền đi khắp các nước trên thế giới. Quả thực, điều này cho thấy Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và họat động nơi mọi thành phần dân Chúa trong Hội Thánh.

3.THẢO LUẬN: 1) Phân biệt Thánh Thần và thiên thần giống và khác nhau thế nào ? 2) Ngày nay các tín hữu nhận được ơn Thánh Thần khi nào ? 3) Mỗi tín hữu hôm nay phải làm gì để được Thánh Thần tác động giống như các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần khi xưa ?

4.SUY NIỆM:

1) THÁNH THẦN LÀ ĐẤNG NÀO ?

– Về việc đầu thai của Đức Giê-su: Hội Thánh tuyên xưng đức tin như sau: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh” (x. Lc 1,35). Chính nhờ quyền năng Thánh Thần, Trinh Nữ Ma-ri-a đã thụ thai Hài Nhi Giê-su mà vẫn còn trinh khiết vẹn toàn.

– Khi Đức Giê-su bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin mừng: Người đã đến xin chịu phép Rửa của Gio-an tại sông Gio-đan. Vừa chịu phép Rửa xong, Thánh Thần lấy hình chim bồ câu từ trời ngự xuống và lưu lại trên Người (x. Mt 3,16b). Sau đó, Thánh Thần đã hướng dẫn Người vào sa mạc ăn chay cầu nguyện và chịu thử thách cám dỗ. Chính nhờ sức mạnh của Thánh Thần mà Đức Giê-su đã chiến thắng ba cơn cám dỗ của ma quỷ (x. Mt 4,1-10).

– Trong quyền năng của Thánh Thần, Người đi rao giảng Tin mừng Nước Trời: Người bắt đầu rao giảng từ Ga-li-lê (x. Lc 4,14-15). Nhờ Thánh Thần mà Người đã xua trừ ma quỷ (x. Mt 12,28) và chữa lành các bệnh họan tật nguyền trong dân (x. Mt 4,23). Khi được Thánh Thần tác động, Ngừơi đã vui mừng thốt lên lời ngợi khen Chúa Cha (x. Lc 10,21).

– Sau khi phục sinh và được đầy Thánh Thần: Đức Giê-su đã hiện ra với các môn đệ để chúc bình an (x. Ga 20,19), rồi sai các ông đi rao giảng Tin mừng (x. Ga 20,21), và tiếp tục sứ mạng của Ngừơi (x. Mt 28,19-20). Người cũng thổi hơi ban Thánh Thần để giúp các ông chu toàn sứ mạng rao giảng ấy (x. Ga 20,22). Cuối cùng, Người còn ban cho các ông quyền tha tội hay cầm giữ tội của người ta nhờ quyền năng của Thánh Thần (x. Ga 20,23).

2) VAI TRÒ CỦA CHÚA THÁNH THẦN TRONG HỘI THÁNH SƠ KHAI:

– Thánh Thần tác động trong Cộng Đoàn Hội Thánh: Sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại như sau: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi. Bỗng từ trời phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa, tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần , họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2,1-4).

– Thánh Thần biến đổi các Mục Tử của Hội Thánh: Thời sơ khai, Thánh Thần đã tác động để biến đổi các Tông đồ (x. 1 Cr 12,4-11): Từ tình trạng nhút nhát sợ hãi trở nên can đảm và công khai làm chứng cho Chúa Giê-su trước mặt đám đông (x. Cv 2,14-36); Từ tình trạng kém hiểu biết Lời Chúa, trở nên khôn ngoan, hiểu rõ mọi điều Chúa đã truyền dạy trước đó (x. Ga 16,12-13); Từ tình trạng buồn chán thất vọng và muốn thoái lui, trở nên nhiệt thành yêu mến Chúa, tràn đầy niềm vui hy vọng (x. Lc 24,32-35). Nhờ Thánh Thần mà các Tông đồ đã đón nhận nhiều tín hữu bày tỏ lòng sám hối và xin chịu phép Rửa gia nhập Hội Thánh (x. Cv 2,41).

– Thánh Thần liên kết muôn người nên một: Lúc đó tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do Thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các Tông đồ nói tiếng bản xứ của mình. Họ sửng sốt, thán phục và nói: “Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?” (Cv 2,5-8). Đã có 15 dân tộc nghe các Tông đồ rao giảng. Trái với nhân loại thời Tổ phụ Nô-e, do kiêu ngạo muốn thách thức Thiên Chúa đã hè nhau xây tháp Ba-ben, và đã chia rẽ thành nhiều dân tộc nói các thứ tiếng khác nhau (x St 11,1-9), thì hôm nay chính Thánh Thần đã hiệp nhất các dân tộc để cùng tuyên xưng một đức tin.

– Thánh Thần soi lòng mở trí giúp lương dân đón nhận chân lý: Sau bài giảng đầu tiên của Tông đồ Phê-rô, nhờ ơn Thánh Thần tác động nên đã có tới ba ngàn người đang ở tại Giê-ru-sa-lem tin theo Chúa Giê-su và đã chịu phép rửa gia nhập vào Hội Thánh (Cv 2,41). Những tín hữu này đã họp thành cộng đoàn Hội Thánh Sơ Khai.

– Thánh Thần thúc đẩy sự hiệp nhất trong Hội Thánh Sơ Khai: Cũng nhờ ơn Thánh Thần mà Cộng đoàn tín hữu đầu tiên ở Giê-ru-sa-lem đã luôn sống hiệp nhất với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng. Nhờ sự hiệp thông này mà số người xin gia nhập Hội thánh ngày một gia tăng (x. Cv 2,42-47).

3) CỘNG TÁC VỚI CHÚA THÁNH THẦN:

Mỗi người chúng ta cần cộng tác với Chúa Thánh Thần để nên thánh và góp phần cứu rỗi anh em như sau:

– Nên “Muối mặn ướp thiên hạ, Ánh sáng chiếu soi và Men trong bột”: Trong lịch sử phát triển của Hội Thánh từ xưa đến nay, xem ra Hội thánh mới chỉ phát triển được về chiều rộng hơn là chiều sâu. Biết bao Kitô hữu hiện nay mới chỉ giữ đạo theo thói quen đạo đức hình thức là siêng năng đọc kinh xưng tội rước lễ, và nghĩ làm được như thế là đủ để được ơn cứu độ, mà không quyết tâm gặp gỡ Chúa Giê-su để được ơn biến đổi nên tốt về cả về nhân bản và đức tin như Chúa Giê-su đã dạy là «Phải thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24). Chính vì thế mà Hội Thánh hiện nay đã không còn tăng triển mạnh mẽ như thời sơ khai sau khi nhận được đầy Thánh Thần. Ngày nay Hội thánh không ngừng kêu gọi mọi tín hữu hãy ăn năn sám hối, canh tân nếp sống đạo nhờ ơn phù trợ của Thánh Thần, để trở thành “Muối cho đời; Ánh sáng cho trần gian” (x. Mt 5,13-16) và “Nắm men vùi vào ba đấu bột” (x Mt 13,33).

– Để trở thành «men trong bột»: Muốn biến đổi xã hội hiện nay, Hội Thánh cần có nhiều tín hữu tốt lành, nhiệt thành yêu mến Lời Chúa và biết đem lời Chúa vào cuộc sống để trở thành “chứng nhân hơn là thầy dạy”. Vì chính những chứng nhân thực sự tốt lành mới có sức tác động đến những người chung quanh bằng lời nói và gương sáng bác ái… Nhờ đó, mỗi tín hữu chúng ta mới chu toàn được sứ mạng của mình là “làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (K Lạy Cha).

– Cầu xin ơn Thánh Thần và sẵn sàng cộng tác với Ngài: Chúa Thánh Thần luôn động viên khích lệ mỗi người chúng ta phải trở nên «Muối mặn ướp thiên hạ, ánh sáng chiếu soi và men tốt cho tha nhân” như lời Chúa Giê-su đã dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16). Tuy nhiên chúng ta chỉ làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu nhờ ơn Thánh Thần. Mỗi người hãy năng cầu xin Thánh Thần giúp mình năng đọc Lời Chúa và quyết tâm thực hành mến Chúa yêu người như nội dung kinh Hòa Bình của thánh Phan-xi-cô.

5. NGUYỆN CẦU:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Nhiều khi chúng con cảm thấy Thánh Thần xa lạ, đang khi Ngài thật là một người Bạn, người Thầy của chúng con. Ngài luôn ở bên và ở trong chúng con. Ngài cần cho đức tin của chúng con, giống như hơi thở cần cho sự sống. Chúng con chỉ có thể gọi Thiên Chúa “Áp-ba! Ba ơi !” nhờ Thánh Thần, Đấng làm cho chúng con trở nên nghĩa tử (x. Rm 8,15). Chúng con chỉ có thể gọi Đức Giê-su là “Chúa” khi chúng con ở trong Thánh Thần (x. 1 Cr 12,3). Chính nhờ có Chúa Thánh Thần hướng dẫn, chúng con mới dám cầu nguyện và mới cảm nghiệm được sự ngọt ngào của Lời Chúa Giê-su. Cũng chính nhờ Chúa Thánh Thần tác động mà Hội thánh không ngừng canh tân đổi mới.

– LẠY CHÚA PHỤC SINH, xin ban Thánh Thần như cơn gió mạnh, thổi đi mọi nỗi âu lo sợ hãi cùng những rụt rè khép kín trong tâm hồn chúng con. Xin thắp sáng ngọn lửa tin yêu trong lòng chúng con, để chúng con có thể chu toàn sứ mạng được sai đi, với một trái tim bừng cháy lửa mến yêu. Xin ban cho chúng con sự sống của Thánh Thần để chúng con luôn mến Chúa và yêu tha nhân. Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ trở thành khí cụ bình an của Chúa và tích cực góp phần vào sứ vụ loan báo Tin mừng cứu độ trần gian.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. -Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH – HHTM